HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho Property conditions HOÀNG THỊ THU TRANG – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014) có hiệu lực từ 01/7/2015, đã khắc phục được nhiều bất cập, vướng mắc sau 06 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sau đây gọi là Luật THADS năm 2008). Tuy nhiên, để các quy định pháp luật về thi hành án dân sự nói chung, về xác minh điều kiện thi hành án nói riêng tiếp tục được hoàn thiện, phù hợp, bắt nhịp kịp với cuộc sống vốn dĩ sinh động này thì việc nhìn nhận một cách toàn diện thực trạng quy định pháp luật và dự liệu những khó khăn, vướng mắc sẽ gặp phải trong xác minh thi hành án dân sự để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị thiết thực, có hiệu quả là hết sức cần thiết.

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc chấp hành viên thu thập thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án…Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ sở để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Có thể nói, xác minh điều kiện thi hành án chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định, đòi hỏi Chấp hành viên cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việc xác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Thực trạng pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 chỉ có 01 quy định tại khoản 4 Điều 13 về nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên: “Yêu cầu chính quyền địa phương, cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp xử lý tang vật, tài sản và những việc khác liên quan đến việc thi hành án”.

Sau đó, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và Nghị định 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự quy định rõ hơn về xác minh thi hành án dân sự nhưng mới chỉ dừng lại việc quy định đây là trách nhiệm của chấp hành viên, chứ chưa quy định thủ tục, cách thức xác minh. Vì vậy, việc Chấp hành viên xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, nhiều khi thực hiện theo kinh nghiệm.

Luật Thi hành án dân sự ngày 14/11/2008 quy định tương đối cụ thể, toàn diện về xác minh điều kiện thi hành án. Cùng với việc được “luật hóa”, vấn đề này còn được cụ thể hóa bởi hệ thống các văn bản dưới luật: Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định số 125/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009; Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự.

Cho đến hiện nay, vấn đề xác minh điều kiện thi hành án đã được sửa đổi, bổ sung cơ bản toàn diện trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sau đây gọi tắt là Luật sửa đổi, bổ sung) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi tắt là Nghị định 62/NĐ-CP). Qua thực tiễn công tác, có thể đánh giá các quy định hiện hành về xác minh thi hành án dân sự như sau:

1.1. Ưu điểm

a) Hệ thống văn bản pháp luật quy định về xác minh điều kiện thi hành án dân sự đã được xây dựng đầy đủ: Như trên đã cập nhật, từ chỗ chưa có quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, đến nay xác minh điều kiện thi hành án dân sự đã được “luật hóa”, các văn bản hướng dẫn thi hành tương đối cụ thể.

b) Các quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án tạo điều kiện thuận lợi cho người được thi hành án: Theo Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008 thì người được thi hành án có nghĩa vụ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; nếu muốn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác minh thì phải chứng minh là đã tiến hành xác minh không có kết quả và phải chịu chi phí xác minh. Tại Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung Điều 44 quy định về xác minh điều kiện thi hành án, theo đó: đã bỏ nghĩa vụ của người được thi hành án trong việc phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, chuyển hóa thành quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án; bỏ nghĩa vụ phải nộp chi phí xác minh. Như vậy, việc xác minh điều kiện thi hành án theo Luật sửa đổi, bổ sung là thuộc về trách nhiệm của Chấp hành viên, chi phí xác minh do Ngân sách Nhà nước chịu. Để khuyến khích người được thi hành án tích cực, chủ động trong việc cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhà nước sẽ miễn, giảm phí thi hành án. Khi người được thi hành án cung cấp thông tin điều kiện về tài sản của người phải thi hành án mà cơ quan thi hành án có thể thể tiến hành xử lý tài sản đó để đảm bảo việc thi hành án thì họ sẽ được miễn, giảm phí thi hành án tương ứng với số tiền hoặc tài sản thu được từ thông tin mà họ cung cấp cho cơ quan thi hành án.

c) Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định cụ thể hơn, khắc phục được cơ bản các bất cập trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự:

– Về thời điểm xác minh thi hành án:Trước đây, theo Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh.

Theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sau khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án có 05 ngày làm việc để ra quyết định thi hành án, sau khi ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án có 02 ngày làm việc để phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành. Thực tiễn cho thấy thường khi nhận đơn yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án cũng nhận được đơn yêu cầu xác minh của người được thi hành án vào cùng thời điểm. Nếu theo quy định nêu trên thì Chấp hành viên chỉ còn 01 ngày để tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, điều này dẫn đến Chấp hành viên có thể vi phạm thời hạn xác minh theo quy định. Hơn nữa, việc tính thời hạn xác minh kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu xác minh của người được thi hành án cũng bất cập với quy định về thời hạn tự nguyện thi hành án theo Điều 45 Luật Thi hành án dân sự 2008 là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Do đó, nếu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án trước khi người phải thi hành án tự nguyện thi hành; sau đó, người phải thi hành án lại thi hành án xong trong thời gian tự nguyện thi hành thì việc xác minh của Chấp hành viên là thừa, không cần thiết, lãng phí.

Khắc phục bất cập này, Khoản 1 Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung đã xác định rất rõ thời hạn Chấp hành viên phải tiến hành xác minh: cụ thể là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay. Quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án, tạo điều kiện cho Chấp hành viên có thời gian nghiên cứu hồ sơ và tiến hành việc xác minh hiệu quả hơn.

– Về trách nhiệm xác nhận biên bản xác minh đã có sự thống nhất, hợp lý hơn quy định trước đây. Theo Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự 2008 thì biên bản xác minh có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh. Quy định này dẫn đến việc nhiều cơ quan thi hành án hiểu rằng biên bản xác minh như trên phải bao gồm xác nhận của tất cả các cá nhân, cơ quan kể trên. Vậy là 01 biên bản xác minh phải đóng đến 03 loại dấu (dấu của cơ quan thi hành án, Ủy ban nhân dân và Công an xã), chưa kể chữ ký của Tổ trưởng Tổ dân phố, Cán bộ Tư pháp xã… dẫn đến rườm rà, không cần thiết. Mặt khác, chức danh “tổ trưởng tổ dân phố” chỉ có ở thành phố, đô thị, còn ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa được gọi là trưởng thôn, trưởng ấp, trưởng bản…nên việc áp dụng không thống nhất: ở đô thị thì chức danh trên phải ký vào biên bản xác minh, còn ở nông thôn những chức danh tương tự không phải ký.

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định rõ biên bản xác minh có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh. Có thể nói đây là một quy định hợp lý, thống nhất trong cách hiểu và áp dụng trên thực tế.

Về ủy quyền xác minh: Khoản 3 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung quy định việc cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án dân sự. Đây là một điểm mới hoàn toàn so với quy định về xác minh trước đây, góp phần giúp cho chế định ủy thác thi hành án được thuận lợi hơn. Theo quy định tại Điều 55 Luật Thi hành án dân sự về ủy thác, căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Trong nhiều trường hợp, cơ quan thi hành án không chỉ căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án mà còn căn cứ vào biên bản xác minh của Chấp hành viên. Do đó, để xác minh được người phải thi hành án có đúng là chuyển về sinh sống tại địa phương đó hoặc tại địa phương đó có tài sản, hoặc là nơi làm việc của người phải thi hành án thì Chấp hành viên cũng cần phải xác minh tại địa phương khác, tránh trường hợp chỉ xác minh tại Ủy ban nhân dân thuộc địa phương mình cho biết đương sự đã chuyển hộ khẩu về địa phương khác mà đã ủy thác ngay dẫn đến khi cơ quan thi hành án nơi nhận ủy thác sau khi thụ lý xong, tiến hành xác minh thì được biết đương sự hoàn toàn không chuyển về sinh sống tại địa phương, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, hồ sơ ủy thác đi và trả lại nhiều lần dẫn đến việc thi hành án tồn đọng, kéo dài. Mặt khác, nếu Chấp hành viên phải đi đến địa phương khác xác minh thì chi phí xác minh chưa được quy định rõ, hoặc nếu không nhận được sự phối hợp, ủng hộ của cơ quan thi hành án hoặc cơ quan liên quan tại địa phương khác thì việc xác minh của Chấp hành viên rất khó khăn. Chính vì vậy, quy định ủy quyền xác minh sẽ phần nào tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho Chấp hành viên trước khi tiến hành ủy thác thi hành án.

d) Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án, đó là trách nhiệm cung cấp thông tin cho Chấp hành viên trong thời hạn nhất định và phải chịu trách nhiệm về việc cung cấp thông tin đó.

1.2. Hạn chế, vướng mắc

a) Chưa có chế tài mạnh, phù hợp mang tính bắt buộc đối với các trường hợp cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi không cung cấp thông tin, xác nhận tài sản. Hiện mới chỉ có Nghị định 67 quy định xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đến 3.000.000 đ đối với hành vi không cung cấp thông tin nếu không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, trong thực tiễn để xử phạt hành vi này quả thực không dễ dàng bởi nó sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ phối hợp trong công tác THADS. Vì vậy, việc cung cấp thông tin vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức, mức độ tự nguyện của cơ quan nắm giữ thông tin.

b) Luật sửa đổi theo hướng xác minh tài sản là quyền của người được thi hành án, chứ không phải nghĩa vụ của họ, mà trách nhiệm hoàn toàn thuộc về chấp hành viên. Quy định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho người được thi hành án nhưng nhiều trường hợp lại là “gánh nặng” cho chấp hành viên.

c) Các văn bản quy định xác minh điều kiện thi hành án còn tập trung nhiều ở việc quy định trình tự, thủ tục mà chưa có nhiều quy định cụ thể về nội dung xác minh.

d) Khoản 1 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐCP quy định: “Khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án…Chấp hành viên phải nêu rõ trong việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án”. Quy định này có 02 bất cập: Thứ nhất, khi xác minh nhất thiết trong mọi trường hợp Chấp hành viên phải gặp được người phải thi hành án mới lập được biên bản xác minh. Thứ hai, chờ việc kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án từ người phải thi hành án nhiều khi như là một quy định mang tính hình thức.

2. Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xác minh điêu fkieejn thi hành án trên địa bàn Nghệ An

1. Việc thanh toán trong nhân dân chủ yếu dùng tiền mặt nên dẫn đến khó khăn rất lớn trong việc xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án. Trong trường hợp người phải thi hành án không thực hiện giao dịch qua tài khoản mà tích trữ, lưu thông bằng tiền mặt thì việc xác minh khó thực hiện, chính xác.

2. Các giao dịch mua bán, chuyển nhượng đối với các tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu trên thực tế không kiểm soát được nên chấp hành viên cũng rất khó xác minh.

3. Hệ thống đăng ký quản lý tài sản, cơ chế kiểm soát tình trạng vốn, tài sản thu nhập của doanh nghiệp còn rất yếu, việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống tài khoản ở ngân hàng còn chưa hiệu quả nên việc xác minh tài sản trong nhiều trường hợp còn hết sức khó khăn.

4. Trường hợp người phải thi hành án là thành viên góp vốn vào doanh nghiệp: Luật Thi hành án dân sự đã quy định rõ chấp hành viên có quyền kê biên phần vốn góp của người phải thi hành án, đồng thời cũng quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin nơi nhận góp vốn của người phải thi hành án. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này vào thực tiễn, chấp hành viên đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác định phần giá trị vốn góp và biện pháp kê biên xử lý phần vốn góp. Một phần do các loại hình doanh nghiệp này ngay từ khi thành lập đã không có sự thỏa thuận rõ ràng về cơ cấu tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các thành viên, mức góp vốn và cách thức phân chia lợi nhuận, cơ chế kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh. Hai là để xác định phần vốn góp thực tế của các thành viên trong công ty yêu cầu nhiều tài liệu pháp lý khác nhau mà chấp hành viên khó thu thập như: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ công ty; giấy chứng nhận góp vốn, cổ phiếu; sổ đăng ký thành viên, sổ đăng ký cổ đông; báo cáo tài chính doanh nghiệp, sổ sách kế toán doanh nghiệp; các chứng từ khác về việc góp vốn, phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp.

5. Nghệ An là một tỉnh có chung đường biên với 03 tỉnh của Lào: Hủa Phăn, Xieng Khoảng và Bôlykhamxay. Những năm gần đây xảy ra tình trạng di cư tự do sang Lào; cùng với đó xu hướng người dân đi vào các khu công nghiệp ở Đồng Nai, Sài Gòn một cách ồ ạt tự phát. Thêm vào đó, pháp luật có xu hướng thông thoáng hơn trong quản lý nhân, hộ khẩu, cùng với chủ trương mở rộng thị trường xuất khẩu lao động…Vậy nên việc quản lý nhân khẩu, hộ khẩu của chính quyền cơ sở, nhất là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa hết sức phức tạp khó khăn. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc không xác minh được nơi cư trú của người phải thi hành án (năm Quý I/2016 có 92 trường hợp không xác định được nơi cư trú).

6. Khó khăn trong phối hợp cung cấp thông tin:

a) Trường hợp xác minh tiền trong tài khoản của người phải thi hành án: Thực tế ngân hàng và các tổ chức tín dụng luôn bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình theo quy chế của ngành. Vì vậy, không ít trường hợp, nhân viên ngân hàng, tín dụng hướng dẫn cho khách hàng là người phải thi hành án chuyển hoặc rút hết tiền trong tài khoản khi biết được chấp hành viên đến xác minh.

b) Trường hợp xác minh điều kiện thi hành án đối với tài sản là bất động sản thì một số cơ quan thi hành án dân sự còn gặp khó khăn khi yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai như cơ quan tài nguyên môi trường, cơ quan quy hoạch đô thị… cung cấp tài liệu, trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính…

7. Kết quả xác minh phụ thuộc chủ yếu vào trình độ, kỹ năng của chấp hành viên, nhất là những vụ việc liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, kỹ thuật, công nghệ cao. Trong khi đó, am hiểu các lĩnh vực chuyên môn sâu của chấp hành viên chưa thể đáp ứng yêu cầu: xác minh vốn trong doanh nghiệp, các tài sản là các thiết bị khoa học…Mặc dù Luật Thi hành án có quy định thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung xác minh nhưng thực tế việc thuê chuyên gia hết sức khó khăn, vướng mắc vì kinh phí eo hẹp.

8. Xử lý kết quả xác minh điều kiện thi hành án:

– Trường hợp tài sản lớn hơn rất nhiều nghĩa vụ thi hành án: Tại điều 44 a Luật sửa đổi, bổ sung quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn có rất nhiều trường hợp qua xác minh cho thấy tài sản của người phải thi hành án rất lớn, gấp nhiều lần so với nghĩa vụ của họ (vd: có đất, nhà trong khi phải thi hành 5.000.000 – 10.000.000đ). Trong trường hợp này, việc kê biên xử lý tài sản là không thuyết phục, trong khi xếp diện không có điều thi hành án thì không đúng mà xếp diện có điều kiện thi hành cũng khó xử lý.

– Xử lý trường hợp vật đặc định không còn: Tại khoản b điều 44 a quy định: “Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác”.

Tuy nhiên, theo khoản 2 điều 113 Bộ luật Dân sự, “vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó”. Như vậy, vật đặc định là vật duy nhất, không thể thay thế, trường hợp nó không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được thì xếp vào diện chưa có điều kiện thi hành án là chưa hợp lý, sẽ dẫn đến vụ việc tồn đọng, không có hướng xử lý.

3. Một số nội dung cần được nghiên cứu, bổ sung để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xác minhđiều kiện thi hành án dân sự và đề xuất, kiến nghị

3.1. Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện PL về xác minh điều kiện THADS

a) Về pháp luật thi hành án dân sự:

– Cần nghiên cứu quy định trong một số loại vụ việc thì xác minh điều kiện thi hành án là nghĩa vụ của chấp hành viên như Luật sửa đổi, bổ sung như án chủ động, án bồi thường, hôn nhân…; nhưng một số trường hợp nên quy định là trách nhiệm của người được thi hành án như Luật năm 2008 như án tín dụng, ngân hàng, án lừa đảo, trả nợ…. nhằm tăng trách nhiệm của người được thi hành án và giảm bớt gánh nặng của chấp hành viên, góp phần giảm án tồn đọng hàng năm.

– Cần quy định cụ thể hơn về nội dung xác minh thi hành án. Đối với quy định yêu cầu người phải thi hành kê khai tài sản, nên quy định bắt buộc ở một số trường hợp nhất định, còn lại là khuyến khích đối với chấp hành viên.

– Nghiên cứu để có bổ sung thêm trường hợp không có điều kiện thi hành án là tài sản lớn gấp (mấy lần?) đối với nghĩa vụ? bỏ trường hợp không có điều kiện thi hành khi vật đặc định không còn. Bổ sung thêm quy định chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người phải thi hành án có tài sản là vật không thể tách rời có giá trị chênh lệch quá lớn so với nghĩa vụ thi hành án.

– Để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc cung cấp thông tin mà mình đang nắm giữ và phối hợp tốt trong hoạt động thi hành án dân sự thì cần có quy định rõ hơn, cụ thể hơn, mạnh hơn về chế tài xử lý đối với trường hợp chưa phối hợp.

– Trong Quy định của ngành Ngân hàng, cần quy định ngân hàng có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin khách hàng, trừ trường hợp khách hàng là người phải thi hành án thì ngân hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản của người phải thi hành án theo yêu cầu của chấp hành viên.

– Đề nghị quy định rõ mức chi kinh phí đảm bảo cho hoạt động phối hợp thi hành án; những trường hợp được thuê chuyên gia và mức kinh phí đảm bảo.

– Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các văn phòng Thừa phát lại và cơ quan Thi hành án dân sự trong tổ chức thi hành án dân sự, sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do Thừa phát lại cung cấp nhằm giảm tải gánh nặng cho chấp hành viên trong xác minh điều kiện thi hành án.

b) Pháp luật về tài chính, ngân hàng, dân sự cần có quy định mở rộng phạm vi các giao dịch phải thông qua tài khoản, hạn chế sử dụng tiền mặt trong nhân dân.

b) Quy định đồng bộ việc kê khai, đăng ký tài sản, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký tài sản để sử dụng cho việc tra cứu, cung cấp thông tin tài sản.

c) Cần có quy định thống nhất, đồng bộ về cơ chế kiểm soát nguồn thu nhập, tài sản của người phải thi hành án thông qua việc đăng ký, kê khai tài sản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác minh tài sản.

3.2. Các kiến nghị, đề xuất

a) Kính đề nghị Tổng cục Thi hành án dân sự:

– Thường xuyên tổ chức các hội nghị tập huấn chuyên sâu về xác minh điều kiện thi hành án cho chấp hành viên và thư ký thi hành án;

– Quan tâm việc kịp thời cấp thẻ, đổi thẻ chấp hành viên trong trường hợp mới được bổ nhiệm hoặc có thay đổi đơn vị công tác.

c) Kính đề nghị UBND tỉnh:

– Quan tâm, chỉ đạo các cơ quan liên quan như cơ quan đất đai, Ngân hàng nhà nước… phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin kịp thời chính xác cho cơ quan THADS khi có yêu cầu.

– Có giải pháp chấn chỉnh công t ác quản lý nhân, hộ khẩu đối với người lao động tự do trên địa tỉnh/.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ:

http://thads.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: