Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

LUẬT TỤC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ TỘC NGƯỜI Ở TÂY BẮC VÀ TÂY NGUYÊN

THS. HOÀNG VĂN QUYNH – ĐẠI HỌC KHXH&NV, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã được các tộc người quan tâm chú ý từ rất lâu. Để bảo vệ, khai thác và quản lý vấn đề này, họ đã tạo ra những thế ứng xử hài hoà giữa con người và thế giới tự nhiên. Đó là những nguyên tắc, cách ứng xử được áp dụng trong cuộc sống của các dân tộc thiểu số nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên và bảo tồn sự hài hòa giữa con người và thế giới tự nhiên. Các tộc người đều có những biện pháp bảo vệ môi trường riêng của mình, mà một trong những biện pháp được coi là có hiệu quả nhất chính là các điều khoản của luật tục dân gian đã tồn tại hàng ngàn đời nay.

1. Khái niệm luật tục

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu, luật tục là những phương ngôn, ngạn ngữ diễn đạt bằng lời nói có vần điệu, chứa đựng các quy tắc xử sự, thể hiện, phản ánh quy chuẩn phong tục, tập quán, ý chí, nguyện vọng của cộng đồng, bảo đảm thực hiện trong cộng đồng dân tộc thiểu số, được cộng đồng bảo đảm thực hiện[1].

Đối với các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, các quan niệm của họ lại đi sâu phân tích làm rõ nội hàm của luật tục. Thuật ngữ luật tục hay tập quán pháp ở Việt Nam có thể gọi với nhiều tên gọi khác nhau, như là "Luật địa phương", "Luật dân gian". Đây là một hiện tượng xã hội phổ quát của nhân loại ở thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay với những mức độ khác nhau ở nhiều tộc người trên thế giới, nhất là các tộc người châu Á và châu Phi. Luật tục về cơ bản là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương về cách ứng xử và quản lý cộng đồng còn tồn tại ở hầu khắp các dân tộc ở nước ta, không kể đó là dân tộc gì, ít người hay đa số[2].

Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác về khái niệm luật tục, nhưng trên cơ sở các quan điểm khác nhau, sau một thời gian dài tìm hiểu, nghiên cứu, thảo luận, nhiều cuộc hội thảo quốc tế cũng như trong nước và các cuộc thảo luận chuyên đề, nhiều nhà khoa học nước ta tạm thời chấp nhận khái niệm luật tục như sau: "Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành trong lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này qua đời khác bằng trí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội, nó hướng đến việc hướng dẫn các quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó đã tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng. Luật tục như hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức sơ khai của luật pháp"[3].

Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, đối tượng điều chỉnh của luật tục là những quan hệ xã hội tồn tại khách quan của đời sống cộng đồng. Luật tục có phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội như: lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng xã hội, lĩnh vực ổn định trật tự an ninh và bảo đảm lợi ích cộng đồng; việc tuân thủ phong tục, tập quán; các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình; lĩnh vực giáo dục nếp sống văn hoá tín ngưỡng; lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai, bảo vệ sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

Như vậy, luật tục là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính dân gian, quy định về mối quan hệ ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên và con người với con người trong cộng đồng, thể hiện ý chí của toàn thể cộng đồng, được thực hiện một cách tự giác, theo thói quen, nhưng vẫn có tính cưỡng chế và bắt buộc đối với những ai không tuân theo. Luật tục là những quy định của quần chúng trong cộng đồng đặt ra để điều hoà mối quan hệ của tập thể cộng đồng một cách tự nguyện và dân chủ, không phải là luật lệ do một tầng lớp người đặt ra và thực thi để bảo vệ quyền lợi của họ.

2. Các quy định về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong luật tục của một số tộc người ở Tây Bắc và Tây Nguyên

Theo kết quả nghiên cứu của ngành dân tộc học, Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc là các dân tộc thiểu số. Các dân tộc này chủ yếu sống ở miền núi, như miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, dãy Trường Sơn và Tây Nguyên. Đây là những nơi tập trung nhiều tài nguyên thiên nhiên quý của đất nước với hàng chục ngàn loài động thực vật và đất rừng phù hợp với trồng cây công nghiệp; các nguồn khoáng sản như than đá, quặng kim loại…. Trong đó, miền núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích cả nước, là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Ở đây, có rất nhiều tiềm năng về kinh tế, có hơn 10 triệu ha rừng và đất rừng với nhiều loại gỗ quý, trữ lượng cao và nhiều loại động thực vật có giá trị kinh tế và khoa học lớn[4].

Với tiềm năng tự nhiên dồi dào, phong phú như vậy, trong một thời gian dài, các dân tộc thiểu số miền núi nước ta chủ yếu dựa vào tự nhiên mà sống, mọi sinh hoạt cuộc sống đều dựa vào thiên nhiên và cho đến tận bây giờ nhiều nơi vẫn như vậy. Môi trường thiên nhiên có vai trò rất quan trọng đối với đời sống sinh hoạt của họ, gần như trong tất cả các lĩnh vực ăn, mặc, ở, sinh hoạt đều dựa vào thiên nhiên, gắn bó mật thiết với thiên nhiên và thấy được sự tác đng trở lại của thiên nhiên đến đời sống sinh hoạt của họ. Từ đó, việc hình thành những kinh nghiệm và cách thức bảo vệ, khai thác môi trường tài nguyên thiên nhiên từ rất lâu đời ở các dân tộc thiểu số miền núi nước ta là điều hiển nhiên. Bởi vì họ quan niệm rằng, cuộc sống của họ tồn tại được chính là nhờ môi trường thiên nhiên, nếu môi trường thiên nhiên bị huỷ hoại thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ.

2.1. Bảo vệ tài nguyên rừng

Các dân tộc thiểu số ở nước ta sống chủ yếu ở các vùng rừng núi (3/4 diện tích là rừng núi). Rừng rất cần thiết đối với họ, rừng gần như quyết định cuộc sống của họ (với cuộc sống săn bắt, hái lượm trước đây). Do đó, họ đã có những quy định rất chặt chẽ, cụ thể về cách thức quản lý, khai thác và bảo vệ rừng, được thể hiện trong các bộ luật tục của từng tộc người.

Trong Luật tục Ê Đê đã có những điều luật về các vụ cháy rừng, quy định về việc không đốt lửa bừa bãi, vô ý thức khi vào rừng; khuyên răn mọi người phải hết sức chú ý khi dùng lửa, nếu ai gây cháy sẽ bị trừng phạt rất nặng. “Đàn ông thường đốt lửa bừa bãi, đàn bà thường đốt lửa bậy bạ, có những người đốt lửa mà làm như kẻ điếc, kẻ đui, có những người đốt lửa mà làm như kẻ điên, người dại”… “E rằng đi rẫy lo việc nương rẫy mà không biết đi, cầm theo những đầu dây còn cháy dở có thể huỷ diệt cả rừng. Lửa sẽ bén vào rừng thiêu trụi cỏ cây, mọi vật. Còn e rằng lửa sẽ cháy lan, thiêu trụi cả xóm làng người ta, thiêu trụi cả chòi, cả kho lúa người ta đã dựng lên trong rừng, trong rẫy, mà xung quanh chưa kịp dọn quang”[5].

Trong Luật tục M’nông cũng vậy, vấn đề cháy rừng được cộng đồng rất quan tâm. Để bảo vệ tốt, trước hết thường có những quy định mang tính chất phòng ngừa, dạy bảo ý thức của mọi người về những tác hại của vụ việc đó gây ra cho cộng đồng, cho chính cuộc sống hàng ngày của họ. Điều 18 Luật tục M’nông quy định: "Rừng bị cháy mà không dập tắt, người đó sẽ không có rừng, người đó sẽ không có đất"[6].

Ngoài ra, ở một số vùng dân tộc Thái, vấn đề ngăn chặn nạn cháy rừng cũng được quy định thành lệ rất cụ thể. Trước khi đốt rẫy, bà con thường phát cây xung quanh rẫy hai, ba sải tay để có một khoảng cách an toàn nhất định tránh lửa có thể bén tới chân rừng. Hoặc đốt nương cũng phải chọn những ngày không có gió, còn những ngày có gió to, gió Lào thì tuyệt đối không ai được đốt nương.

Trong Luật tục Thái (Hịt khòng Mường Bản) cũng có đoạn quy định:

“Không nạn nào hơn nạn lửa, nạn nước

Dùng nước phải biết tránh luồng nước

Dùng lửa hãy giữ gìn nạn cháy”[7].

Như vậy, việc quy định về cách bảo vệ, phòng, chống nạn cháy rừng rất cụ thể, sát thực tiễn và mọi người rất hưởng ứng tuân theo và nó ăn sâu vào trong tâm thức của từng người. Người dân thường rất vui khi thực hiện những quy định của cộng đồng đề ra. Đây là một vấn đề mà pháp luật bảo vệ tài nguyên môi trường cũng như các lĩnh vực pháp luật khác của Nhà nước ta chưa làm được.

Ngoài nạn cháy rừng, luật tục quy định rất cụ thể về quản lý, khai thác, bảo vệ các cánh rừng, việc vi phạm những điều luật về bảo vệ rừng bị xử phạt nghiêm khắc. Thông thường, đồng bào quan niệm rừng, môi trường thiên nhiên là tài sản chung của tất cả mọi người, không phải của riêng ai và là nguồn sống không thể thiếu được của họ. Do vậy, mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường thiên nhiên.

Luật tục M’nông quy định: “Khu rừng sâu đâu phải của nai, khu rừng đó là của tổ tiên, khu rừng đó là của con cháu, khu rừng đó là của ông bà, khu rừng đó là của chúng ta”. Do đó, nếu ai phá rừng sẽ bị lên án bằng cách: “Làm nhà đừng dùng cây nữa; làm chòi đừng đừng dùng cây nữa; làm rẫy không phát rừng nữa; khi thiếu đói đừng đào củ nữa…”[8].

Luật tục Thái quy định về sự cân bằng sinh thái giữa con người với rừng núi; nó thể hiện trong tập quán phân loại rừng thành từng khu vực nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống như: rừng núi phòng hộ nằm trên khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác; rừng núi dành cho việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà và phục vụ các nhu cầu cuộc sống thì tuyệt đối không được chặt đốt làm nương; núi rừng phục vụ cuộc sống tâm linh, được gọi bằng tên chung là “rừng thiêng”[9].

Tóm lại, việc quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng được quy định rất chặt chẽ và cụ thể trong các điều khoản của các bộ luật tục. Ngoài ra, việc bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng này còn được thể hiện rộng rãi trong các phong tục, tập quán sinh hoạt hàng ngày của từng dân tộc khác nhau mà không được ghi chép thành văn bản. Nó được truyền miệng từ đời này đến đời khác và ăn sâu trong tâm thức của từng con người. Với cách thức bảo vệ rừng như vậy của các dân tộc thiểu số ở nước ta trước đây, trong một thời gian dài các dân tộc thiểu số đã bảo vệ được những cánh rừng luôn xanh tươi. Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường hiện nay, nếu biết vận dụng tốt các phong tục, tập quán, luật lệ quản lý và bảo vệ rừng trên cơ sở của Luật Bảo vệ và phát triển rừng của Nhà nước để xây dựng nên một quy chế bảo vệ và phát triển rừng ở từng cơ sở, thì việc quản lý, bảo vệ và khái thác tài nguyên rừng sẽ có hiệu quả hơn.

2.2. Bảo vệ tài nguyên nước

Tài nguyên nước cũng là một thành phần cơ bản của môi trường, có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người. Ở nước ta, Luật Tài nguyên nước năm 2012 mới được ban hành và đang dần dần đi vào cuộc sống, nhưng ở các dân tộc thiểu số nước ta, từ lâu đã có những phong tục, tập quán, luật lệ bảo vệ và giữ gìn nguồn nước rất cụ thể. Họ đều cho rằng, có nước sẽ có tất cả. Người Thái có khẩu ngữ quen thuộc là: “có nước mới có ruộng, có ruộng mới có lúa”, có nơi còn quy định “ăn cắp nước lã phải phạt 80 lạng bạc, kèm theo rượu, trâu, phải cúng cho chủ hồn nước 03 đồng bạc và trả lại số nước đã lấy”[10]. Để bảo vệ tốt nguồn nước, dân tộc Thái có những quy định rất chặt chẽ về các vùng nước, các khúc sông suối, họ thường quy những vùng nước, khúc sông suối cần bảo vệ thành những vùng linh thiêng như “vũng cấm” (văng hảm) hay “vũng mường” (văng mương). Đây là những chỗ sông, suối sâu thẳm, xanh biếc và được mở rộng ra hai bên bờ nơi có khu rừng già, nước chảy lững lờ nên có cảnh quan bề ngoài như một cái ao trời phú. Theo tôn giáo tín ngưỡng Thái thì đây là những chỗ để các siêu linh dưới nước trú ngụ và là những nơi để tế chủ nước cũng như tổ chức hội đánh cá.

Để giữ gìn, bảo vệ nguồn nước thường xuyên cho các con sông, suối và các mạch nước ngầm, người Thái đã sớm biết tạo ra và bảo vệ các khu rừng đầu nguồn. Trên mỗi một nguồn nước là những khu rừng có nhiều cây cối um tùm. Tín ngưỡng dân gian coi mỗi khu rừng đó là nhà của các loại ma liên quan đến sức mạnh tạo ra nguồn nước. Cây cối càng rậm rạp chúng càng thích trú ngụ. Bởi vậy, nếu phá rừng đầu nguồn cũng có nghĩa là phá nhà và những người đụng chạm đến chúng sẽ bị ma bắt mất hồn mà sinh ra ốm hay chết. Theo một số nhà nghiên cứu, tín ngưỡng dân gian quan niệm nguồn nước nào cũng có “thần chủ” gọi bằng thuật ngữ tôn giáo tín ngưỡng Thái là “ma đầu nguồn” (phi hua bó) hay “ma huỷ” (phi khuông) chuyên gây cho người bệnh đau khớp xương không thể chữa chạy được và đến khi khuất núi thì linh hồn không thể biến thành ma về cõi trời mà phải “trực gác” nơi đầu nguồn để chuyên hại người khác[11].

Luật tục Gia Lai có những quy định rất cụ thể về bảo vệ nguồn nước, nước sạch, như: cấm làm nhà nơi nguồn nước, nơi có mạch ngầm, mạch phun; nếu có người nào làm dơ bẩn nơi mạch nước ngầm trong sạch đó thì nó sẽ khiến cho con người bị to bụng, tả lỵ.

Ngoài ra, luật tục Gia Lai còn quy định: nước uống dùng một con sông, một dòng suối, một hồ nước sạch… phải dùng một phía, nhà ở về một phía, đi chôn người chết không được sang sông, sang suối, vượt nhà, vượt làng, qua rẫy, qua nương. Ai phạm vào một trong các điều trên đều bị xử phạt tuỳ theo mức độ vi phạm mà có mức phạt nặng nhẹ khác nhau.

Nói chung, cách thức bảo vệ, gìn giữ nguồn nước của các dân tộc thiểu số chủ yếu là bảo vệ rừng đầu nguồn, nơi tạo ra nguồn nước, cấp nước sinh hoạt cũng như trồng trọt. Hầu như các dân tộc đều có những quy định về bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ mạch nước ngầm, bảo vệ các khúc sông, suối chạy qua làng, bản của họ. Điều đặc biệt ở đây là các dân tộc đều rất chú ý cấm kỵ việc làm dơ bẩn nguồn nước.

Hiện nay, vấn đề bảo vệ, gìn giữ nguồn nước đã được Nhà nước luật pháp hoá bằng việc ban hành Luật Tài nguyên nước. Các vấn đề như sở hữu, quản lý nước, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống khắc phục hậu quả lũ lụt và các tác hại khác do nước gây ra… được pháp luật quy định rất cụ thể, tạo ra một hành lang pháp lý trong việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Tuy nhiên, việc ban hành là như vậy, nhưng việc thực thi có hiệu quả lại là một vấn đề khác, vấn đề triển khai còn rất chậm, nội dung chung chung, không cụ thể và hầu như các vùng dân tộc miền núi không biết đến Luật này mà các dân tộc thiểu số nước ta chủ yếu thực hiện bảo vệ nguồn nước theo phong tục, tập quán, các luật lệ của dân tộc và thực tế, công tác bảo vệ về tài nguyên nước có hiệu quả rất cao. Vì vậy, cùng với sự ra đời của Luật Tài nguyên nước, nếu biết kết hợp tốt với các phong tục, tập quán, luật tục của các địa phương, các dân tộc thiểu số thì hiệu quả bảo vệ, giữ gìn tài nguyên nước của cả nước sẽ cao hơn.

2.3. Bảo vệ tài nguyên đất đai

Đất đai là một tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh và quốc phòng. Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, đất rừng, đất đai nói chung nhưng hiệu quả đạt được lại không được như ý muốn. Trong khi đó, ở các dân tộc thiểu số miền núi nước ta có rất nhiều kinh nghiệm, phong tục tập quán trong việc bảo vệ tài nguyên đất. Nhiều dân tộc đã hình thành những bộ luật tục và có những quy định về bảo vệ đất đai rất cụ thể mà chủ yếu là đất rừng.

Trong Luật tục Ê Đê đã có hẳn một chương quy định về đất đai và người chủ đất như: chăm nom đất đai, không để mất người chủ đất; quyền hạn, quyền lợi và nhiệm vụ của người chủ đất; việc lấn chiếm đất đai, xâm phạm đất đai. Ví dụ, đất đai, sông suối, cây rừng (là) cái nong, cái nia, cái lưng của ông bà[12] (Điều 232 Luật tục Ê Đê). Những người được gọi là chủ đất có trách nhiệm rất lớn đối với đất đai thuộc quyền quản lý của họ, họ phải có nhiệm vụ đi thăm đất[13] (Điều 233 Luật tục Ê Đê).

Luật tục M’nông quy định về tội bán đất rừng: Bán đất bon làng khiếu nại; bán rẫy lúa mất đất làm khổ con cháu hoặc bán đất, rừng có tội với con cháu[14].

Luật tục Thái cũng có quy định về quản lý, sử dụng và khai thác đất đai. Ví dụ, họ có quy định rất cụ thể về việc giải quyết tranh chấp đất ruộng: “Nếu hai bên tranh chấp nhau thửa ruộng, luật sẽ giải quyết theo văn tự của thửa ruộng. Nếu không có văn tự, bên nào quen “ăn” thửa ruộng đó, đã được một đời không bỏ, thì cho bên đó được tiếp tục “ăn” thửa ruộng như cũ”[15].

Với những quy định truyền thống như vậy, đã có một thời kỳ dài các dân tộc thiểu số miền núi nước ta rất thành công trong việc quản lý khai thác và sử dụng đất đai (chủ yếu là đất rừng). Vì vậy, chúng ta nên vận dụng những quy định do đồng bào các dân tộc thiểu số đặt ra và được thi hành bao đời nay để thực hiện những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc quản lý, khai thác và sử dụng đất đai.

2.2.4. Bảo vệ động thực vật

Cũng như việc quản lý, bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường khác, động thực vật cũng được các dân tộc thiểu số miền núi nước ta quản lý, bảo vệ và khai thác rất hiệu quả bằng các phong tục tập quán, luật tục truyền thống từ rất lâu.

Trong Luật tục M’nông có đến hàng trăm điều luật khác nhau, trong đó có khá nhiều điều luật liên quan đến các loại động thực vật, như trong quan hệ sở hữu, tài sản, các điều luật đã đề cập đến việc bảo vệ, gìn giữ động thực vật quý hiếm. Loại động vật được nói đến nhiều nhất là con voi, đã có những điều luật quy định xử phạt những ai vi phạm như ăn thịt voi, coi khinh voi, chửi mắng voi, nhất là tội hành hạ voi đến mức làm cho chúng bị thương và bị chết. Người nào sử dụng voi nhưng không chăm sóc chu đáo hoặc cục cằn, đối xử tàn nhẫn với voi sẽ bị phạt rất nặng. Nếu người nào săn bắn làm chết các loài thú hiếm, Luật tục M’nông buộc người đó phải nộp phạt rất nặng để tạ tội với thần linh.

Ngoài ra, việc bắt cá bằng cách đánh thuốc, chập điện như hiện nay cũng bị coi là một trọng tội, phải nghiêm cấm vì nó huỷ hoại môi trường sống của các sinh vật khác. Vấn đề này được Luật tục M’nông quy định trong điều Tội thuốc cá: “Thuốc cá làm suối nghèo; muốn ăn ếch phải dùng ná bắn; muốn ăn cá dùng rổ mà vớt…” tức là làm gì cũng phải bảo vệ nòi giống, không được giết hàng loạt “Làm chết sạch cả tép, cả cua; ai thuốc cá có tội với làng; tội thuốc cá không ai đền nổi”[16].

Luật tục Êđê cũng có nhiều điều liên quan đến quản lý, bảo vệ, khai thác động thực vật. Con voi cũng được Luật tục Ê Đê đề cập tới nhiều như: “Nếu làm voi đau ở chân thì anh ta (người vi phạm) phải chăm sóc voi, băng bó cho voi, khấn lên bài khấn cầm máu cho voi, đặt cho voi các thứ thuốc để lành sẹo vết thương, nếu máu vẫn chảy, vết thương không khô, người ta không còn đóng bành trên lưng voi được nữa, nếu voi không ăn cỏ (voi chết) thì anh ta phải đền lại giá trị hoặc thay thế một con voi khác to bằng” (Điều 222 Luật tục Ê Đê).

Luật tục Gia Lai cũng có những điều luật quy định về việc bảo vệ thú rừng:

“Cấm săn bắt quá mức;

Thịt con khỉ, con dộc, con vượn, con khỉ đột, con chuột, con ếch, con nhái…

Không được mang về nhà ăn, xui khiến cháy khô bắp lúa, ghẻ lở phong độc tới con người, và không được săn bắn”.

Các bộ luật tục của dân tộc Thái rất ít đề cập đến việc bảo vệ, khai thác các loài động thực vật. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày của họ vẫn có những luật lệ rất cụ thể, mà gần như ai cũng biết và phải thực hiện như là điều đương nhiên. Ví dụ: ở người Thái Mường Tấc (Phù Yên – Sơn La) khi con cháu lớn lên, các cụ (ông bà, bố mẹ…) thường chỉ bảo con cháu rất cẩn thận về cách thức bảo vệ các loại động, thực vật, như khi đi đánh cá cũng phải có mùa, tránh đánh bắt cá vào mùa cá đẻ, tránh săn bắn thú rừng vào mùa sinh nở hoặc một số dòng họ của người Thái thường được gắn với một loài động thực vật nào đó như hổ, chim, khỉ… Khi đã gắn với loài đó như vậy thì dòng họ đó không được giết hại, cũng như ăn thịt loài đó, vì họ cho rằng đó là tổ tiên của họ. Hoặc các bà lang khi đi hái thuốc trong rừng không bao giờ họ chặt cả cây, nhổ cả gốc, nếu cần lấy rễ cây thì họ chỉ đào lấy những rễ phụ không ảnh hưởng đến sự sống của cây, hoặc lấy lá thì cũng không bao giờ vặt trụi cả cây…

Chỉ với những phong tục truyền thống, những quy định đơn giản như vậy, nhưng đã có một thời kỳ dài các dân tộc thiểu số ở nước ta rất thành công trong việc bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm cũng như các loại động thực vật phục vụ đời sống hàng ngày của họ.

Nhìn một cách khái quát, chúng ta thấy rằng, các quy định của luật tục mặc dù rất manh mún, phạm vi áp dụng hẹp và còn lạc hậu, nhưng đi sâu tìm hiểu chúng ta thấy rất hợp lý, phù hợp với từng địa phương, với đời sống của từng tộc người cụ thể. Có thể khẳng định rằng, nó thể hiện tính tự quản rất cao trong việc quản lý xã hội nói chung và trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái phục vụ cho riêng đồng bào các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các quy định của luật tục như vậy chỉ phù hợp với xã hội trong điều kiện thuần tuý về mặt nông nghiệp, có thành phần cư dân thuần nông. Với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường như hiện nay thì việc thực hiện những quy định của luật tục cũng sẽ có những biến đổi. Do đó, cùng với hệ thống pháp luật bảo vệ tài nguyên và môi trường của nước ta hiện nay, chúng ta có thể xây dựng quy chế dân chủ cơ sở (quy ước địa phương) trên cơ sở kế thừa những yếu tố tốt đẹp của luật tục truyền thống (tính cộng đồng, tính nhân bản, hợp lý) để bảo vệ các thành phần quan trọng của môi trường như rừng, nguồn nước, đất rừng, động thực vật quý hiếm có hiệu quả hơn, khuyến khích được mọi người dân hưởng ứng tham gia./.


[1] Lê Hồng Sơn: Vai trò của phong tục tập quán và việc kế thừa phong tục tập quán trong xây dựng pháp luật, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 863-875 .

[2] Viện Dân tộc học, Tư liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 25-54.

[3] Hoàng Xuân Tý, Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất, khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 310-323.

[4] Bế Viết Đẳng (chủ biên), 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 – 1995), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 109-110.

[5] Hoàng Xuân Tý, tlđd, tr. 310-323.

[6] Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Luật tục M’nông, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 268.

[7] Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, Luật tục Thái (Tập quán pháp), Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999. tr. 446.

[8] Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Luật tục M’nông, sđd, tr. 268

[9] Rừng thiêng: i) nơi rừng cấm để làm lễ cúng “thần linh bản” (xên phi bản) hoặc “thần linh mường” (xên phi mường); ii) chỉ có ở đất Chiềng (xiềng) tức trung tâm của mường mới có ngọn núi được chọn để cúng khí thiêng của đất, mang ý niệm là “siêu linh cạn” (phi bốc) đối lập với “siêu linh nước” (phi nặm) mang tên là “Núi hồn mường” (pom minh mương). Bề mặt của núi thường phủ lớp rừng thiêng; iii) gồm những khu rừng già dành để chôn cất người chết.

[10] Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng: Luật tục Thái (Tập quán pháp), Sđd, tr. 311.

[11] Phan Hữu Dật – Cầm Trọng, Văn hoá Thái Việt Nam. Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1995, tr. 94.

[12] Người Ê Đê coi đất là mẹ, đất trên cao nguyên lại có cấu trúc lượn sóng nên họ quan niệm mặt đất là cái lưng của tổ tiên. Thành ngữ này thường thấy lặp đi lặp lại trong văn ngôn của tập quán pháp ca. Đất đai, rừng núi cũng được ví như cái nong, cái nia.

[13] Đi thăm là để đất đai mãi mãi tốt tươi, để nước không ngừng chảy, để chuối mía mọc xum xuê. Đất nào phải đâu như con ngựa không chủ, như con bò không người chăn.

[14] Ngô Đức Thịnh (chủ biên), sđd, tr. 524.

[15] Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, sđd, tr. 341.

[16] Ngô Đức Thịnh (chủ biên), sđd, tr. 280.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/luat-tuc-bao-ve-tai-nguyen-thien-nhien-moi-truong-cua-mot-so-toc-nguoi-o-tay-bac-va-tay-nguyen

Advertisements

2 Responses

  1. Thanks a lot. great efforts
    greeting from Afu University Dubai http://goo.gl/tfeKBm

  2. cảm ơn bạn đã chia sẽ thông tin http://goo.gl/5eLeJP

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: