“PHÁ” BA RÀO CẢN VĨ MÔ TRONG TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT

Kết quả hình ảnh cho TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤTTS ĐẶNG KIM SƠN  (Civillawinfor Tổng hợp từ bài Phỏng vấn của MAI THANH – Báo Diễn đàn Doanh nghiệp).

1. Thực trạng tích tụ đất đai ở Việt Nam hiện nay

Ở một nước mà 70% dân số sống ở nông thôn, hơn 50% lao động sống nhờ nông nghiệp như VN thì đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, là nền tảng tổ chức sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, chủ trương người cày phải có ruộng theo khía cạnh công bằng xã hội vẫn đứng vững trong cách suy nghĩ của nhiều người, ngay những người làm công tác quản lý nhà nước. Chăm lo sinh kế cho người dân nông thôn phải gắn với chủ trương chia đều ruộng đất, ngăn không để có người tích tụ nhiều đất làm địa chủ, người mất đất thành tá điền làm thuê.

Tuy nhiên, nếu xét về khía cạnh hiệu quả kinh tế thì sản xuất nông nghiệp thường đi liền với nhu cầu tích tụ ruộng đất. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất lớn, phải đạt tới quy mô nhất định thì mới đảm bảo sinh lời. Quy mô sản xuất lớn đến đâu, tùy thuộc vào hệ thống canh tác, tức là mức độ cơ giới, hệ thống giống, công nghệ kỹ thuật, khả năng quản lý… Mức độ cơ giới hóa tăng, áp dụng khoa học công nghệ mạnh hơn thì quy mô tối ưu cũng tăng.

Ở đây xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội:

Thứ nhất, một bên là công bằng, một bên là lợi nhuận. Vấn đề là chọn mục tiêu gì làm ưu tiên? Từ đó sẽ dẫn đến áp dụng chính sách gì? Muốn công bằng thì đặt mức hạn điền, ngăn cản tích tụ ruộng. Muốn hiệu quả thì nâng mức hạn điền, tạo điều kiện mua bán, cho thuê đất dễ dàng,… Tuy nhiên, nếu chỉ ổn định sinh kế giữa nông dân với nhau cũng không thể tránh khỏi mất công bằng trong toàn xã hội khi dân cư ở khối phi nông nghiệp nhờ có năng suất lao động cao hơn sẽ không ngừng tăng mức sống nhanh hơn.

Thứ hai, nói về chuyện quỹ đất sẵn có. Các nước có quỹ đất rộng như: Mỹ, Úc, hay Canada…thì quy mô một hộ nông dân của họ có tới hàng trăm hécta hay cả nghìn là chuyện bình thường. Ở Châu Âu hàng chục hécta, ở các nước Đông Á, Đông Nam Á như Nhật Bản, Thái Lan ít nhất họ cũng có một vài ha. Trong khi đó, tại Việt Nam chỉ có hơn nửa hécta, lại còn chia thành nhiều mảnh. Như vậy, nếu muốn tăng khả năng cạnh tranh của nông dân Việt Nam mà tiến hành tích tụ thì những người khác phải ra khỏi nghề nông đi tìm nguồn sinh kế khác.

2.  “Giấc mơ đại điền” đến thời điểm hiện tại và những giải pháp để có thể phát huy được hiệu quả từ phép cộng ba yếu tố

Quá trình này đang diễn ra nhưng quá chậm so với năng lực và nhu cầu. Thực ra, chúng ta cũng đã có những gia đình quản lý hàng trăm hécta. Các công ty sử dụng hàng ngàn hécta, các trang trại hàng ngàn đầu lợn xuất hiện khá nhiều rồi. Trong khi đó, cũng có nhiều doanh nghiệp trước kia là nông lâm trường quốc doanh trên danh nghĩa quản lý hàng chục ngàn hecta rất kém hiệu quả và cũng rất nhiều nhà đầu tư có vốn, có kỹ thuật đang mong đợi có đất để trồng rừng, phát triển sản xuất. Năng lực phát triển của người nông dân, của doanh nghiệp mình mạnh hơn nhiều so với thực tế. Quĩ đất đai hiện đang là yếu tố cản trở tiềm năng nông nghiệp Việt Nam.

Đúng là hiện nay, cũng đã có một số doanh nghiệp đã và đang đạt được những thành công nhất định trong phát triển xây dựng mô hình cánh đồng lớn như Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang trước đây. Nhưng theo tôi, muốn tích tụ được đất đai thì phải giải quyết được 3 vấn đề.

Thứ nhất, gắn với thị trường lao động, thậm chí là gắn với chiến lược công nghiệp hóa: làm sao tạo ra việc làm và thu nhập phi nông nghiệp một cách chính thức để rút mạnh lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp.

Thứ hai, là tạo điều kiện cho những nông dân có năng lực ở lại, tích tụ được đất: thủ tục thuê đất, mua đất thuận lợi, chi phí giao dịch rẻ, có vốn mua đất, mua máy, có đường, có điện áp dụng cơ giới, mảng này gắn với thị trường đất đai và cơ sở hạ tầng.

Thứ ba, gắn với vấn đề phát triển nông thôn, có chính sách để có thể thu hút các DN đầu tư vào nông thôn, hợp tác với nông dân sản xuất lớn giải quyết vấn đề đầu vào và đầu ra cho nông nghiệp. Ba mảng này phải lồng ghép với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế chung, kể cả việc sửa đổi Luật Đất đai.

Về giải pháp:

Cần phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, tư duy về công bằng xã hội, tạo cơ hội cho người lao động tiến vào tương lai chứ không phải là cào bằng tư liệu sản xuất quá khứ. Nhưng cuối cùng, mục tiêu cốt lõi theo tôi là vấn đề con người. Ở đây chính là người nông dân. Từ 50% lao động làm việc trong nông nghiệp hiện nay rút xuống chỉ còn 5-10% trong tương lai. Số còn lại chắc chắn phải ra đi, nhưng đi đâu, làm gì thì rất thiếu định hướng. Không giải được bài toán này thì đừng nói đến chuyện tích tụ, chuyện hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mà đến bảo vệ đất nước, phát triển kinh tế vững bền, ổn định chính trị quốc gia cũng khó. Khi nông nghiệp đẩy ra, công nghiệp đóng lại thì dường như chỉ có một con đường để lao động có việc làm, đó là đi vào “nền kinh tế dịch vụ”.

Hiện nay, tất cả các nền kinh tế phát triển đều thiếu lao động trẻ vì dân số già nhanh chóng. Một lực lượng lao động trẻ, có trình độ văn hóa, và khả năng tiếp thu tay nghề tốt như VN là rất hiếm. Trong khi đó, nền kinh tế dịch vụ chia ra như một cái tháp. Ở trên chóp là những ngành cao cấp như thời trang, giải trí, thiết kế, chế tạo, tài chính, phần mềm… thì các nền kinh tế phát triển và đang phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Công, Ấn Độ… nắm. Ở mức phục vụ đào tạo, y tế, du lịch… thì Singapore, Úc, Thái Lan… đang chiếm lĩnh; phần giữa có qui mô khổng lồ như xây dựng, an ninh, lái xe, buôn bán… và phần thấp hơn nữa như giúp việc nhà, thủy thủ, vệ sinh môi trường, nông nghiệp mùa vụ… thì Philippine, Ấn Độ, Trung Quốc… đang tham gia ngày càng mạnh. Ngoài ra, ngành du lịch trải rộng ra ở các cấp. Việt Nam nếu biết phát triển hợp lý tài nguyên con người thì có thể cùng lúc tiến vào ở mọi cấp với tỷ lệ khác nhau. Nhưng “cánh cửa” tuổi vàng chỉ còn mở cho chúng ta trong một vài chục năm nữa thôi, chậm chân là mất cơ hội vĩnh viễn.

Khi nông nghiệp đẩy ra, công nghiệp đóng lại thì dường như chỉ có một con đường để lao động có việc làm, đó là đi vào nền kinh tế dịch vụ.

3. Kinh nghiệm khắc phục từ các nước phát triển  trước mặt trái tích tụ đất đai

Đa số quốc gia trên thế giới áp dụng hình thức đa sở hữu trong phạm trù sử dụng đối với đất đai. Ngay ở nước ta, chế độ sở hữu đa hình thức được ghi nhận đến Hiến pháp năm 1960. Hiến Pháp năm 1980 tuyên bố chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai nhưng trên thực tế, quan hệ liên quan tới đất đai không thay đổi đáng kể cho đến khi sửa đổi Luật Đất đai năm 2001 và năm 2003 phân cấp quản lý rộng hơn cho chính quyền địa phương và xuất hiện các vụ việc thu hồi đất quy mô lớn thì vấn đề này mới trở thành đề tài có nhiều thảo luận.

Gác sang một bên những tranh cãi lý luận, có rất nhiều chính sách các quốc gia áp dụng chế độ đa sở hữu về đất đai áp dụng để ngăn chặn các đối tượng lạm dụng quyền sở hữu đất đai dù công hay tư để gây thiệt hại cho lợi ích chung. Ví dụ, để ngăn chặn việc tích lũy đất nông nghiệp với mục đích đầu cơ, người ta đánh thuế theo hiệu quả khả năng sử dụng đất thực sự, hay chỉ cấp giấy chứng nhận sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân trực tiếp canh tác và chỉ cho phép đối tượng này tích lũy đất nông nghiệp. Luật lệ ngăn chặn việc người sử dụng hay sở hữu đất đai cản trở Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho mục đích chung và đã được bồi hoàn thoả đáng. Không cho phép nhân danh sở hữu hay sử dụng đất để chiếm dụng các không gian chung, cản trở hoạt động công cộng. Đây là những trường hợp lạm dụng khá phổ biến ở Việt Nam cho dù Hiến pháp đã qui định đất đai là sở hữu toàn dân. Vấn đề chính là ở qui định và thi hành pháp luật có nghiêm hay không.

SOURCE: BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://enternews.vn/pha-ba-rao-can-vi-mo-trong-tich-tu-ruong-dat.html

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: