VAI TRÒ CỦA ÁN LỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ VÀO NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY LUẬT QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hình ảnh có liên quanTS. TRẦN THĂNG LONG – Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật TPHCM

Đặt vấn đề

Án lệ trong hệ thống thông luật (common law) có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở chỗ chúng được coi là nguồn luật không thành văn áp dụng để giải quyết các vấn đề tương tự và là cơ sở để đảm bảo sự nhất quán trong hoạt động xét xử. Việc nghiên cứu án lệ là một yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên và những người làm công tác pháp luật. Trong hệ thống các giáo trình và tài liệu nghiên cứu của nhiều nước, các án lệ luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể và sự thành công trong việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào việc tìm hiểu và vận dụng các án lệ. Trong khoa học luật quốc tế, án lệ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, chúng không những là sự tổng kết của quá trình vận dụng pháp luật vào hoạt động xét xử của các thẩm phán quốc tế mà còn là phương tiện quan trọng để xác định các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế và là cơ sở vật chất cho quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế. Mặc dù vậy, ở Việt Nam, án lệ thường được tiếp cận như một loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế và việc vận dụng án lệ vào hoạt động nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế còn tương đối hạn chế.

Bài viết này nhằm tìm hiểu vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật quốc tế, qua đó tìm hiểu ý nghĩa và sự cần thiết của việc vận dụng án lệ quốc tế trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn học luật quốc tế tại Việt Nam.

1.Vai trò của án lệ trong luật quốc tế

1.1. Khái niệm án lệ

Án lệ hay những bản án, quyết định xét xử của Tòa án quốc tế (judicial decisions) được xác định là một phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế hay đầy đủ hơn là “những phương tiện bổ trợ để xác định các quy tắc pháp luật” (subsidiary means for the determination of rules of law)[1]. Thuật ngữ “án lệ” được đề cập đến tại điều 38(1) Quy chế Tòa án quốc tế[2]. (Thuật ngữ “án lệ” trong bài viết này chỉ liên quan đến vấn đề vai trò của các án lệ quốc tế đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế).Thứ nhất, án lệ được hiểu là những phán quyết (judgment/decision – nghị quyết xét xử) của Tòa án Công lý quốc tế của Liên Hiệp quốc (International Court of Justice). Ở đây khái niệm “bản án” (nghị quyết xét xử) nêu ra tại Điều 38(1) sẽ được hiểu là những phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong việc xét xử những vụ việc tranh chấp giữa các quốc gia theo quy định của Điều 34(1) và 35 của Quy chế Tòa án quốc tế. Do đó, khi Tòa viện dẫn những bản án đã xét xử thì trước hết điều đó được hiểu đây là những bản án của chính Tòa án Công lý quốc tế. Những phán quyết này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp đã đồng ý chấp nhận sự xét xử của Tòa[3] và có thể được Tòa viện dẫn trong các vụ xét xử tranh chấp tiếp theo gần giống như việc viện dẫn án lệ (precedent) trong hệ thống thông luật[4]. Tuy nhiên, khác với việc áp dụng “án lệ” trong hệ thống thông luật, các phán quyết của Tòa chỉ có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp và chỉ có giá trị đối với từng vụ việc cụ thể mà không có giá trị như là “luật” bắt buộc thi hành đối với mọi chủ thể luật quốc tế cũng như đối với các vụ việc khác tương tự xảy ra sau đó.[5] Trên thực tế, trong các vụ xét xử của Tòa, những phán quyết trước đây có liên quan đến nội dung của vụ tranh chấp hoặc tình tiết tương tự về tính chất và nội dung vụ việc thường luôn được viện dẫn nhằm làm rõ hoặc củng cố những lập luận của Tòa[6] và thực tiễn xét xử của Tòa đã cho thấy sự áp dụng khá phổ biến của các án lệ trước đó.[7]

Thứ hai, khái niệm án lệ hiểu cũng có thể bao gồm cả những kết luận tư vấn của Tòa. Mặc dù về nội hàm của Điều 38(1) được hiểu chỉ bao gồm những phán quyết có tính ràng buộc về pháp lý mà không bao gồm những kết luận tư vấn, tức là những khuyến nghị về một vấn đề pháp lý mà Tòa án được yêu cầu phải đưa ra quan điểm.[8] Xét về ý nghĩa và giá trị của những kết luận tư vấn, thể hiện qua những đóng góp của chúng vào sự phát triển của hệ thống luật quốc tế nói chung, có thể xem những kết luận tư vấn này là một dạng “án lệ” hiểu theo nghĩa rộng. Ở cách hiểu này, các bản “kết luận tư vấn” có tính chất giống như các bản án của Tòa: chúng đề cập đến một nội dung pháp lý cụ thể và làm sáng tỏ nội dung của chúng, giúp cho việc thực thi và tuân thủ pháp luật quốc tế một cách thống nhất và đúng đắn.[9] Một số các kết luận tư vấn của Tòa có giá trị thực tiễn rất lớn, bởi chúng khẳng định nguyên tắc jus cogen của luật quốc tế, xác định nội hàm pháp lý của những quy phạm pháp luật quốc tế.[10] Do đó, xét ở góc độ này, các kết luận tư vấn có thể xét như một dạng “án lệ” đặc biệt.

Ngoài ra, khái niệm “án lệ” cũng có thể được hiểu bao gồm cả những phán quyết của Pháp viện thường trực của Hội quốc liên (League of Nations).[11] Đây là cơ quan giải quyết tranh chấp tồn tại trong thời kỳ Hội quốc liên tồn tại nhưng khác với Tòa án Công lý quốc tế, Pháp viện thường trực quốc tế không phải là một cơ quan chính của LHQ. Sau khi LHQ ra đời, theo Hiến chương LHQ và Quy chế TAQT, Tòa án công lý quốc tế là cơ quan kế thừa Pháp viện thường trực quốc tế, thể hiện ở quy định những các bên tranh chấp bằng tuyên bố đơn phương của mình đã đồng ý chấp nhận thẩm quyền xét xử bắt buộc của Pháp viện thường trực quốc tế mà vẫn còn hiệu lực thì Tòa án Công lý quốc tế sẽ có thẩm quyền giải quyết.[12] Tương tự Tòa án Công lý quốc tế cũng tiếp nhận những vụ việc trong trường hợp những điều ước quốc tế mà các bên ký kết đã đồng ý rằng khi có tranh chấp xảy ra thì sẽ do Pháp viện thường trực quốc tế giải quyết.[13] Trong các phán quyết sau này của Tòa án Công lý quốc tế cũng như giáo trình và tài liệu nghiên cứu về luật quốc tế của các học giả trên thế giới thì các phán quyết trước đây của Pháp viện thường trực quốc tế vẫn thường được viện dẫn để làm sáng tỏ những phân tích và lập luận về các vấn đề pháp lý, đặc biệt như các vấn đề có tính truyền thống như luật ngoại giao và lãnh sự, luật điều ước quốc tế, bảo hộ ngoại giao, trách nhiệm pháp lý quốc tế.[14]

Thứ ba, tuy thuật ngữ “án lệ” được quy định tại Điều 38(1) Quy chế Tòa án Quốc tế, nhưng điều đó không có nghĩa là Tòa chỉ viện dẫn những án lệ của chính mình mà có thể viện dẫn tới những bản án của các cơ quan tài phán quốc tế khác.[15] “Án lệ” do đó có thể được hiểu là thuật ngữ pháp lý chỉ thực tiễn xét xử của các thiết chế tài phán quốc tế.[16] Ở cách hiểu này, khái niệm “án lệ” sẽ không chỉ dừng lại trong phạm vi những bản án đã được Tòa án Công lý quốc tế xét xử mà còn có thể bao gồm các phán quyết trọng tài do kết quả của việc lựa chọn phương thức trọng tài tự nguyện[17] hoặc bắt buộc[18]. Như vậy, “án lệ” sẽ bao gồm những bản án, phán quyết của các Tòa án quốc tế khác như Tòa án quốc tế về luật biển, các Tòa án trọng tài trong việc xét xử các tranh chấp quốc tế như vụTrail Smelter, Las Palmas… hoặc các phán quyết của Tòa án ad hoc như Tòa án quân sự xét xử các tội phạm chiến tranh Đức và Nhật năm 1945 hay các quyết định của Ủy ban trọng tài về các đơn kiện của Mỹ và Iran.[19] Theo một số học giả phương Tây thì khái niệm “án lệ” thậm chí còn có thể bao gồm cả những phán quyết của các tòa án quốc gia.[20]Tuy nhiên cách hiểu này không thể được chấp nhận, bởi lẽ các nguồn của pháp luật trong nước (bản án của các Tòa án quốc gia) không thể viện dẫn trực tiếp như một nguồn của pháp luật quốc tế, chúng chỉ có thể được viện dân với tư cách nguồn luật tham khảo.

Những phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế khác trong trường hợp này đã có những đóng góp nhất định đến sự phát triển của luật quốc tế, đặc biệt khi chúng được viện dân trong các vụ tranh chấp sau đó hoặc trong các công trình nghiên cứu về luật quốc tế cũng như được sử dụng bởi Ủy ban Pháp luật quốc tế của Liên Hiệp quốc. Chẳng hạn phán quyết của Ủy ban Trọng tài quốc tế trong vụ Alabama Claims 1898[21] có ý nghĩa mở đường cho việc áp dụng rộng rãi việc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình mà cụ thể là phương thức trọng tài và tòa án quốc tế[22]. Phán quyết của trọng tài Max Huber trong vụ Las Palmas[23] đã đóng vai trò to lớn trong việc làm rõ vấn đề chủ quyền lãnh thổ và phương thức chiếm hữu lãnh thổ hợp pháp trong luật quốc tế hiện đại, sau đó được viện dân trong rất nhiều vụ quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa có liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Trong lĩnh vực môi trường quốc tế, các phán quyết của những cơ quan tài phán quốc tế đã góp phần hình thành hệ thống các quy phạm tập quán trong luật môi trường quốc tế. Chẳng hạn như các phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration, PCA) trong vụ MOXplant giữa Ireland và Anh,[24] Iron Rhine (Bỉ và Hà Lan),[25] Tòa án Quốc tế về Luật biển (International Tribunal for the Law of the Sea, ITLOS) trong vụ MOX (Ireland và Anh);[26] Trung tâm Quốc tế về giải quyết các tranh chấp về đầu tư (International Centre for the Settlement of Investment Disputes, ICSID) trong các vụ Trail Smelter (Mỹ và Canada)[27] hay Metaclad (Metalclad Corporation và Mexico).[28]

Như vậy, trong khoa học luật quốc tế, khái niệm “án lệ” nên được hiểu theo nghĩa rộng chỉ cho tất cả những phán quyết, kết luận tư vấn của các cơ quan tài phán quốc tế, trong đó trước tiên và chủ yếu là của Tòa án Công lý quốc tế của Liên Hiệp quốc. Trong phần tiếp theo của bài viết, tác giả sẽ sử dụng khái niệm “án lệ” theo cách tiếp cận này.

1.2. Vai trò của án lệ trong luật quốc tế

Mặc dù không có giá trị pháp lý bắt buộc như hai loại nguồn cơ bản của luật quốc tế là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, án lệ đóng một vai trò hết sức quan trọng và có giá trị thực tiễn cao trong khoa học pháp lý.

Thứ nhất, chúng là cơ sở thực tế có tính thuyết phục cao nhằm xác định các tiêu chuẩn pháp lý chung,đặc biệt khi có sự không thống nhất về một vấn đề nào đó của luật quốc tế. Vai trò quan trọng của án lệ được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau:

Một là, các án lệ khi được viện dân có ý nghĩa quan trọng làm sáng tỏ nội hàm của một khái niệm pháp lý trong luật quốc tế. Đây có thể được coi là một vai trò cơ bản và rõ rệt nhất của các án lệ. Chẳng hạn, trong phán quyết về vụ Las Palmas, khái niệm chủ quyền lãnh thổ được định nghĩa là sự “… bao hàm đặc quyền thể hiện các hoạt động của một quốc gia. Quyền này có một nghĩa vụ tương ứng: nghĩa vụ của các quốc gia bảo vệ trong phạm vi lãnh thổ đó đối với quyền của các quốc gia khác, cụ thể là quyền đối với sự toàn vẹn và bất khả xâm phạm trong chiến tranh và hòa bình, cùng với các quyền mà mỗi quốc gia có thể viện dẫn đối với công dân của mình ở lãnh thổ nước ngoài…”[29] Tòa án Công lý quốc tế trong vụ Nottebohm đã chỉ ra bản chất của mối quan hệ quốc tịch khi xem “quốc tịch” là “mối liên hệ pháp lý có nền tảng là sự gắn bó thực tế về xã hội, một mối liên kết thực sự của đời sống và tình cảm, cùng với sự tồn tại của các quyền và nghĩa vụ tương hỗ. Nó [quốc tịch] tạo ra sự công nhận về pháp lý thực tế rằng cá nhân có được quốc tịch, một cách trực tiếp bởi luật pháp hoặc hành vi của các cơ quan công quyền, có sự gắn kết với dân cư của quốc gia cấp quốc tịch một cách chặt chẽ hơn là đối với dân cư của một quốc gia nào khác”[30]. Tương tự là vấn đề bảo hộ ngoại giao đối với người hai quốc tịch trong vụ Nottebohm[31] hay vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế trong vụ Genocide. Trong vụ này, Tòa đã làm sáng tỏ việc thực hiện quyền bảo lưu đối với một hoặc một số điều khoản của điều ước quốc tế trong trường hợp điều ước không quy định rõ điều khoản được phép bảo lưu. Tòa đã kết luận rằng, trong trường hợp này vấn đề bảo lưu không thể đặt ra đối với những điều khoản mà dẫn đến sự mâu thuẫn với mục đích và đối tượng của điều ước quốc tế. Một ví dụ khác là việc làm rõ khái niệm quốc tịch của pháp nhân vụ Barcelona Traction.[32] Sau khi nghiên cứu các quy định liên quan đến quyền của công ty và cổ đông, Tòa đã đi đến kết luận rằng chỉ có Canada, quốc gia mà công ty nói trên có quốc tịch, mới có tư cách khởi kiện đòi thực hiệntrách nhiệm pháp lý quốc tế. Các phán quyết của các Tòa trọng tài trong vụ các đơn kiện giữa Mỹ và Iran và phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ xét xử những tội phạm chiến tranh ở Nam Tư đã có những đóng góp quan trọng cho sự pháp điển hóa các quy phạm luật quốc tế về vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia cũng như trách nhiệm hình sự của cá nhân.[33] Trong vụ Anglo-Iranian Oil Company (Anh và Iran) năm 1952,[34] Tòa án Công lý quốc tế đã lập luận rằng những ưu đãi mà một quốc gia dành cho một công ty nước ngoài không phải là một điều ước quốc tế, từ đó khẳng định một điều kiện quan trọng để công nhận một điều ước quốc tế là nó phải được ký kết giữa các bên là quốc gia. Vấn đề này sau đó đã được thể hiện trong Công ước Vienna năm 1969 về Luật điều ước quốc tế.

Hai là, thông qua các án lệ những nội dung cơ bản của các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế được làm rõ. Các phán quyết của Tòa án quốc tế lại có giá trị khẳng định những quy phạm pháp luật quốc tế đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế (bao gồm cả những dự thảo điều ước quốc tế) và những tập quán quốc tế tồn tại vào thời điểm ban hành phán quyết. Chẳng hạn như Điều 31 của Công ước Vienna về Luật Điều ước quốc tế được khẳng định trong các phán quyết của Tòa trong vụ Territorial Dispute (Lybia và Chad) năm 1990[35] và cả trong kết luận tư vấn của Tòa về tính chất hợp pháp của việc xây dựng bức tường trên phần lãnh thổ của người Palestine, về quyền tự vệ hợp pháp trong vụ Gabcikovo – Nagymaros hoặc các điều 4, 8 và 16 của Dự thảo các điều luật về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong vụ việc liên quan đến việc áp dụng Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng (Bosnia Herzegovina và Nam Tư). Tương tự, phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong vụ Những hoạt động quân sự chống lại Nicaragua (Nicaragua kiện Mỹ năm 1986) là một ví dụ. Tòa đã xem xét và lập luận những hành vi của Mỹ đã vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế nêu ra tại Điều 2.4 Hiến chương LHQ trong việc thực hiện các hành vi giúp đỡ các nhóm phiến loạn tấn công, xâm nhập lãnh thổ Nicaragua. Tòa cũng đã bác bỏ lập luận của Mỹ trong việc thực hiện “quyền tự vệ tập thể” với lý do Nicaragoa đã có thái độ thù địch với các nước láng giềng là Honduras và El Sanvador. Đồng thời, hành vi ủng hộ, giúp đỡ tài chính, huấn luyện và trang bị cho tổ chức Contras được Tòa xác định là sự vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. Trên cơ sở những lập luận đó, Tòa đã kết luận Mỹ đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và xử cho Nicaragua thắng kiện. Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong vụ Barcelona Traction[36] đã góp phần làm rõ khái niệm về quyền chung của tất cả các quốc gia đối với những vi phạm làm phương hại đến lợi ích chung của nhân loại (nghĩa vụ erga omnes). Quyền khởi kiện đối với một hành vi như thế được thừa nhận cho không chỉ quốc gia bị thiệt hại mà còn được thừa nhận đối với tất cả các quốc gia.[37] Trong các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế, một vấn đề luôn được Tòa làm rõ đó là tất cả các quy phạm có tính bắt buộc chung (jus cogen) đều là những quy phạm tạo ra các nghĩa vụ erga omnes)[38].

Ba là, các án lệ có ý nghĩa khẳng định sự tồn tại một vấn đề cơ bản ở những lĩnh vực trong khoa học luật quốc tế mà hiện nay quá trình pháp điển hóa còn đang tiếp diễn, chẳng hạn như vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế. Trong vụ Spanish Zone of Marocconăm 1923, Tòa Thường trực Hội quốc liên đã kết luận: “trách nhiệm pháp lý là một hệ quả tất yếu của một quyền. Tất cả các quyền của một chủ thể luật quốc tế đều liên hệ tới trách nhiệm pháp lý quốc tế. Trách nhiệm pháp lý dẫn đến nghĩa vụ thực hiện việc bồi thường nếu những nghĩa vụ được nói đến là không được thực thi”.[39] Đồng thời, trong vụ kiện nhà máy Chorzow (Chorzow Factory Case – Đức và Ba lan (1928), Tòa án Thường trực Quốc tế của Hội Quốc liên (tiền thân của Tòa án quốc tế đã kết luận: “Một nguyên tắc của luật quốc tế được thừa nhận rộng rãi là bất kỳ một sự vi phạm đối với một nghĩa vụ quốc tế nào đều sẽ dẫn đến việc bồi thường”.[40] Tòa án Quốc tế trong các bản án của mình đã công nhận trách nhiệm bảo đảm sự cân bằng về sinh thái của trái đất là một lợi ích thiết yếu của mọi quốc gia và mục đích của chúng chính là sự bảo vệ cộng đồng quốc tế nói chung.[41]

Bên cạnh đó, các nguyên tắc pháp luật chung và nội dung của nó được tuyên bố thông qua những án lệ kinh điển của Tòa án quốc tế (bao gồm Tòa án Công lý và Pháp viện Thường trực quốc tế). Mặc dù các án lệ chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp, về góc độ học thuật, các học giả luật quốc tế thường căn cứ vào những án lệ của Tòa để ghi nhận và thống nhất với nhau về các nguyên tắc pháp luật chung. Chẳng hạn, nguyên tắc sự vi phạm một nghĩa vụ quốc tế dẫn đến nghĩa vụ bồi thường của quốc gia có hành vi vi phạm được Tòa Công lý thường trực của Hội Quốc liên (PCIJ) nêu ra trong vụ Chorzow Factory năm 1928 (Đức và Ba Lan).[42] Hay nguyên tắc phán quyết của tòa (thẩm phán) có giá trị pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp (res judicata) và không thể bị kháng cáo,[43] nguyên tắc “một người không thể là thẩm phán trong vụ việc mà anh ta theo đuổi”,[44] hoặc nguyên tắc một bên tranh chấp không thể từ chối thừa nhận một sự thật hoặc thực tế đã được chứng minh rõ bằng những hành động cụ thể (principle of estopeỉ)[45]

Cũng cần phải lưu ý rằng, bản thân một bản án (phán quyết) và cả kết luận tư vấn của Tòa án quốc tế thường không chỉ đề cập đến một vấn đề pháp lý cụ thể mà sẽ liên quan đến một số các vấn đề pháp lý liên quan, chẳng hạn, vụ nhà máy Chorzow[46] đề cập đến vấn đề trách nhiệm và bồi thường của quốc gia trong trường hợp có sự vi phạm những nghĩa vụ quốc tế và việc đối xử với công dân nước ngoài; vụ Barcelona Traction liên quan đến vấn đề quốc hữu hóa, xác địch quốc tịch của pháp nhân và vấn đề bồi thường; vụ eo biển Corfu (Anh và Albania)[47] về eo biển quốc tế, quyền của các quốc gia trong việc sử dụng eo biển quốc tế, nghĩa vụ của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền của mình không làm phương hại đến quyền của quốc gia khác trong đó có vấn đề môi trường; vụ dự án đập thủy điện Gabcikovo – Nagymaros[48] liên quan đến các vấn đề như hiệu lực của điều ước quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế và vấn đề môi trường quốc tế; vụ Con tin Iran liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của quốc gia trong trường hợp hành vi vi phạm của công dân và vấn đề nghĩa vụ của quốc gia nhận đại diện theo Công ước Vienna 1961 về ngoại giao và lãnh sự. Trong các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế nói riêng và các thiết chế tài phán khác nói chung, các án lệ có thể được viện dân để chứng minh hoặc là cơ sở lập luận đối với nhiều vấn đề pháp lý khác nhau một cách có hệ thống.

Thứ hai, trên cơ sở khẳng định sự đúng đắn và hợp lý, các án lệ có vai trò là cơ sở vật chất (material sources) làm nền tảng xây dựng các quy phạm mới của luật quốc tế (ví dụ tính đúng đắn của đường cơ sở thẳng[49], nguyên tắc công bằng trong phân định biển,[50] vấn đề chiếm hữu thực sự đối với tranh chấp lãnh thổ.) kể cả việc hình thành các quy phạm luật quốc tế dưới dạng các tập quán. Ví dụ, quy phạm tập quán của luật môi trường quốc tế “không một quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình dân đến việc gây thiệt hại bởi việc gây ô nhiễm do khói bay sang hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia khác” được nêu ra trong vụ Trail Smelter (Mỹ và Canada) của Tòa án Trọng tài.[51] Nguyên tắc đó sau này đã trở thành cơ sở pháp lý cho những điều ước quốc tế về môi trường, chẳng hạn như Nghị định thư Kyoto của Công ước khung của Liên Hiệp quốc về biến đổi khí hậu năm 1997.[52] Các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế chính là cơ sở đề hình thành những quy phạm tập quán của luật môi trường quốc tế khi tại thời điểm phán quyết ra đời chưa có các quy phạm điều ước quốc tế. Ví dụ tiêu biểu như các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong vụ Gabcikovo- Nagymaros (Hungary và Slovakia);[53] Pulp Mills (Argentina và Urugoay).[54]

Trong vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế, nguyên tắc về trách nhiệm của quốc gia do những hành vi sai trái áp dụng đối với người nước ngoài đòi hỏi người nước ngoài bị vi phạm đó trước tiên phải áp dụng hết mọi biện pháp bảo vệ hiện có ở nước sở tại là kết quả của việc vận dụng quy tắc tương ứng của pháp luật quốc gia, thể hiện trong vụ Ambatielos (Hy Lạp kiện Anh) năm 1956.[55] Vai trò của các án lệ được thể hiện khá rõ nét trong những vụ tranh chấp về lãnh thổ và luật biển. Trong vụ Ngư trường Anh – Na Uy, một loạt các vấn đề được giải quyết trong phán quyết của Tòa án đã được công nhận và sau đó được ghi nhận trong Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 về đường cơ sở thẳng, vùng nước lịch sử.[56] Ngoài ra, các án lệ có giá trị thực tiễn trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế tại Tòa án quốc tế (được viện dẫn trong phần lập luận của Tòa và luận điểm của các bên về vụ tranh chấp). Chúng thường là nguồn viện dẫn quan trọng của các quốc gia trong việc đưa ra các lập luận, các phân tích ý kiến của mình và bác bỏ quan điểm, lập trường của bên tranh chấp.

2.Sự cần thiết sử dụng án lệ trong giảng dạy và nghiên cứu luật quốc tế

Từ vai trò của các án lệ trong luật quốc tế, có thể thấy rằng, việc sử dụng chúng trong hoạt động nghiên cứu và giảng dạy có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Điều này thể hiện ở những vấn đề sau:

Thứ nhất, các án lệ có vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của luật quốc tế. Qua tìm hiểu các án lệ kết hợp trong quá trình giảng dạy, sinh viên có khả năng gắn kết và liên hệ với nội dung trình bày và thực tiễn. Những án lệ có thể đóng vai trò như những bài tập (vụ việc) tình huống không chỉ giúp sinh viên nắm kiến thức tốt hơn và hiệu quả hơn là những ví dụ do giảng viên giả định như trước đây.[57] Điều này cũng cho phép sinh viên có thể tự tìm hiểu thêm các vụ việc đó trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc mạng internet, thu thập thêm các bài viết, bình luận mở rộng có liên quan hoặc kiểm chứng vụ việc. Điều này sẽ hỗ trợ tích cực cho việc phát triển mô hình giảng dạy hiện đại theo hướng tự nghiên cứu, đặc biệt là các bậc học cao hơn như cao học và nghiên cứu sinh.

Thứ hai, việc tăng cường đưa các án lệ vào nghiên cứu và giảng dạy sẽ góp phần tích cực trong việc đào tạo sinh viên luật theo hướng rèn luyện tư duy pháp lý, thông qua việc tìm hiểu phương pháp lập luận, hệ thống, liên hệ các vấn đề cũng như khả năng chuẩn bị tốt về nội dung cho việc thực hành tranh tụng, bảo vệ một vấn đề trước cơ quan tài phán quốc tế, từ đó có thể áp dụng trong hoạt động nghề nghiệp, nhất là việc tham gia vào các vụ việc tranh chấp quốc tế không chỉ trong lĩnh vực công pháp quốc tế. Lấy ví dụ, khi nghiên cứu việc xác lập chủ quyền của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đó sử dụng luận cứ pháp lý về chiếm hữu lãnh thổ theo nguyên tắc hữu hiệu để đưa ra luận điểm bảo vệ chủ quyền hợp pháp theo luật quốc tế, các luật sư, chuyên viên pháp lý nhất thiết cần phải nắm vững và viện dân lập luận nêu ra trong các vụ việc tranh chấp liên quan như vụ Las Palmas (Mỹ và Hà Lan), Minquier and Ecrehous (Pháp và Anh), Palau Islands (Malaysia và Singapore)..

Cũng ở khía cạnh này, tác giả muốn nhấn mạnh đến vấn đề Việt Nam cần phải có ngày một nhiều hơn các bài viết khoa học hoặc công trình nghiên cứu được thừa nhận ở quy mô quốc tế. Điều này không chỉ nhằm giới thiệu pháp luật của Việt Nam ra nước ngoài, thể hiện quan điểm và lập trường của nhà nước mà quan trọng hơn là cung cấp những nguồn tài liệu tham khảo có thể truy cập và có thể sử dụng (viện dân) bởi các chuyên gia và nhà nghiên cứu nước ngoài, lấy ví dụ như về vấn đề tranh chấp biển Đông, chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa.[58] Để đạt tới mục tiêu này, không những chúng ta cần chú trọng về chất lượng (thể hiện qua việc viện dân các bằng chứng và thực tiễn pháp lý thông qua các án lệ của Tòa án Công lý quốc tế và các cơ quan tài phán quốc tế khác) mà còn về hình thức (sự trích dân các án lệ và các công trình nghiên cứu của các học giả khác).

Thứ ba, việc đẩy mạnh sử dụng nghiên cứu án lệ cho các môn học thuộc chuyên ngành luật quốc tế có ý nghĩa tích cực đối với sinh viên việc làm quen và chuẩn bị cho việc nghiên cứu một số môn học tiếp theo của khoa luật quốc tế,[59] đặc biệt là thương mại quốc tế (việc nghiên cứu thực hiện thông qua việc tìm hiểu các vụ việc tranh chấp thương mại quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WtO).

Thứ tư, việc đưa các án lệ vào trong giáo trình, tài liệu nghiên cứu, giảng dạy là cần thiết giúp cho chương trình đào tạo chuyên ngành luật quốc tế trở nên gần gũi với xu hướng chung của các nước. Hiện tại hệ thống các giáo trình tài liệu nghiên cứu chuyên ngành luật quốc tế thường đề cập không nhiều các án lệ phổ biến trong luật quốc tế,[60] trong khi đây lại là một điểm chung thường thấy ở đại đa số các giáo trình, tài liệu nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài, do đó sinh viên và cán bộ nghiên cứu khi ra nước ngoài học tập hoặc tiếp cận với các nguồn tài liệu nước ngoài thường gặp nhiều bỡ ngỡ trong khi đây lại là một yêu cầu quan trọng các bài luận (essay hoặc assignments) khi nghiên cứu luật quốc tế nói riêng và pháp luật nói riêng. Việc làm quen với các án lệ ngay từ bậc học cử nhân trong nước giúp cho sinh viên và cán bộ nghiên cứu khi ra nước ngoài không mất nhiều thời gian để tìm hiểu hoặc học lại từ đầu các khái niệm, các án lệ cũng như có khả năng thực hành nghiên cứu theo tình huống (case study), một phương pháp phổ biến ở các nền giáo dục tiên tiến.


[1] Trong nhiều giáo trình luật quốc tế và tài liệu giảng dạy môn học luật quốc tế, án lệ thường được coi như là một trong những loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế.

2 Điều 38(1) Quy chế Tòa án quốc tế.

3 Điều 59 Quy chế Tòa án Quốc tế.

[4] Ở các nước theo hệ thống thông luật, theo nguyên tắc stare decisis,các bản án đã được xét xử trước đây có giá trị bắt buộc đối với các Tòa án trong trường hợp vụ tranh chấp có nội dung tương tự. Xem them Malcom N Shaw, Interrnational Law (Cambridge, 6th ed, 2008) 103, Peter Malanczuk, Akehursts International Law (7thed, Routledge, 1997) 51

[5] Theo Điều 59 Quy chế TAQT, xem thêm Oppenheim L, Interrnational Law a Treatise (Lauterpacht edited, 8* ed, 1955) 41, Stephen Hall, Principles of International Law (3rd ed, LexisNexis Butterworths, 2011) 57.

[6] Ví dụ như trong vụ Maritime Delimitation in the Black Sea (Romania v. Ukraine) năm 2009 Tòa đã viện dân trong phán quyết của mình các vụ trước đó như Continental Shelf (Libyan Arab Jamahiriya/ Malta) (Judgment, I.C.J. Reports 1985; Territorial andMaritime Dispute between Nicaragua and Honduras in the Caribbean Sea (Nicaragua v. Honduras), Judgment of 8 October 2007; Fisheries (United Kingdom v. Norway), Judgment, I.C.J. Reports 1951; North Sea Continental Shelf (Federal Republic ofGermany/Denmark; Federal Republic of Germany/ Netherlands), Judgment, I.C.J. Reports 1969,. Trong vụ Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia) năm 2003, Tòa đã viện dẫn những vụ do Tòa xử trước đó như Frontier Dispute(Burkina Faso/Republic of Mali), Judgment, I.C.J. Reports 1986; Land and Maritime Boundary between Cameroon and Nigeria

(Cameroon v. Nigeria: Equatorial Guinea intervening), Judgment, I.C.J. Reports 2002 hay những vụ không do Tòa xử như vụ Island of Palmas Case (Netherlands/United States of America) năm 1929. Xem International Court of Justice website http://www.icj-cịj.org/docket/files/130/14492.pdf

[7] Xem M. Shahabuddeen, Precedent in the World Court, 1996 cited in Maclanzuk, 51

[8] Đây là một chức năng của Tòa án Công lý quốc tế, chức năng này được quy định tại Điều 65, chương IV Quy chế Tòa án Quốc tế. Cho đến nay Tòa đã đưa ra khoảng 30 kết luận tư vấn về những vấn đề khác nhau. Phán quyết gần đây nhất là Ý kiến tư vấn liên quan đến Tòa hành chính của Tổ chức Lao động quốc tế đối với đơn kiện chống lại Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp(dvisory Opinion of 1 February 2012 – Judgment No.2867 of the Administrative Tribunal of the International Labour Organization upon a Complaint Filed against the International Fund for Agricultural Development (Request for Advisory Opinion)). Xem http://www.icj- cỊj.org/docket/index.php?p1=3&p2=5

[9] Ví dụ như kết luận tư vấn của Tòa về tư cách chủ thể trách nhiệm pháp lý quốc tế của Tổ chức quốc tế liên chính phủ trong vụ Bá tước Bernadote năm 1948 (Reparations Case, ICJ Reports, 1949, p. 174) , kết luận tư vấn về tư cách chủ thể của thực thể Tây Sahara hay tính hợp pháp của việc xây dựng bức tường an ninh của Israel, tính chất pháp lý của việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong trường hợp xung đột vũ trang.

[10] Ví dụ như kết luận tư vấn của Tòa về việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong chiến tranh hoặc về vấn đề diệt chủng.

[11] Được thành lập sau Hội nghị hòa bình Versailles 1919 và tồn tại cho đến năm 1945 và thay thế bởi tổ chức Liên Hiệp quốc (United Nations)

[12] Điều 36(5) Quy chế Tòa án Quốc tế

[13] Điều 37 Quy chế Tòa án Quốc tế.

[14]Ví dụ, xem phán quyết của Tòa trong vụ Asylum (Colombia/Peru) năm 1949, Anglo-Iranian Oil Co. (United Kingdom v. Iran) năm 1951; Minquiers and Ecrehos (France/UnitedKingdom) năm 1951; Nottebohm (Liechtenstein v. Guatemala) năm 1951; Interhandel (Switzerland v.United States of America) năm 1957;The Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand ^năm 1959;United States Diplomatic and Consular Staff in Tehran (United States of America v.Iran)năm 1979… Xem các giáo trình của các tác giả như Oppenheim, Lauterpacht, Maclanzuk, Shaw, Ian Brownlie…

[15] Ví dụ trong vụ Territorial and Maritime Dispute (Nicaragua v. Colombia) năm 2007, Tòa đã viện dân những phán quyết của Pháp viện thường trực quốc tế trong vụ Certain German Interests in Polish Upper Silesia, Jurisdiction, Judgment No. 6, 1925, P.C.I.J., Series A, No. 6.

[16] Xem thêm Martin Dixon, Textbook on International Law (Oxford, 6th ed , 2007) 45-46

17 Ví dụ nhu ba phuơng thức chấp nhận thẩm quyền xét xử bắt buộc của Tòa án Công lý Quốc tế.

[18] Nhu truờng hợp các bên đuợc coi là chọn thỏa thuận trọng tài quốc tế về luật biển để giải quyết tranh chấp về việc giải thích và áp dụng Công ước Luật biển 1982 nếu một bên đương sự trong vụ tranh chấp mà chưa tuyên bố lựa chọn Tòa án để giải quyết ( Điều 287, khoản 3) hoặc nếu hai bên đương sự trong một vụ tranh chấp lựa chọn Toà án khác nhau (Điều 287, khoản 5 ).

[19] Xem thêm M. Shaw, 104, Ian Brownlie, Principles of Public International Law (Oxford, 6th ed, 2003) 22

20 Ian Brownlie, 22, M. Shaw, 104 và Stephen Hall, 57.

211. B. Moore, Internutionul Arbitrutions, New York, 1898, vol. I,y. 653.

[22] Xem them M. Shaw 104.

[23] 2 RIAA, p. 829.

24 MOX Plant Case (Ir. v. U.K.), “Dispute Concerning the MOX Plant, International Movements of Radioactive Materials, and the Protection of the Marine Environment of the Irish Sea” (Perm. Ct. Arb., decision pending as of January 2007.

[25] Arbitration regarding the Iron Rhine (“Ijzeren Rijn”) Railway between the Kingdom of Belgium and the Kingdom of the Netherlands, 2005.

[26] MOX Plant case, Request for Provisional Measures Order(Ireland v. the United Kingdom) (3 Tribunal for the Law ofthe Sea, ILR vol. 126 (2005).

[27] Trail Smelter, UNRIAA, vol. III (Sales No. 1949.V.2).

[28] Metalclad Corporation v. The United Mexican States(ICSID Case No. ARB(AB)/97/1).

[29]Island of Palmas, RIAA II 829, 839.

[30]Nottebohm, ICJ Report (1955) p. 4 para 22

[31]Tòa án Công lý quốc tế đã lập luận rằng, Nottebohm có mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài về sư trú, làm ăn, gia đình và xã hội với Guatemala và Đức. Ngược lại, sự gắn bó với Liechtenstein là rất yếu, thể hiện ở việc Nottebohm không có chỗ định cư xác định, lâu dài tại Liechtenstein trong quá trình xin nhập tịch, không có lợi ích kinh tế tại đây cũng như không có ý định chuyển dịch các hoạt động kinh tế của mình sang đây. Do đó, Tòa kết luận, mối liên hệ gắn bó giữa Nottebohm và Liechtenstein là không tồn tại và việc nhập tịch của ông này không phải dựa trên sự gắn bó thực sự với Liechtenstein. Tòa đã tuyên bố Guatemala không có nghĩa vụ phải công nhận quốc tịch Liechtenstein của Nottbohm trong trường hợp này, vì vậy Liechtenstein không có quyền thực hiện bảo hộ ngoại giao đối với Nottebohm chống lại Guatemala, đồng thời yêu cầu này không thể được chấp nhận.

[32] Barcelona Traction, Light and Power Company Ltd (Belgium v Spain) ICJ Reports, 1971, 3, 234.

[33] Martin Dixon, 46.

34 Anglo-Iranian Oil Company (UK vs Iran) ICJ Reports 1952, 112.

[35] http://www.icj-2=3&code=dt&case=83&k=cd&p3=0.

[36] Barcelona Traction, Light and Power Company Ltd(Belgium v Spain) ICT Reports, 1971, 3, 234.

[37]Vấn đề này được khẳng định tại phán quyết của Tòa án Quốc tế trong vụ Barcelona Traction, Light and Power Company giữa Bỉ và Tây Ban Nha năm 1972 như sau:

Cần thiết phải có sự phân biệt giữa nghĩa vụ của các quốc gia đối với cộng đồng quốc tế nói chung và những nghĩa vụ phát sinh đối với một quốc gia khác trong lĩnh vực bảo hộ ngoại giao. Bởi bản chất của chúng, những nghĩa vụ chung đối với cộng đồng quốc tế là mối quan tâm của tất cả các quốc gia. Về tầm quan trọng của các quyền lien quan, tất cả các quốc gia được coi là đều có một lợi ích pháp lý trong sự bảo vệ của họ, chúng là những nghĩa vụ chung (erga omnes).

[38]Xem Alina Kaczorowska, Public International Law (Routledge, 4thed, 2010) 51.

[39] Spanish Zone of Morocco Claims (Anh và Tây Ban Nha)

[40] Factory at Chorzow (Germany v Poland) (1927) PCIJ series A No. 9.

41Ví dụ vụ kiện Gabcikovo-Nagymaros giữa Hungary và Slovakia năm 1997.

42Chorzow Factory case (Germany v. Poland) PCIJ Series A No. 17.

[43] Res Judicata (adjudicated things) có nghĩa một vấn đề mà một phán quyết cuối cùng và có giá trị pháp lý ràng buộc đã đuợc thông qua, vì thế loại trừ những phán quyết sau này có sự mâu thuân về cùng một vấn đề. Xem Aaron X Fellmeth and Maurice Horwitz, Guide to Latin in International Law (Oxford, 2009).

[44] Nguyên tắc ‘No man may be judge in his own suit” được Tòa Công lý thường trực Hội quốc liên PCIJ tuyên bố trong vụ Mosul Boundary case (1925) PICJ Series B No. 12, 32.

45Trong vụ tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia về ngôi đền Preah Vihear (Case Concerning the Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand) (Merits) năm 1962, Tòa án Công lý quốc tế đuợc yêu cầu để xác định rằng Cambodia chứ không phải Thái Lan có chủ quyền đối với ngôi đền Preah Vihear. Tòa đã xác định vào năm 1904 một đuờng biên giới đã đuợc xác định giữa Cambodia (Pháp bảo hộ) và Siam (Thailand) bằng một hiệp định mà trong đó bản đồ biên giới xác định ngôi đền nằm về phía của Cambodia. Phía Thái Lan sau đó đã nhận đuợc bản đồ này mà không có phản đối và thậm chí năm 1930 một Hoàng tử Thái Lan đã đến thăm ngoại giao (State visit) đến khu vực tranh chấp khi đó đang do Pháp cai quản. Trên cơ sở đó, Tòa đã tuyên bố:

“Thậm chí nếu có sự nghi ngờ nào đối với sự chấp nhận tấm bản đồ năm 1908, và vì thế đối với đuờng biên giới đuợc xác định trong đó, Tòa sẽ xem xét, trên cơ sở những hành động tiếp diễn sau đó, rằng Thái Lan, bằng hành động của mình, không thể tuyên bố rằng họ đã không chấp nhận đối với nó”.

[46] Factory at Chorzów, 8, 1927, P.C.I.J., Series A, No. 9.

[47]Corfu Channel, Merits, Judgment, ICJ Reports 1949.

[48]Gabcikovo-Nagymaros Project (HungarylSlovakia), Judgment, 1. C. J. Reports 1997.

[49]Việc công nhận tính đúng đắn của phương pháp đuờng cơ sở thẳng trong việc xác định chiều rộng lãnh hải nêu ra trong phán quyết về vụ tranh chấp ngư trường Anh – Na Uy năm 1951 trở thành định huớng cho việc quy định về xác định lãnh hải trong Công uớc Geneva 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp

[50] North Sea Continental Shelf Judgment, ICJ Reports, 3.

51Trail Smelter Case (US v Canada) 1941 3 RIAA 1938, 1965. Tòa Trọng tài đã viện dẫn phán quyết của Tòa Tối cao Hoa Kỳ trong vụ Georgia v Tenesse Copper Company and Ducktown Sulfur and Iron Company Ltd.

[52] Xem Gillian D Triggs, International Law: Contemporary Principles and Practices (LexisNexis Butterworths Australia, 2nd ed, 2011) 163.

53Gabcikovo-Nagymaros Project (HungarylSlova- kia),. Judgment, 1. C. J. Reports 1997.

[54] Case Concerning Pulp Mills on the River Uruguay (Argentina v. Uruguay), Judgment of 20 April 2010.

[55] Ambatielos Case (Hy Lạp và Anh) (1956) IRL 306. Trong vụ này đơn kiện của Hy Lạp đòi bồi thường

cho công dân của mình đã bị từ chối vì lý do công dân Hy Lạp Ambatielos đã không gọi được nhân chứng

quan trọng trước các Tòa án của nước Anh.

[56]Fisheries Jurisdiction Case (United Kingdom v. Iceland) (Merits) ICJ Reports 1955.

[57]Chẳng hạn các giảng viên luật quốc tế thường hay đưa ra các ví dụ kiểu ‘quốc gia A” và “quốc gia B” hoặc “tổ chức X” và “dân tộc Y” hay “nhà nước M” và “công dân M”.

[58]Trên thực tế, những luận cứ khoa học về chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này là hoàn toàn có giá trị cao về học thuật và tính thuyết phục, tuy nhiên cho đến nay chúng ta vân chua có nhiều các bài viết, công trình nghiên cứu bằng tiếng Anh, Pháp về vấn đề này.

59Thông thường thì các trường, khoa, học viện khi thiết kế chương trình cử nhân luật thường sắp xếp môn Luật quốc tế (công pháp quốc tế) giảng trước các môn học khác cũng thuộc chuyên ngành luật quốc tế nhu Tu pháp quốc tế, Luật So sánh, Thuơng mại quốc tế và một số các môn chuyên ngành tự chọn khác. Tham khảo các chương trình đào tạo cử nhân luật của trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.

60Bên cạnh hạn chế của các giáo trình và tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay là vấn đề trích dân (footnote), việc đề cập đến các án lệ ở mức độ là ví dụ cho bài giảng cũng là điều đáng quan tâm.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4 (71) – 2012

Trích dẫn từ: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/150

Advertisements

One Response

  1. TAND Tỉnh Hậu Giang đã nhân danh nước Công Hòa XHCN Việt Nam, một nhà nước Pháp quyền ban hành một bản án vô căn cứ pháp luật, đầy tiêu cực, hoàn toàn sai sự thật để công khai đàn áp cướp đoạt tài sản hợp pháp của dân. Xin được phep hỏi:
    1) Như vậy có củng cố được lòng tin của dân đối với Đảng, đối với Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam hay không?
    2) Bản án này có trở thành án lệ được hay không?

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: