SỬ DỤNG CHỨNG CỨ GIÁN TIẾP TRONG ĐIỀU TRA CẠNH TRANH – BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT VỤ VIỆC ĐIỀU TRA HÀNH VI THỎA THUẬN TẠI NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho Antitrust LawPHÙNG VĂN THÀNH – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương

Luật Chống độc quyền của Nhật Bản[1] được ban hành vào năm 1947. Luật này có mục đích giống như hầu hết pháp luật cạnh tranh của các nước khác trên thế giới là bảo vệ cạnh tranh, tạo hiệu quả kinh doanh, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, bảo vệ người tiêu dùng.

Luật Chống độc quyền Nhật Bản quy định không doanh nhân nào được tham gia vào những thỏa thuận hay hợp đồng với những nội dung tạo ra hạn chế thương mại bất hợp lý hay các hoạt động thương mại không bình đẳng (Khoản 1, Điều 6). Hạn chế thương mại bất hợp lý được hiểu là những hành vi kinh doanh, thực hiện bởi bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào, thông qua hợp đồng, thoả thuận hay bằng bất kỳ một hình thức nào khác không phụ thuộc vào tên gọi, trong một nỗ lực với các chủ thể kinh doanh khác, cùng hạn chế hoặc thực hiện những hành vi kinh doanh tương tự như ấn định, duy trì hoặc tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất, kỹ thuật, sản phẩm, với các bên hoặc doanh nghiệp đối thủ, mà do vậy, xâm phạm lợi ích công, gây ra hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trong một lĩnh vực thương mại cụ thể (Khoản 2, Điều 6).

Như vậy hành vi thoả thuận ấn định giá được coi là hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý theo Luật Chống độc quyền Nhật Bản. Đối với hành vi thoả thuận, thông thường, Ủy ban thương mại công bằng Nhật Bản (JFTC)phải xem xét, điều tra và chứng minh các yếu tố gồm (i) có hay không một thoả thuận, (ii) thoả thuận đó có phải giữa các đối thủ cạnh tranh không, và (iii) thoả thuận đó có nhằm hoặc có tác động hạn chế cạnh tranh không, có ảnh hưởng tiêu cực gì đối với sự phát triển của một ngành kinh tế nhất định nào không. Trong bản án do Toà tối cao Tokyo tuyên năm 1973 có giải thích tác động hạn chế cạnh tranh của thoả thuận là việc dẫn đến một tình trạng nào đó, bằng việc làm giảm sự cạnh tranh, có thể tạo cho một chủ thể kinh doanh xác định hay một hội nhóm doanh nghiệp khả năng thay đổi giá cả, chất lượng, số lượng và các điều kiện khác, để sau đó, tạo cho những chủ thể này một sức mạnh để kiểm soát thị trường.

2. Thông tin về vụ việc thoả thuận giữa các thành viên thuộc Hiệp hội bán lẻ xăng dầu tại Thành phố Hiroshima 1997

Chu trình lưu thông xăng dầu tại Nhật Bản như sau:

· Xăng dầu được công ty bán buôn nhập khẩu từ nước ngoài. Do vậy, giá bán buôn xăng dầu thay đổi hàng tháng phụ thuộc vào biến động giá nhập khẩu,

· Các công ty bán buôn sẽ cung cấp xăng dầu đến các công ty bán lẻ có các điểm bán lẻ là các cây xăng dầu để cung cấp cho người tiêu dùng.

· Người tiêu dùng sẽ mua xăng dầu tại các cây xăng.

Khu vực Hiroshima gồm trung tâm là Thành phố Hiroshima và vùng lân cận. Tại thời điểm năm 1992, dân số tại trung tâm Horishima là 1,2 triệu dân.

Hiệp hội bán lẻ xăng dầu thành phố Hiroshima (Hiệp hội) có 254 công ty bán lẻ xăng dầu là thành viên, kiểm soát tổng số 456 cây xăng. Tại khu vực Hiroshima có rất ít công ty bán lẻ xăng dầu không là thành viên của Hiệp hội.

Vào tháng 8/1992, Hiệp hội tổ chức cuộc họp bàn và quyết định rằng các thành viên cùng tăng giá bán lẻ xăng dầu thêm 4 yên Nhật đối với mỗi lít xăng kể từ ngày 1 tháng 9 năm 1992. Và sau đó thoả thuận này đã được thực hiện.

JFTC đã tiến hành điều tra đối với vụ việc này. Trong suốt quá trình điều tra JFTC không thể thu được bất kỳ một chứng cứ trực tiếp nào, tức là không thu được bất kỳ một tài liệu nào ghi nhận sự việc và cũng không thu nhận được bất kỳ một lời khai hay nhận tội nào về hành vi thoả thuận này. Lý do là vì các bên vi phạm đã cố tình che dấu và tiêu huỷ các tài liệu liên quan đến sự việc. Đặc biệt, trong vụ việc này Hiệp hội đã:

· Che dấu và tiêu huỷ các bằng chứng về sự việc một cách có tổ chức,

· Kiên quyết thực hiện chính sách chối bỏ mọi lời buộc tội từ các nhân chứng mà JFTC đã thực hiện phỏng vấn.

Mặc dù vậy, dựa trên những chứng cứ gián tiếp, JFTC đã chứng minh được về hành vi thoả thuận. Chứng cứ gián tiếp mà JFTC đã sử dụng gồm các phân tích kinh tế do cơ quan JFTC thực hiện và từ động thái của Hiệp hội.

3. Phân tích kinh tế dùng làm chứng cứ gián tiếp

Trước hết, để đánh giá và chứng minh về hành vi thoả thuận, JFTC đã thực hiện thu thập các thông tin liên quan đến việc điều chỉnh giá. Bằng các biện pháp nghiệp vụ điều tra, JFTC đã thu được toàn bộ các thông tin và bằng chứng cho thấy mức tăng giá và thời điểm tăng giá của các công ty bán lẻ xăng dầu thành viên Hiệp hội trong khu vực Hiroshima là giống nhau và đáng nghi ngờ. Cụ thể:

· Tại thời điểm này ở Nhật Bản, mức tăng giá và thời điểm tăng giá xăng dầu phụ thuộc và phải căn cứ theo mức giá điều chỉnh do các công ty bán buôn xăng dầu đưa ra vì các công ty bán buôn xăng dầu luôn điều chỉnh giá bán. Xu hướng này là hoàn toàn thấy rõ tại nhiều khu vực ở Nhật và thậm chí ngay tại các khu vực tiếp giáp với khu vực Hiroshima.

· Tại khu vực Hiroshima, tổng số công ty bán lẻ xăng dầu là hơn 260 công ty với tổng số cây xăng dầu là 484. Như vậy, cấu trúc thị trường này là rất cạnh tranh, khác biệt và không có công ty thống lĩnh. Vì vậy, có thể khẳng định hoàn toàn không thể có chuyện các nhà bán lẻ xăng dầu thực hiện việc neo giá theo nhau.

· Việc tăng giá lại ở trong bối cảnh mà Hiệp hội chủ trương và công khai chính sách bất kỳ khi nào giá bán buôn tăng, chúng tôi sẽ tăng giá bán lẻ, và bất cứ khi nào giá bán buôn giảm thì việc giảm giá sẽ được các doanh nghiệp thành viên xem xét cụ thể, Hiệp hội xem xét việc tăng hay giảm giá bán lẻ xăng dầu của các công ty thành viên.

· Trong thời kỳ trước khi có sự thoả thuận giữa các thành viên của Hiệp hội, đã có giai đoạn các công ty bán buôn xăng dầu liên tục tăng giá bán buôn, nhưng, các công ty bán lẻ thành viên của Hiệp hội đã không kịp đồng thời điều chỉnh mức tăng giá bán buôn sang giá bán lẻ. Vì vậy, giữa các công ty thành viên của Hiệp hội, có những công ty điều chỉnh mức biến động tăng giá bán lẻ lên đến kỷ lục.

4. Phân tích động thái của Hiệp hội dùng làm chứng cứ gián tiếp

Nhận định rằng những động thái của Hiệp hội có thể sử dụng làm chứng cứ chứng minh cho hành vi thoả thuận nên JFTC đã thực hiện thu thập các thông tin liên quan đến các động thái của Hiệp hội về vấn đề điều chỉnh tăng giá bán lẻ xăng dầu. Cụ thể:

· Trong Hiệp hội, trước khi tổ chức cuộc họp vào tháng 8 năm 1992, một số lãnh đạo cấp cao của Hiệp hội thông qua báo chí đã có phát biểu kêu gọi tăng giá bán lẻ xăng dầu. Và tại cuộc họp vào tháng 8 năm 1992, các công ty bán lẻ xăng dầu thành viên Hiệp hội tham gia họp đã đưa ra quan điểm và trao đổi về sự cần thiết phải chuyển đổi kịp thời những điều chỉnh tăng giá xăng dầu từ các nhà bán buôn sang giá bán lẻ xăng dầu.

· Có một số lượng nhất định các công ty bán lẻ xăng dầu thành viên của Hiệp hội đã tăng giá bán lẻ xăng dầu với nhận thức rằng việc tăng giá này được thực hiện dựa trên chính sách chung của Hiệp hội.

· Nhân viên thư ký của Hiệp hội đã tham gia vào việc phân phát các tài liệu của các công ty bán lẻ thành viên về việc tăng giá.

· Tại cuộc họp của Hiệp hội vào tháng 9 năm 1992, kết quả thực hiện của hai lần Hiệp hội yêu cầu tăng giá bán lẻ xăng dầu đã được các thành viên báo cáo, và thông qua những báo cáo này, các công ty bán lẻ xăng dầu thành viên tham dự họp xác nhận sự tăng giá của các thành viên.

5. Kết luận dựa trên những chứng cứ gián tiếp

Mặc dù không tìm được bất kỳ một chứng cứ trực tiếp nào nhưng với các thông tin và chứng cứ gián tiếp nêu trên, JFTC đã chứng minh được hành vi thoả thuận ấn định giá bán lẻ xăng dầu tại khu vực Hiroshima dựa trên bốn luận điểm chính có quan hệ với nhau:

· Đã có sự trao đổi và bày tỏ trước giữa các thành viên về quan điểm trong việc tăng giá bán lẻ xăng dầu tại các cuộc họp của Hiệp hội.

· Quyết định tăng giá của Hiệp hội đã được đưa ra.

· Có hành vi tập thể của các thành viên Hiệp hội (các công ty bán lẻ xăng dầu thành viên Hiệp hội cùng tăng giá).

· Có hai lần yêu cầu tăng giá bán lẻ xăng dầu của Hiệp hội đưa ra đã được báo cáo kết quả thực hiện.

6. Bài học kinh nghiệm trong vụ việc

Có thể nói các dạng hành vi thỏa thuận ấn định giá diễn ra trong thực tế vô cùng phong phú và đa dạng, diễn ra ở hầu khắp các lĩnh vực, các ngành kinh tế và được thể hiện theo nhiều phương thức khác nhau và mức độ khác nhau. Số lượng doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thể ít nhưng cũng có thể là rất nhiều.

Về cơ bản, pháp luật cạnh tranh của các nước và pháp luật cạnh tranh Việt Nam đều không quy định yêu cầu một thoả thuận phải được lập thành văn bản. Thông qua vụ việc của Nhật có thể thấy các cơ quan cạnh tranh trên thế giới cùng thống nhất một quan điểm rằng thoả thuận không nhất thiết phải được lập thành văn bản, mà nó đơn giản là chỉ cần có một sự gặp gỡ ý chí giữa các chủ thể dưới mọi hình thức. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta mới chỉ tiến hành điều tra đối với những vụ việc thoả thuận ấn định giá trong đó các bằng chứng là rất rõ ràng, ví dụ như biên bản thoả thuận được các bên lập ra và ký kết, hoặc có Nghị quyết của Hiệp hội. Đối với những vụ việc mà chúng ta đã và đang điều tra, thoả thuận được lập thành văn bản là vì hiện nay nhận thức của nhiều doanh chưa cao. Đối với các vụ việc trong tương lai chắc chắn sẽ rất khó để thu thập được các chứng cứ ở dạng văn bản.

Thực tế từ vụ việc trên có thể thấy được tính linh động và linh hoạt trong cách vận dụng và áp dụng luật cạnh tranh của cơ quan JFTC. Ngược trở lại, chúng ta hiện nay vẫn còn khá cứng nhắc trong việc áp dụng luật cạnh tranh.

Quay trở lại vụ việc trên đây để cho thấy việc áp dụng luật cạnh tranh cần có sự linh động và việc chứng minh hành vi thoả thuận không chỉ có thể thực hiện bằng các chứng cứ trực tiếp mà còn có thể sử dụng các chứng cứ gián tiếp. Xuất phát từ việc nghi ngờ về hành vi thoả thuận trong khi không có được bằng chứng trực tiếp thì việc sử dụng các chứng cứ gián tiếp là cần thiết.

Trong thực tiễn có nhiều trường hợp các bên thoả thuận chỉ thông qua trao đổi miệng mà không hề có bất kỳ một phương tiện nào ghi nhận lại điều đó. Hoặc nếu có lập thành văn bản nhưng đã làm mất, bị hư hỏng hoặc các bên liên quan cố tình che dấu, tiêu huỷ. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan cạnh tranh phải có một thái độ linh hoạt trong việc nhìn nhận và đánh giá về các vụ việc thoả thuận.

Không chỉ có JFTC sử dụng chứng cứ gián tiếp thông qua vụ việc nêu trên. Cũng về vấn đề này, Ủy ban cạnh tranh và người tiêu dùng Úc đã từng đúc rút “các vụ thoả thuận các-ten rất đa dạng về hình thức và quy mô. Một số lượng rất nhỏ các vụ việc, thoả thuận được lập thành văn bản. Những vụ việc này vô cùng dễ ràng để chứng minh. Còn lại thông thường trong các vụ việc thoả thuận không bao giờ tồn tại một thoả thuận bằng văn bản, và khi đó Ủy ban cạnh tranh và người tiêu dùng Úc phải dựa vào một tập hợp gồm các loại bằng chứng trực tiếp và bằng chứng gián tiếp phụ trợ khác nhằm chứng minh hành vi vi phạm. Chứng cứ trực tiếp gồm các loại tài liệu liên quan đến vụ việc hoặc là các bản thú tội, lời khai của người làm chứng. Còn các chứng cứ gián tiếp phụ trợ khác trong các vụ việc thoả thuận ấn định giá có thể nhận định thông qua một số điểm sau:

· Các động cơ, động lực hay cơ hội của các bên tham gia trong trường hợp cùng nhau đạt được sự đồng thuận hay quan điểm được gặp gỡ,

· Động thái tương hành do các bên liên quan thực hiện, ví dụ như việc gặp gỡ hoặc trao đổi thư từ hoặc thông tin,

· Các bên không có khả năng hoặc không tự nguyện giải thích những hành vi hiện tại của họ,

· Một mô hình hợp tác bất bình thường trong động thái tương hành giữa các bên mà không thể giải thích nổi nếu không cho rằng phải có một sự sắp đặt hay thống nhất nào đó,

· Các bên hành động rõ ràng là đi ngược lại với lợi ích kinh tế của chính họ (đó là, mỗi doanh nghiệp không thể thu được lợi ích từ hành vi của mình trừ khi đối thủ cạnh tranh của nó cũng hành động giống như vậy).

Thông qua nội dung trên đây và từ vụ việc thoả thuận của Nhật có thể thấy việc tìm ra các chứng cứ trực tiếp của một thoả thuận là vô cùng khó khăn. Vì vậy, cơ quan cạnh tranh phải rất linh hoạt trong việc đánh giá và sử dụng các chứng cứ gián tiếp nhằm chứng minh hành vi. Và chúng ta cũng cần suy nghĩ về vấn đề này một cách nghiêm túc để có thể tự tin và cố gắng hơn nữa trong hành động vì một môi trường cạnh tranh lành mạnh.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH, BỘ CÔNG THƯƠNG

Trích dẫn từ: http://www.vca.gov.vn/NewsDetail.aspx?ID=1675&CateID=371

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: