THỎA THUẬN NHẰM TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ NÊN THỎA THUẬN KHÔNG HỢP PHÁP

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án NDTC

Trong tố tụng dân sự quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt là một quyền rất quan trọng của đương sự. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của đương sự không phải là một quyền tuyệt đối. Sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự chỉ hợp pháp khi nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Do không nhận thức rõ vấn đề này nên có nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ vẫn được Tòa án công nhận. Dưới đây là một ví dụ:

Vụ án “chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn là anh Ngô Văn Hợi (sinh năm 1973) và bị đơn là chị Lê Thị Thúy ( sinh năm 1977) cùng trú tại: Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Tuyết Nhung.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy kết hôn năm 1996. Trong quá trình chung sống anh Hợi và chị Thúy không có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do chị Thúy có nghĩa vụ trả tiền đối với các chị Trần Thị Lợi, Quảng Thị Thái theo các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS và 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 6/9/2011 của TAND thành phố KT (theo các quyết định này thì chị Thúy phải trả cho chị Trần Thị Lợi số tiền gốc và lãi là 60.600.000 đồng cùng 05 chỉ vàng SJC; trả cho chị Quảng Thị Thái tiền gốc và lãi là 59.150.000 đồng; tất cả trả một lần vào ngày 30/9/2011) nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Thông báo số 56/TB-CCTHA ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chia tài sản chung giữa chị Thúy và anh Hợi. Do đó, ngày 12/3/2012, anh Hợi khởi kiện ra TAND thành phố KT yêu cầu chia tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy.

Quá trình giải quyết vụ án,  anh Hợi và chị Thúy thống nhất chia tài sản chung của vợ chồng là nhà, đất tại Đinh Công Tráng, thành phố KT; đất đã được UBND thành phố KT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/8/2009 mang tên anh Hợi và chị Thúy.

Theo biên bản định giá ngày 16/7/2012, nhà và đất ở tại Đinh Công Tráng có tổng trị giá là 550.000.000 đồng (giá đất định giá theo giá thị trường).

Sau khi anh Hợi khởi kiện thì chị Thúy lại tiếp tục thỏa thuận trả nợ cho chị Lã Thị Bích Ngọc (người có đơn đề nghị giám đốc thẩm) và ngày 20/4/2012 TAND thành phố KT ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 13/2012/QĐST-DS, theo đó chị Thúy phải trả cho chị Ngọc 182.500.000 đồng kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trong vụ án chia tài sản chung theo đơn khởi kiện của anh Hợi, có một số  người sau đây có yêu cầu anh Hợi, chị Thúy trả nợ (thể hiện qua các bản tự khai): vợ chồng chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm yêu cầu  anh Hợi, chị Thúy trả số tiền 59.000.000 đồng; chị Hồ Tuyết Nhung yêu cầu chị Thúy trả số tiền 18.950.000 đồng; vợ chồng anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan yêu cầu anh Hợi, chị Thúy trả số tiền 503.440.000 đồng; chị Nguyễn Thị Linh yêu cầu chị Thúy phải trả cho chị số tiền 40.000.000 đồng . Ngày 20/8/2012, TAND thành phố KT tiến hành hòa giải, tại phiên hòa giải các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST- HNGĐ ngày 28/8/2012, TAND thành phố KT, tỉnh KT đã quyết định:

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

– Về tài sản chung: Tài sản chung của anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy gồm: 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số Y Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT nay là số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT- Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 38. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01818 do UBND thành phố KT cấp ngày 07/8/2009 mang tên ông Ngô Văn Hợi và bà Lê Thị Thúy. Trị giá 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng). Anh Ngô Văn Hợi được chia 275.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng); chị Lê Thị Thúy được chia 275.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Về các khoản nợ chung và nợ riêng:

+ Về nợ chung:

* Anh Ngô Văn Hợi, chị Lê Thị Thúy và anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan đồng ý thỏa thuận:

Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy trả cho vợ chồng anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan số tiền 503.440.000 đồng (Năm trăm lẻ ba triệu, bốn trăm  bốn mươi nghìn đồng, với hình thức trả như sau: trả bằng tài sản là 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số Y Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT nay là số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT- Thửa đất số 204, tờ bản đồ số 38. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01818 do UBND thành phố KT cấp ngày 07/8/2009 mang tên ông Ngô Văn Hợi và bà Lê Thị Thúy. Để thực hiện riêng nghĩa vụ trả nợ cho anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan và đảm bảo công tác thi hành án. Đồng thời anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan phải có trách nhiệm trả lại cho anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy số tiền chênh lệch từ việc trả bằng tài sản là: 46.560.000 đồng (bốn mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn đồng) và trả thêm 93.440.000 đồng (chín mươi ba triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng cộng: 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng) trả tiền vào ngày 28/12/2012. Sau khi anh Vinh chị Loan trả đủ số tiền trên, anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan được quyền đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với tài sản nêu trên.

* Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy trả cho vợ chồng chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm số tiền 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng)  trả vào ngày 28/12/2012.

* Anh Ngô Văn Hợi, chị Lê Thị Thúy trả cho chị Nguyễn Thị Linh số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) trả vào ngày 28/12/2012.

+ Về nợ riêng: Chị Lê Thị Thúy trả nợ cho chị Hồ Tuyết Nhung số tiền 18.950.000 đồng (Mười tám triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) trả vào ngày 28/12/2012.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 06/02/2013, các chị Quảng Thị Thái, Trần Thị Lợi, Lã Thị Bích Ngọc gửi đơn tố cáo đến TAND thành phố KT với nội dung việc thỏa thuận giữa anh Hợi, chị Thúy và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án phân chia tài sản chung là nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ các chị.

Ngày 06/02/2013, TAND thành phố KT có Công văn số 41/2013/CV-TA trả lời chị Thái, chị Lợi, chị Ngọc: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST-HNGĐ là đúng pháp luật và hướng dẫn các chị gửi đơn đến TAND tỉnh KT.

Ngày 27/11/2012, TAND tỉnh KT có các Công văn số 65/2012/CV-TLĐ, 66/2012/CV-TLĐ và 67/2012/CV-TLĐ gửi chị Lợi, chị Ngọc, chị Thái với nội dung: quan hệ vay tiền của các chị với chị Thúy đã được giải quyết bằng các quyết định khác đã có hiệu lực pháp luật; các quyết định này đã công nhận sự thỏa thuận giữa các chị với chị Thúy là chị Thúy trả nợ cho các chị với các số tiền cụ thể; các bên không thỏa thuận dùng tài sản là nhà và đất tại số X Đinh Công Tráng để đảm bảo thi hành á; do đó, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST-HNGĐ là đúng pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chị.

Đối với việc giải quyết vụ án này, chúng tôi thấy như sau:

Trong quá trình chung sống, chị Thúy nợ chị Trần Thị Lợi 57.000.000 đồng và 05 chỉ vàng SJC, nợ chị Quảng Thị Thái 56.000.000 đồng. Tại các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011 và Quyết định số 47/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011, TAND thành phố KT, tỉnh KT đã tuyên công nhận sự thỏa thuận chị Thúy trả nợ cho chị Lợi số tiền gốc là 57.000.000 đồng và tiền lãi là 3.600.000 đồng, tổng cộng là 60.600.000 đồng và 05 chỉ vàng SJC, trả một lần vào ngày 30/9/2011; chị Thúy trả nợ cho chị Thái số tiền gốc 56.000.000 đồng và tiền lãi 3.150.000 đồng, tổng cộng 59.150.000 đồng, trả một lần vào ngày 30/9/2011. Ngày12/3/2012 anh Hợi khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung giữa anh và chị Thúy.

Tại bản tự khai ngày 25/3/2012, chị Thúy khai vợ chồng có các khoản nợ chung như sau: nợ vợ chồng anh Mã Hùng Vinh, chị Đào Thị Loan số tiền 503.440.600 đồng; nợ vợ chồng anh Đỗ Văn Thắm, chị Dương Thị Hạnh số tiền 59.000.000 đồng; nợ chị Nguyễn Thị Linh số tiền 40.000.000 đồng; nợ chị Hồ Tuyết Nhung số tiền 28.500.000 đồng. Đồng thời, anh Thắm, chị Hạnh, chị Linh, anh Vinh,  chị Loan, chị Nhung yêu cầu anh Hợi, chị Thúy trả cho họ số tiền nêu trên (riêng chị Nhung xác định chị Thúy đã trả chị số tiền 10.000.000 đồng nên yêu cầu chị Thúy trả cho chị số tiền còn lại là 18.500.000 đồng).

Tại biên bản hòa giải thành ngày 20/8/2012, các bên đương sự đã thỏa thuận với nhau cụ thể:

– Về tài sản chung: tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy gồm 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT trị giá 550.000.000 đồng, anh Hợi và chị Thúy mỗi người được chia 275.000.000 đồng.

– Về nợ chung: anh Hợi, chị Thúy và anh Vinh, chị Loan đồng ý thỏa thuận: anh Hợi và chị Thúy trả cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan số tiền 503.440.000 đồng với hình thức trả như sau: Trả bằng tài sản là 01 căn nhà cấp 4, diện tích sử dụng 41,2 m2 trên diện tích đất 106 m2 tại số X Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01818 do Ủy ban nhân dân thành phố KT cấp ngày 07/8/2009 mang tên ông Hợi và bà Thúy. Đồng thời anh Vinh, chị Loan có trách nhiệm trả lại cho anh Hợi và chị Thúy số tiền chênh lệch từ việc trả bằng tài sản là: 46.560.000 đồng và trả thêm 93.440.000 đồng, tổng cộng 140.000.000 đồng, trả tiền vào ngày 28/12/2012. Sau khi anh Vinh, chị Loan trả đủ số tiền trên thì được quyền đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất đối với tài sản nêu trên.

Anh Hợi và chị Thúy trả cho vợ chồng chị Hạnh, anh Thắm số tiền 59.000.000 đồng, trả vào ngày 28/12/2012.

Anh Hợi, chị Thúy trả cho chị Linh số tiền 40.000.000 đồng, trả vào ngày 28/12/2012.

– Về nợ riêng: chị Thúy trả nợ cho chị Nhung số tiền 18.950.000 đồng, trả vào ngày 28/12/2012.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST- HNGĐ ngày 28/8/2012, TAND thành phố KT, tỉnh KT đã công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các đương sự.

Nếu như chị Thúy không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào thì việc thỏa thuận của đương sự chỉ phụ thuộc vào ý chí, sự tự nguyện của họ đối với tài sản thuộc sở hữu, sử dụng hợp pháp của họ. Trong vụ án này chị Thúy có nghĩa vụ trả nợ chị Thái, chị Lợi và nghĩa vụ trả nợ đó đã được xác định bằng quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Anh Hợi cũng biết rõ điều này và đã được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Tại đơn khởi kiện, anh Hợi cũng đã ghi rõ “Vợ tôi là cô Lê Thị Thúy nợ nần nên tôi xin chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của từng người”. Tuy nhiên, khi thỏa thuận xử lý tài sản chung vợ chồng, các bên đã thỏa thuận toàn bộ tài sản chung vợ chồng của anh Hợi, chị Thúy dùng để thanh toán cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan, vợ chồng anh Thắm, chị Hạnh, chị Nhung và chị Linh, trong đó thỏa thuận trả nợ cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan với hình thức trả bằng nhà, đất tại Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT. Nguyên nhân của việc chia tài sản chung của vợ chồng anh Hợi, chị Thúy khi quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn đang tồn tại xuất phát từ việc chị Thúy có nghĩa vụ phải thi hành án hai khoản nợ theo quyết định của Tòa án. Việc chia tài sản chung là để chị Thúy có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đó. Nhưng trên thực tế sau khi khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, vợ chồng, anh Hợi, chị Thúy đã khai ra một loạt khoản nợ khác và khi thỏa thuận giải quyết về tài sản các bên đã không đề cập gì đến nghĩa vụ trả nợ của chị Thúy theo quyết định của Tòa án. Do đó, có cơ sở khẳng định thỏa thuận này của vợ chồng anh Hợi, chị Thúy là có dấu hiệu trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ của chị Thúy đối với chị Thái, chị Lợi.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ- CP ngày 03/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Lut hôn nhân và gia đình thì theo yêu cầu của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người khác sẽ bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Khoản 2 Điều 5 BLTTDS  quy định: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

TAND thành phố KT đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa anh Hợi, chị Thúy và anh Vinh, chị Loan với hình thức toàn bộ tài sản là nhà đất tại đường Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT giao cho vợ chồng anh Vinh, chị Loan để trả nợ. Số tiền chênh lệch giữa giá trị nhà và khoản nợ, Tòa án lại công nhận thỏa thuận của các bên để thanh toán cho vợ chồng chị Hạnh, anh Thắm, thanh toán cho chị Vinh, chị Nhung và chị Linh trong khi Tòa án chưa thu thập các chứng cứ làm rõ các khoản nợ này có thật hay không là không đúng (trừ khoản nợ 203.440.600 đồng của vợ chồng anh Vinh, chị Loan thì trong hồ sơ có giấy nộp tiền ngày 04/01/2012 tại Ngân hàng Công thương Việt Nam, chi nhánh KT thể hiện chị Loan đã nộp 203.440.600 đồng vào tài khoản của chị Thúy, giấy nộp tiền này phù hợp với giấy vay tiền ngày 04/1/2012 do vợ chồng chị Loan cung cấp). Đồng thời, ngày 12/4/2012 Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Công văn số 125/CCTHA đề nghị TAND thành phố KT phối hợp giải quyết việc thi hành án với nội dung: “Để đảm bảo công tác thi hành án được thuận lợi, tránh đương sự tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT làm văn bản này đề nghị TAND thành phố KT khi giải quyết việc phân chia tài sản chung đối với vợ chồng bà Lê Thị Thúy và ông Ngô Văn Hợi trên cơ sở xem xét việc bà Thúy đang thực hiện nghĩa vụ phải thi hành án”. Tuy nhiên, khi giải quyết TAND thành phố KT vẫn công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các bên mà không đề cập đến quyền lợi của chị Lợi, chị Thái đã được TAND thành phố KT ghi trong các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011 và Quyết định số 47/2011/QĐST-DS ngày 6/9/2011 trước đó là không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của chị Lợi, chị Thái.

Đối với trường hợp của chị Lã Thị Bích Ngọc thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của chị Ngọc và chị Thúy sau ngày anh Hợi khởi kiện chia tài sản chung. Tuy nhiên, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa chị Ngọc và chị Thúy có hiệu lực từ ngày 20/4/2012 nhưng đến ngày 28/8/2012 vợ chồng anh Hợi, chị Thúy mới thỏa thuận trả nợ cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2012/QĐST- HNGĐ nên Quyết định công nhận phân chia tài sản chung của vợ chồng số 111/2012/QĐST-DS ngày 28/8/2012 nói trên cũng đã ảnh hưởng đến cả quyền lợi của chị Ngọc. Do đó, nếu vụ án được xét xử lại thì cần phải xem xét đến việc chị Thúy đang có nghĩa vụ trả nợ đối với chị Thái, chị Lợi và chị Ngọc. Trên cơ sở thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, làm rõ nghĩa vụ trả nợ chung, trả nợ riêng và tình hình tài sản của vợ chồng để xử lý phù hợp với chứng cứ và quy định của pháp luật.

Về mặt tố tụng: Theo quy định tại Điều 178 BLTTDS thì thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của BLTTDS về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là vợ chồng chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, vợ chồng chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Thị Tuyết Nhung phải có đơn yêu cầu và xuất trình các chứng cứ cơ bản chứng minh là vợ chồng anh Hợi, chị Thúy có nợ chung hoặc nợ riêng với mình; đồng thời phải nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu độc lập của mình thì Tòa án mới xem xét, giải quyết. Dù những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên không nộp tiền tạm ứng án phí, không có đơn yêu cầu giải quyết mà chỉ dựa trên lời khai của vợ chồng chị Thúy, anh Hợi và sau đó Tòa án lấy lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng chưa thu thập, kiểm tra chứng cứ, tài liệu để xác định các khoản nợ này có thật hay không mà đã quyết định công nhận thỏa thuận của các bên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TRA CỨU BÀI VIẾT CÙNG TÁC GIẢ TẠI ĐÂY

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: