GIẢI QUYẾT TRIỆT ĐỂ VẤN ĐỀ ĐẤT ĐAI: MỘT TRONG NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ

Hình ảnh có liên quanTS. ĐẶNG KIM SƠN -  Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp, nông thôn

I. Định hướng tái cơ cấu nền kinh tế

Trong vòng 25 năm kể từ khi áp dụng chính sách Đổi mới theo định hướng thị trường, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng ấn tượng ở mức 7-8%/năm. Trong khu vực nông nghiệp, chính sách giao đất cho hộ nông dân đã tạo ra động lực lớn cho tăng trưởng nông nghiệp ở mức 3-4%/năm.

Từ một nước thiếu ăn thường xuyên, Việt Nam đã đảm bảo được an ninh lương thực, hỗ trợ công nghiệp hóa và trở thành nước xuất khẩu đứng thứ hạng cao trên thế giới về các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, chè, tiêu, điều, thủy sản và đồ gỗ.

Tăng trưởng kinh tế cũng đã tạo ra tác động tích cực đối với xóa đói giảm nghèo với tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ mức 51% năm 1992 xuống còn 14% năm 2010. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, biến đất đai thành tài sản để đầu tư và tư liệu tạo sinh kế cho người nghèo, tạo cơ chế bình đẳng đối với quyền sử dụng đất của nông dân là giải pháp quan trọng để giảm nghèo, đảm bảo công bằng và ổn định xã hội.

Sau một thời gian phát triển thuận lợi, đã có nhiều cảnh báo rằng Việt Nam đã đạt đến ngưỡng của tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên đầu tư cao và khai thác tài nguyên nhất là đất và nước đang có xu hướng suy giảm trong thời gian gần đây. Nếu không có đột phá về vốn, khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất để sử dụng đất nông nghiệp một cách hiệu quả và bền vững, nông nghiệp Việt Nam khó có thể tiếp tục là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Bất bình đẳng cũng có xu hướng gia tăng giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và miền xuôi, giữa nhóm dân tộc thiểu số và nhóm Kinh, giữa các nhóm giàu nhất và nghèo nhất tại khu vực nông thôn.Đặc biệt, trong bối cảnh suy thoái kinh tế gần đây tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại.

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới và bất ổn kinh tế vĩ mô, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra một trong những mục tiêu chủ yếu của nước ta trong giai đoạn 2011-2015 là: “Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.” Ngành nông nghiệp sẽ tái cơ cấu, đổi mới sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, phát huy lợi thế so sánh, ưu tiên phát triển các ngành hiệu quả và có khả năng lan tỏa cao.

Như vậy, để đạt được những mục tiêu của tái cơ cấu kinh tế, không thể không tính tới các vấn đề về đất đai, một trong những tài nguyên quan trọng nhất, đặc biệt là những vấn đề về tăng hiệu quả sử dụng đất, đảm bảo tính bền vững trong sử dụng đất, đảm bảo công bằng về quyền lợi đối với đất đai và vấn đề sở hữu đất. Những vấn đề bất cập liên quan tới đất đai dưới đây đang là cản trở đối với quá trình tái cơ cấu kinh tế và cần có những quan điểm mới nhằm tạo tiền đề cho quá trình tái cơ cấu kinh tế đất nước.

II. Những vấn đề về đất đai hiện nay

1. Đất đai sử dụng lãng phí nguồn lực tương lai

Nguồn lực đất đai chưa thực sự được huy động hiệu quả nhất để trở thành động lực cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển tràn lan nhưng tỷ lệ lấp đầy thấp, sử dụng lãng phí. Tình trạng đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư nhưng chậm sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng vẫn còn diễn ra khá phổ biến.

Trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, hiệu quả sử dụng đất còn thấp.Tốc độ tăng hệ số sử dụng đất lúa có xu hướng giảm từ 2,15% giai đoạn 1990-2000 xuống còn -0,03% giai đoạn 2000-2009, do đó tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng của hệ số sử dụng đất giảm từ 40,4% giai đoạn 1990-2000 xuống còn -1,5% giai đoạn 2000-2009.

Điều đó cho thấy hệ số sử dụng đất giai đoạn sau giảm so với giai đoạn trước. Ngành lâm nghiệp với diện tích lớn, gần 14 triệu ha, nhưng có đóng góp rất nhỏ cho nền kinh tế quốc dân khoảng 1% GDP (tính giá trị kinh tế đơn thuần), khoảng 3-4% (nếu tính cả giá trị kinh tế và giá trị môi trường).

Diện tích lớn đất giao cho các nông, lâm trường quản lý, sử dụng kém hiệu quả. So với doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong cùng lĩnh vực, bình quân tỷ lệ doanh thu/vốn, lợi nhuận/vốn của nông lâm trường tương ứng lần lượt là 0,61 và 0,07; trong khi của doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong cùng lĩnh vực là 1,5 và 0,14[1].

Theo tính toán của nhóm nghiên cứu Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, dựa trên định mức giá của các địa phương năm 2010, tổng số đất mà các nông lâm trường quốc doanh đang nắm giữ có giá trị ít nhất khoảng 47 tỷ đô la, nhưng được sử dụng rất kém hiệu quả làm lãng phí tài nguyên của đất nước.

Trước sắp xếp, đổi mới nông lâm trường quản lý 4,6 triệu ha trong đó các NTQD quản lý gần 524.000 ha (402.000 ha đất nông nghiệp); LTQD quản lý gần 4,1 triệu ha (3,9 triệu ha đất lâm nghiệp). Sau khi sắp xếp, đổi mới, diện tích nông lâm trường quản lý giảm xuống chỉ còn lại khoảng 4 triệu ha[2].

Tuy nhiên, đây chỉ là các số liệu báo cáo còn trên thực tế diện tích do các nông lâm trường quốc doanh thực sự quản lý có thể thấp hơn rất nhiều. Trong quá trình sắp xếp, đổi mới, đa số NLTQD chỉ rà soát đất đai theo số liệu trên sổ sách rất ít đơn vị thực hiện đo đạc, cắm mốc ngoài thực địa.

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, một diện tích lớn đất đai được tính vào sổ sách của nông lâm trường nhưng thực tế là chưa thu hồi được từ những đối tượng mà nông lâm trường đã giao đất dưới hình thức cho thuê, cho mượn, liên doanh liên kết[3].

Đất trống đồi núi trọc vẫn còn chưa đưa vào khai thác phổ biến tại các vùng trên cả nước.Theo số liệu của Viện quy hoạch rừng thì đến năm 2005 nước ta vẫn còn gần 6,5triệu héc ta đất trống đồi núi trọc, tập trung chủ yếu ở hai khu vực là Đông Bắc (1,3 triệu ha) và Tây Bắc (1,7 triệu ha) trong khi trữ lượng rừng tại khu vực này thấp. Đây không những là lãng phí về đất đai mà còn gây mối quan ngại cho hiểm họa về môi trường.

2. Ruộng đất manh mún, người sử dụng hiệu quả không có điều kiện tích tụ đất

Ước tính đến năm 2007 cả nước có 9,4 triệu ha đất nông nghiệp[4], trung bình diện tích đất nông nghiệp trên đầu người là 0,16ha, chưa bằng 1/3 so với Thái Lan và Campuchia[5]. Số liệu thống kê năm 2010 cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ dân là 0,85ha, trung bình một hộ có 5,7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ dân là khoảng 4,7km. Ruộng đất phân tán cản trở quy mô sản xuất, cơ giới hóa và áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất. Số liệu điều tra cho thấy hộ nông dân càng có nhiều mảnh đất thì lại nhuận trung bình thu được từ mảnh đất đó càng giảm và chi phí càng tăng.

Tuy nhiên, khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân rất thấp. Kinh tế trang trại phát triển chậm, chỉ chiếm 1% số nông hộ. Quy mô đất trung bình của một trang trại cũng chỉ đạt 6 ha. Trong khi đó, hoạt động của thị trường đất nông nghiệp rất yếu ớt. Chỉ có 2,5% hộ nông thôn bán quyền sử dụng đất trong 5 năm từ 2001-2005.

Hoạt động thị trường thuê đất ở nông thôn cũng rất hạn chế. Rất nhiều nông dân sản xuất không hiệu quả, kiếm thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi nông nghiệp, phi chính thức nhưng vẫn muốn giữ đất để bảo hiểm rủi ro do thiếu hệ thống an sinh xã hội chính thức tại nông thôn.

Trong khi đó, với nguồn tích lũy hạn chế và thiếu hỗ trợ tín dụng nên rất khó cho các nông dân giỏi có đủ khả năng mua hoặc thuê lại đất của các nông dân khác. Kết quả là rất nhiều đất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô được các nhà đầu tư thành thị mua hoặc thuê để đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả hoặc đất rừng hoạt động theo hình thức phát canh thu tô.

3. Hệ số quay vòng đất giảm

Hiện nay, lao động nông thôn di cư ra làm việc tại đô thị, nhưng vẫn giữ đất ở quê mà không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho những người ở lại nên không tăng được hiệu quả sử dụng đất. Đất bị bỏ hoang hóa hoặc không chăm sóc, đất nhận khoán bị nông dân trả lại cho chính quyền tạo ra sự lãng phí rất lớn. Hệ số quay vòng đất lúa từ năm 2000 đến nay có xu hướng giảm. Trong khi hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,33 năm 1985 lên 1,82 năm 2000, năm 2006 hệ số này giảm xuống còn 1,74 và năm 2009 là 1,81.

4. Quy hoạch chồng chéo, ngắn hạn, bị phá vỡ thường xuyên

Chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp, quy hoạch ngành không gắn kết, trình tự quy hoạch không đi từ tổng thể đến chi tiết, và nhiều kế hoạch không phù hợp quy hoạch mà vẫn thực hiện. Quy hoạch ngắn hạn, kém hiệu quả dẫn tới sự lãng phí về tài nguyên đất. Sự phát triển ồ ạt của các sân golf, sân bay, cảng biển… không tính đến hiệu quả, mức độ cần thiết của từng dự án.

Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật và chính sách đất đai hiện nay được ban hành quá nhiều, thay đổi thường xuyên, thiếu tính thống nhất, chồng chéo làm cho việc quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn; hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý đất đai thiếu tính thống nhất; các luật và văn bản chính sách mâu thuẫn, không thống nhất khi thực hiện gây thiệt hại cho nhà đầu tư, khiến nhiều nhà đầu tư không yên tâm đầu tư sản xuất lâu dài. Ví dụ chồng chéo trong quy hoạch đất rừng là một trong những nguyên nhân làm giảm chất lượng rừng, đe dọa môi trường bền vững. Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển rừng gặp nhiều khó khăn do sự chồng chéo của nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Điển hình như trong các luật Luật đất đai (2003), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Bảo vệ môi trường (2005) và Luật đa dạng sinh học (2008) đều có nội dung điều chỉnh quy hoạch đất rừng theo các cách khác nhau.

5. Bất bình đẳng trong việc đảm bảo các quyền về đất

Đối với hầu hết nông dân Việt Nam, đất đai là tài sản cơ bản. Luật Đất đai hiện tại cho phép nông dân quyền sử dụng, chuyển giao, cho thuê, thừa kế, thế chấp, cho/tặng, và góp vốn. Theo đúng luật, nông dân trồng lúa cần phải được chính quyền địa phương cho phép để chuyển mục đích sử dụng đất lúa sang mục đích nông nghiệp khác. Thời hạn giao đất bị hạn chế, đối với hộ gia đình và cá nhân canh tác cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản, thời gian giao đất là 20 năm và đối với cây lâu năm, đất rừng là 50 năm.

Luật cũng đặt mức hạn điền cho mỗi hộ theo từng loại đất. Theo Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11[6] về hạn mức giao đất nông nghiệp hàng năm ở miền Bắc và miền Trung là 4 ha và ở miền Nam là 6 ha. Đối với cây lâu năm, mức hạn điền là 20 ha ở vùng đồng bằng và 50 ha ở vùng trung du và miền núi. Trong thực tế, quyền sử dụng đất của nông dân bị hạn chế, thu hẹp và bị giám sát sát sao.

Trong khi đó, người sử dụng đất đô thị được hưởng lợi nhiều hơn từ cơ chế chính sách: không bị giới hạn về thời gian, quy mô, thủ tục giao dịch thuận lợi hơn, mức độ bồi hoàn cao hơn khi bị thu hồi, quy hoạch rõ ràng hơn, giá trị đất đai cao hơn, thế chấp vay vốn dễ hơn rất nhiều so với đất nông nghiệp.

Các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, thiệt thòi trong tiếp cận và sử dụng đất để đảm bảo sinh kế, đồng thời cũng là nhóm dễ bị tổn thương trước các tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu.

Mặc dù Luật đất đai 2003 công nhận quyền quản lý và sử dụng đất của một số cộng đồng, nhưng cộng đồng lại không có quyền ngang bằng với cá nhân hay tổ chức trong chuyển đổi mục đích sử dụng, không được phép chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, cho tặng và thế chấp.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách và quy định liên quan đến đất đai cũng chưa thực sự hợp lý làm nảy sinh nhiều xung đột, mất đoàn kết trong các cộng đồng. Chẳng hạn như chính sách phát triển các nông lâm trường quốc doanh đã lấy đi rất nhiều diện tích đất của đồng bào một cách tùy tiện không tính đến lịch sử về quyền sở hữu đất đai của họ.

6. Phân phối và tái phân phối lợi ích thu được từ đất chưa tốt

Việc giao đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án sử dụng đất còn hạn chế. Nhà nước chưa thực hiện tốt vai trò điều tiết nguồn lợi từ đất thông qua xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đầu tư kết cấu hạ tầng; chưa đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Trong đó, phần địa tô tăng lên do quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng của Nhà nước chủ yếu rơi vào túi của nhà đầu tư.

Ngoài ra, ở Việt Nam, các loại thuế đất đai và bất động sản vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Thị trường đất và bất động sản thành thị là một nguồn thu thuế đáng kể nhưng thuế suất thực và doanh thu từ thuế còn thấp không tạo ra nguồn thu đáng kể, đặc biệt cho ngân sách địa phương[7].

Báo cáo gần đây của Bộ Tài chính cho thấy thuế đất tại Việt Nam không tạo ra nguồn thu đáng kể, đặc biệt cho ngân sách địa phương. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng các nguồn thu từ đất của Việt Nam chiếm khoảng 5 – 8% tổng thu ngân sách nhà nước, trong đó chủ yếu là thu tiền sử dụng đất.

So với các quốc gia khác khoản thu từ thuế đất đai của Việt Nam khá thấp. Trong 2 thập kỷ trở lại đây, mức độ đóng góp trung bình trong GDP từ thuế đất và nhà ở tại các nước có nền kinh tế phát triển (OECD) là 2%. Các nước đang phát triển khác cũng đạt 0,5% và các nước chuyển đổi đạt mức 0,6% (Rosengard và Đỗ Ngọc Huỳnh, 2008). Nếu tính riêng tiền thu từ thuế đất đai và nhà cửa của Việt Nam chỉ chiếm 0,07% GDP năm 2010[8].

Thông thường, thuế đất có thể tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương. Tại các nước OECD con số này là 13%, các nước đang phát triển đạt 16% và tại các nước chuyển đổi là 8,5%. Trong khi đó ở Việt Nam con số này là rất thấp, chỉ vào khoảng 6-7%[9](Rosengard và Đỗ Ngọc Huỳnh, 2008).

Thất thu thuế đất làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam. Những người có khả năng tiếp cận với đất và bất động sản đang gia tăng tích lũy của cải mà không phải đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Trong khi nông dân nông thôn lại chịu thiệt thòi vì không được đầu tư bù đắp.

7. Đời sống của nông dân sau khi bị thu hồi đất bấp bênh

Chính sách thu hồi đền bù chưa thực sự thỏa đáng, tạo nguy cơ tham nhũng cao, bồi thường không công bằng gây bất bình và bất ổn xã hội, hầu hết các dự án thu hồi đền bù chưa tính đến sinh kế lâu dài cho người nông dân mất đất.

Thời gian qua, mặc dù Nhà nước và các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng đền bù, hỗ trợ giải quyết việc làm nhưng 53% thu nhập của số hộ bị thu hồi đất bị giảm và có tới 34,5% số hộ có điều kiện sống thấp hơn so với trước khi bị thu hồi đất. Nông dân bị thu hồi đất mất đi tư liệu sản xuất nhưng thường chỉ được bồi thường bằng tiền.

Đặc biệt, các dự án tái định cư thủy điện còn nhiều bất cập, tác động tiêu cực đến sinh kế một bộ phận lớn người dân tộc thiểu số. Ở nhiều nơi, việc đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư chưa quan tâm đúng mức đến phong tục, tập quán của người dân tộc, thiếu sự gắn bó với truyền thống văn hoá lâu đời của người dân bản địa.

Nhìn chung, trong thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp,thiếu cơ chế phản ánh khiếu nại và xử lý tranh chấp. Nhìn chung, trong thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp, tiếng nói của người dân ít được coi trọng gây nên tình trạng khiếu kiện, bất ổn ở nhiều nơi, tình trạng lạm dụng, tham nhũng khá nghiêm trọng.

8. Khai thác tài nguyên quá mức cho phép (rừng, nước, khoáng sản)

Chương trình trồng 5 triệu ha rừng đến năm 2010 mới đạt kế hoạch 63,4% (tái sinh rừng khoảng 1 triệu ha, trồng mới 2,17 triệu ha rừng). Chất lượng rừng suy giảm rất nhiều, rừng giàu, nguyên sinh chỉ còn khoảng 10%. Rừng ngập mặn vẫn bị thu hẹp dần và khai thác quá mức. Tổng diện tích rừng ngập mặn hiện nay so với năm 1990 chỉ còn khoảng 60%, so với năm 1943 chỉ còn 37%.

Tình trạng chiếm đất, phá rừng trái phép còn xảy ra trầm trọng.Nhiều loại khoáng sản chủ yếu đã khai thác quá mức, đang dần cạn kiệt. Trữ lượng than trong bờ và dầu ngoài khơi ở các mỏ hiện nay chỉ còn khai thác được khoảng vài ba chục năm nữa. Cấp phép khai thác khoáng sản còn chồng chéo, tùy tiện và nhiều sơ hở, đặc biệt là việc cấp phép khai thác khoáng sản thuộc quyền quản lý của các địa phương. Hậu quả khai thác kinh doanh bừa bãi khoáng sản đang gây tác hại khôn lường cả về kinh tế, xã hội và môi trường ở nhiều nơi.

9. Ô nhiễm môi trường đất, nước nghiêm trọng

Quá trình đầu tư phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị đã mang lại tỷ lệ tăng trưởng khá cao của kinh tế Việt Nam, nhưng đã xả ô nhiễm khá cao ra khu vực nông thôn, đặc biệt tại ĐBSH và ĐBSCL. Bên cạnh tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải từ các khu công nghiệp, khu đô thị gây ra, chất thải rắn cũng đang tạo nên những nguy cơ lớn cho bền vững môi trường. Nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, ô nhiễm môi trường nước ngày càng tăng, nhiều dòng sông trước đây có chất lượng nước thuộc loại A, nay đã suy thoái trở thành nước loại B, một số đoạn sông đã trở thành sông “chết”, úng ngập đô thị ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là ở các đô thị lớn.

Việc sử dụng, lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp là nguồn gây ô nhiễm to lớn làm bẩn môi trường đất, nước. Bộ NN&PTNT cho biết ở nước ta lượng phân bón sử dụng trong nông nghiệp ngày càng tăng, cả về số lượng lẫn chủng loại, mặc dù ở nhiều nơi mức sử dụng đã vượt quá giới hạn cần thiết. Các khu sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tập trung cũng là nguồn xả chất thải quan trọng không những làm hại cho môi trường mà còn làm phát sinh dịch bệnh gây hại trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp.Tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề, khu dân cư nông thôn cũng đáng báo động.

II. Quan điểm đề xuất giải quyết vấn đề đất đai làm tiền đề cho tái cơ cấu kinh tế

(1) Đất là tài sản đặc biệt chỉ có thể sử dụng và khai thác có hiệu quả nhờ vào sự quản lý và đầu tư ổn định, lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phải được đảm bảo an toàn dài hạn bằng việc xác định rõ chủ thể sở hữu (hướng tới đa sở hữu), xác lập quy hoạch, ước tính giá trị thì mới có thể tạo ra động lực để các chủ thể quản lý và sử dụng khai thác một cách hiệu quả.

(2) Cơ chế thị trường là giải pháp điều chuyển sử dụng đất một cách linh động để đảm bảo hiệu quả kinh tế nhất. Vì vậy, phải hình thành nên thị trường giao dịch, chuyển nhượng, cho thuê với điều kiện vận hành thuận lợi nhất, chi phí giao dịch thấp nhất. Dựa trên các động lực thị trường, giao đất cho nông dân trực canh khuyến khích họ tích tụ ruộng đất phát triển sản xuất lớn hàng hóa, áp dụng KHCN và cơ giới hóa để tăng hiệu quả sử dụng đất.

(3) Phát huy vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ và tạo động lực cho các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các loại đất chưa đem lại hiệu quả kinh tế như đất trống đồi núi trọc, đất rừng đặc dụng… Bảo vệ thành quả của cách mạng đối với đất công (đặc biệt đất NLTQD), phát huy giá trị, khả năng sử dụng và quản lý đất công thống nhất bởi các cơ quan có đủ năng lực đại diện của nhân dân.

(4) Cương quyết chấm dứt thái độ hy sinh nông nghiệp nông thôn để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa. Thay vào đó, cần phát triển cân đối giữa các ngành/vùng, dựa trên lợi thế so sánh, phát huy tối đa khả năng liên kết của các ngành để tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, định hướng giãn phát triển công nghiệp, đô thị về nông thôn, tăng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn.

(5) Thiết kế, triển khai và giám sát thực hiện chính sách và quy hoạch cần đảm bảo chính xác các cân bằng chính giữa các ngành, các vùng, các đối tượng và có sự tham dự của mọi đối tượng. Nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước và tăng cường sự tham gia của người dân trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất, tạo công bằng và ổn định xã hội.


[1] Tổng cục thống kê

[2]Giai đoạn 2003 – 2010, NTQD đã bàn giao trả địa phương 48 nghìn ha, chiếm 15,80% diện tích được giao. Diện tích đất doanh nghiệp nông nghiệp đang quản lý đến năm 2010 là 355 nghìn ha, chiếm 93,14% diện tích được giao quản lý năm 2003; bình quân một doanh nghiệp quản lý khoảng 2.075 ha. Bên cạnh đó, LTQD cũng đã bàn giao trả địa phương 32,02% diện tích được giao, chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp thuộc diện tranh chấp hoặc bị lấn chiếm. Diện tích đất doanh nghiệp lâm nghiệp đang quản lý đến năm 2010 là 1.790 nghìn ha, chiếm 71,76% diện tích được giao quản lý năm 2003; bình quân một doanh nghiệp quản lý khoảng 11.685 ha.

[3]Tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh theo Nghị định số 170/2004/NĐ-CP và Nghị định số 200/2004/NĐ-CP (2011)

[4] Niên giám Thống kê 2007

[5] World Bank 2009

[6]Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 về Hạn mức nhận chuyểnquyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhânđể sử dụng vào mục đích nông nghiệp.

[7]Thuế đất mang lại nguồn thu cho các cấp chính quyền để trang trải cho việc xây dựng và duy tu cơ sở hạ tầng, giúp nâng cao khả năng sản xuất của đất. Khi chất lượng của dịch vụ hạ tầng có xu hướng được vốn hóa trong giá trị của đất, đánh thuế đất sẽ khiến cho người sử dụng đất chia sẻ phần nào lợi ích của họ với Chính phủ.  Nếu không có thuế, người sử dụng đất tự nhiên được hưởng trợ cấp của những người đóng thuế khác, hoặc từ những người dân Việt Nam nói chung đang chịu các phí tổn của lạm phát và đồng tiền mất giá do thâm hụt ngân sách chính phủ. Ngoài ra, khi chính quyền địa phương đã có nguồn thu từ thuế đất hàng năm thì họ sẽ ít bị phụ thuộc vào sự cấp phát của Chính quyền trung ương. Điều này cũng thúc đẩy họ khuyến khích các hình thức sử dụng đất hiệu quả hơn tại địa phương vì có như vậy mới tăng cường cơ sở cho nguồn thu từ thuế.  

[8] TCTK, 2010

[9] Rosengard và Đỗ Ngọc Huynh (2008, tr. 27) cho biết mặc dù tại Tp Hồ Chí Minh thị trường bất động sản sôi động nhưng thu từ nó lại rất thấp: “… chỉ có 6.3% của ngân sách thường xuyên là từ các khoản phí hàng năm và khoản thu từ hoạt động liên quan tới nhà đất và xây dựng.”

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trích dẫn từ: http://cus.vnu.edu.vn/content/nghien-cuu-dao-tao/giai-quyet-triet-de-van-de-dat-dai-mot-trong-nhung-tien-de-cua-qua-trinh

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: