TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. TÔ NGỌC HƯNG – Ủy viên Hội đồng quản trị độc lập BIDV

Bài viết khái quát các giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thực hiện giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016, tập trung vào các nhóm giải pháp chính là xử lý nợ xấu và bổ sung vốn chủ sở hữu, cơ cấu lại công tác quản trị ngân hàng theo hướng hiện đại. Những giải pháp này không chỉ góp phần bảo đảm an toàn cho hệ thống NHTM trong giai đoạn khó khăn mà còn góp phần quan trọng vào việc phát triển bền vững hệ thống ngân hàng. Trước những cơ hội cũng như khó khăn, thách thức mà ngành Ngân hàng phải đối mặt trong thời gian tới, bài viết đề xuất ngành Ngân hàng cần triển khai một số giải pháp nhằm xử lý những tồn tại, lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, đổi mới hoạt động ngân hàng phù hợp hơn với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

Hệ thống NHTM Việt Nam đã và đang là trụ cột của hệ thống tài chính quốc gia, là kênh huy động và cấp vốn chủ đạo phục vụ tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán với giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt mức 70% GDP vào năm 2020 mới chỉ đạt 34% vào cuối năm 2015 trong khi dư nợ thị trường trái phiếu cũng mới đạt mức 24,6% so với mục tiêu 38%. Với sự phát triển thiếu cân bằng của thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng (rộng hơn là hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD)) đang chiếm tới 96,2% tổng tài sản của hệ thống tài chính (UBGSTCQG, 2016). Từ năm 2011 cho tới nay, nhằm thực hiện thành công mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020 và ba chương trình tái cơ cấu quan trọng là cơ cấu lại đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống TCTD. Ngày 01/03/2012, Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, là cơ sở quan trọng cho công cuộc thực hiện cơ cấu lại hệ thống TCTD, hướng tới hệ thống TCTD hiện đại, an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.

Nhận thức được tính cấp thiết của việc cơ cấu lại hệ thống TCTD, NHNN đã chủ động yêu cầu toàn ngành Ngân hàng phát huy nội lực để triển khai các biện pháp cơ cấu lại ngay khi Đề án được ban hành. NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 454/QĐ-TTg ngày 13/03/2013 và Quyết định 363/QĐ-TTg ngày 11/03/2014 thành lập Ban chỉ đạo liên ngành triển khai Đề án. Về phía ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2012 về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, làm cơ sở để triển khai thực hiện Đề án. Trên cơ sở đó và trước áp lực từ phía thị trường, bản thân các NHTM cũng chủ động xây dựng và triển khai đề án tái cơ cấu cho riêng mình.

I. Thực tiễn triển khai cơ cấu lại hệ thống NHTM Việt Nam

Trong quá trình triển khai Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015, hệ thống NHTM tập trung vào ba nhóm giải pháp là: (i) lành mạnh hóa, nâng cao năng lực tài chính; (ii) đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; (iii) cơ cấu lại hoạt động kinh doanh theo hướng an toàn, lành mạnh. Có thể nhận thấy, các nhóm giải pháp này vừa giúp giải quyết những yếu kém trước mắt của hệ thống ngân hàng, bảo đảm an toàn cho hệ thống, vừa có tác dụng đưa hệ thống phát triển bền vững trong tương lai.

1. Lành mạnh hóa, nâng cao năng lực tài chính

Thứ nhất, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu

Xuất phát từ tình hình kinh tế vĩ mô suy yếu và năng lực quản trị rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM không tương xứng với tốc độ mở rộng quy mô tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng bắt đầu tăng mạnh từ cuối năm 2011. Hơn nữa, phần lớn các khoản nợ xấu tại thời điểm đó chưa được hệ thống ngân hàng nhận diện, ghi nhận, phân loại, trích lập dự phòng và có kế hoạch xử lý phù hợp, kịp thời. Tại thời điểm tháng 9/2012, tỷ lệ nợ xấu ước tính thận trọng có thể lên tới 17,21%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ do các ngân hàng công bố. Trước tình hình này, ngành Ngân hàng nhận định xử lý nợ xấu, bảo đảm chất lượng tín dụng là việc cấp bách nhằm bảo đảm an toàn, hiệu quả cho hệ thống cũng như góp phần vào việc cung ứng tín dụng, giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Nhiều giải pháp đã được NHNN và hệ thống ngân hàng xây dựng kịp thời và triển khai đồng bộ như: (i) thiết lập và triển khai cơ chế xử lý và kiểm soát nợ xấu thông qua việc ban hành các quyết định về cơ cấu thời hạn nợ (Quyết định số 780/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ), (ii) trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro (Văn bản số 7789/NHNN-TTGSNH về việc trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro), (iii) phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro (Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro và các thông tư sửa đổi)… Sự đồng bộ giữa các văn bản do NHNN ban hành được thể hiện ở chỗ, hệ thống ngân hàng ưu tiên kiểm soát nợ xấu phát sinh, tạo điều kiện cho khách hàng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, song song với việc sử dụng nội lực để xử lý các khoản nợ xấu cùng với việc tạo hành lang pháp lý cho công tác phân loại nợ, trích lập dự phòng theo chuẩn mực mới chặt chẽ hơn. Thông tư 02/2013/TT-NHNN được ban hành và đi vào triển khai trong thực tiễn là một bước tiến của ngành Ngân hàng trong việc hướng tới áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phân loại nợ và trích lập dự phòng cho hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay, hướng tới bảo đảm chất lượng tín dụng một cách bền vững trong tương lai. (Hình 1)

Hình 1: Tỷ lệ nợ xấu

image

Nguồn: NHNN Việt Nam

Thứ hai, xử lý nợ xấu tại các NHTM thông qua bán nợ cho VAMC

Nhận thức được việc chỉ dựa vào nội lực của hệ thống NHTM để xử lý nợ xấu là chưa đủ và cần có sự hỗ trợ hơn nữa từ Chính phủ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP về thành lập tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam vào ngày 18/05/2013. Trên cơ sở đó, NHNN đã hoàn thiện Đề án Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam để báo cáo Bộ Chính trị, trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành vào ngày 31/05/2013. Xuất phát từ nguyên tắc không sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu, VAMC đã áp dụng hai phương thức mua nợ xấu của các TCTD bao gồm (i) mua nợ xấu theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành; và (ii) mua nợ xấu theo giá trị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt đối với một số khoản nợ xấu đáp ứng được điều kiện. Các TCTD sẽ phải chủ động bán nợ xấu cho VAMC để đưa tỷ lệ nợ xấu về mức phù hợp (dưới 3%); đổi lại, TCTD nhận trái phiếu đặc biệt với hai đặc điểm chính là có thể dùng để vay tái cấp vốn từ NHNN và hàng năm phải trích lập dự phòng rủi ro. Điều này sẽ bảo đảm nguồn vốn cho các ngân hàng khi trái phiếu đặc biệt có thể tái cấp vốn tại NHNN để tiếp tục cấp tín dụng cho nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, đặt trong tổng thể chương trình tái cơ cấu nền kinh tế. Ngoài ra, quy định này bảo đảm được trách nhiệm và nguồn xử lý nợ xấu là ngân hàng và khách hàng vay phải chịu trách nhiệm chính về các khoản nợ xấu phát sinh. Các ngân hàng cũng sẽ có thời gian nhiều hơn (tối đa 5 năm) và phải là đơn vị chủ động trong việc thu hồi nợ khi được VAMC ủy quyền cho công tác xử lý nợ xấu. (Hình 2)

Hình 2: Các biện pháp xử lý nợ xấu

image

Nguồn: tổng hợp của tác giả

Tính từ cuối 2012 đến 31/8/2016, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 548,5 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó chủ yếu là do các TCTD tự xử lý (chiếm 57,2%).

Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp mà tỷ lệ nợ xấu tại hệ thống TCTD đã giảm xuống còn khoảng 2,8% vào cuối năm 2016. Số liệu nợ xấu theo công bố của NHNN tính từ đầu năm 2015 cũng đã phản ánh chính xác thực trạng nợ xấu tại các TCTD khi không còn sự khác biệt giữa số liệu TCTD báo cáo và số liệu giám sát của NHNN. Điều này là do kể từ 01/01/2015 các TCTD phải thực hiện tham chiếu kết quả phân loại nợ đối với từng khách hàng từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) để phân loại lại nhóm nợ của khách hàng theo nhóm nợ cao nhất nếu khách hàng đó đang vay ở nhiều TCTD.

Thứ ba, tăng vốn điều lệ và lợi nhuận để lại

Song song với xử lý nợ xấu để lành mạnh hóa tình hình tài chính, hệ thống NHTM còn nỗ lực tăng vốn chủ sở hữu thông qua tăng vốn điều lệ và giữ lại lợi nhuận. NHNN đã ban hành văn bản hợp nhất Nghị định về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các TCTD và Văn bản số 1601/NHNN-TTGSNH về việc triển khai thực hiện quy định an toàn vốn theo Basel II nhằm thúc đẩy các NHTM nhanh chóng tăng vốn để hướng tới bảo đảm mức độ đủ vốn, tăng cường năng lực tài chính. Các ngân hàng đã chủ động phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, bán cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Các NHTMNN là nhóm đi đầu trong việc tăng cường huy động vốn thông qua phát hành cổ phần như Vietcombank (bán cổ phần cho Mizuho Corporate Bank năm 2012), Vietinbank (bán cổ phần cho Bank of Tokyo Mitsubishi UFJ, Ltd. năm 2013), BIDV (phát hành cổ phần bổ sung cho cổ đông hiện hữu năm 2013), đưa hệ số CAR đạt mức an toàn vốn theo quy định và góp phần vào tăng trưởng vốn điều lệ của toàn hệ thống. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng chủ động giữ lại lợi nhuận (trong bối cảnh mức sinh lời của hệ thống ngân hàng không cao) nhằm gia tăng vốn chủ sở hữu, bảo đảm tấm đệm dự phòng khi rủi ro xảy ra. (Hình 3-4)

Hình 3: Quy mô vốn tự có nhóm NHTMNN và NHTMCP

Hình 4: Quy mô vốn điều lệ nhóm NHTMNN và NHTMCP

image

image

Nguồn: NHNN Việt Nam

2. Đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế

Công tác cơ cấu lại hệ thống NHTM không chỉ dừng lại ở việc xử lý nợ xấu, gia tăng vốn điều lệ mà còn phải gắn với đổi mới hoạt động quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Nhiệm vụ này đã được NHNN và hệ thống NHTM triển khai trên nhiều phương diện như xây dựng kế hoạch chiến lược kinh doanh mới; nâng cao tiêu chuẩn về năng lực của các chức danh lãnh đạo, quản lý; phát triển hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc của Ủy ban Basel; đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ; khuyến khích các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán…

Thứ nhất, chủ động xây dựng và triển khai các biện pháp cơ cấu lại ngân hàng

Bản thân các ngân hàng (cả NHTM nhà nước, NHTM cổ phần và các ngân hàng yếu kém) đều đã xây dựng phương án tự cơ cấu lại và trình NHNN phê duyệt theo hướng tập trung nâng cao chất lượng các nội dụng quan trọng như hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hướng tới phát triển bền vững. Có thể thấy, việc thực hiện cơ cấu lại đã bám sát các nội dung của Đề án 254 vừa bao gồm giải pháp xử lý các bất cập trước mắt đáp ứng nhu cầu bảo đảm an toàn trước mắt, vừa đáp ứng sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.

Thứ hai, nâng cao chất lượng bộ máy quản trị điều hành ngân hàng

Về nâng cao tiêu chuẩn năng lực của chức danh lãnh đạo, quản lý, NHNN đã ban hành Quyết định số 931/QĐ-NHNN ban hành Quy chế về người quản lý, người đại diện phần vốn Nhà nước tại NHTMNN và NHTMCP do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Theo đó, các vị trí quản lý, đại diện phần vốn tại NHTMNN phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Luật Các TCTD, đồng thời ưu tiên người đã trải qua công tác quản lý tại NHNN từ cấp Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng hoặc tương đương trở lên nhằm bảo đảm một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ nghiệp vụ tốt, có ý thức nghề nghiệp, trách nhiệm cao. Quá trình cơ cấu lại các vị trí lãnh đạo tại các NHTMCP cũng diễn ra mạnh mẽ xuất phát từ nhu cầu cơ cấu lại của từng ngân hàng và xu hướng mua bán, sáp nhập diễn ra phổ biến.

Thứ ba, công tác phát triển hệ thống quản trị rủi ro đã được hệ thống TCTD chú trọng triển khai trên cơ sở các quy định mới của NHNN

Nổi bật lên là các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và thực hiện quy định an toàn vốn theo Basel II. Cụ thể, ngày 21/01/2013, NHNN đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN như là một bước tiến của NHNN và hệ thống ngân hàng trong việc hướng tới áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Bên cạnh đó, để nâng cao sự an toàn, lành mạnh và năng lực quản lý rủi ro, năng lực cạnh tranh cho các TCTD, NHNN đã ban hành Văn bản số 1601/NHNN-TTGSNH về việc triển khai thực hiện quy định an toàn vốn theo Basel II. Theo đó, 10 NHTM trong nước được lựa chọn thực hiện theo phương pháp cơ bản của Basel II đến cuối 2015 và phương pháp tiêu chuẩn trở lên đến cuối năm 2018. Trong khi đó, tại nhiều ngân hàng quy mô lớn, việc tăng cường năng lực quản trị rủi ro đã được triển khai trên nhiều khía cạnh như hình thành khối quản lý rủi ro, tách biệt bộ phận kiểm toán nội bộ, kiểm tra kiểm soát theo các nguyên tắc kiểm soát của Ủy ban Basel, và triển khai các dự án hiện đại hóa công tác quản lý rủi ro tại từng mảng cụ thể. Bên cạnh đó, ngày 20/11/2014, NHNN đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN Quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thay thế Thông tư số 13/2010/TT-NHNN. Ngoài việc bổ sung quy định về vốn điều lệ tối thiểu, cách xử lý đối với các trường hợp khi giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp giảm thấp hơn so với vốn pháp định, Thông tư tập trung vào việc quy định vốn tự có, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn, điều kiện, giới hạn góp vốn, mua cổ phần giữa các công ty con, công ty liên kết…, quy định về việc cấp tín dụng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu… theo sát với thông lệ quốc tế, bảo đảm sự phát triển an toàn và bền vững cho hệ thống ngân hàng.

Thứ tư, công tác đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ

Công tác này được thực hiện rộng rãi trong hệ thống ngân hàng, trên cơ sở Thông tư số 44/2011/TT-NHNN Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của TCTD có hiệu lực thi hành từ ngày 12/02/2012. Trên cơ sở đó và xuất phát từ thực tiễn những rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, các ngân hàng đã đẩy mạnh công tác kiện toàn lại cơ cấu tổ chức, cơ chế, chính sách, quy trình và nguồn nhân lực cho hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ để bảo đảm phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro.

3. Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh theo hướng an toàn, lành mạnh

Các biện pháp cơ cấu lại hoạt động kinh doanh của hệ thống TCTD bao gồm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh chính, hạn chế các lĩnh vực rủi ro, kém hiệu quả; đẩy mạnh tín dụng cho lĩnh vực sản xuất và các lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước; cân đối kỳ hạn huy động và cho vay, giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng so với huy động vốn…

Thứ nhất, kiểm soát dư nợ lĩnh vực phi sản xuất, đưa tỷ trọng tín dụng lĩnh vực phi sản xuất về mức hợp lý

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP năm 2011 về giảm tốc độ và tỷ trọng vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, NHNN đã yêu cầu các TCTD đưa tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ về mức tối đa là 22% (30/06/2011), 16% (31/12/2012). Kể từ năm 2012, các TCTD đã kiểm soát tỷ trọng dư nợ lĩnh vực phi sản xuất ở mức dưới 16% tổng dư nợ. Để bảo đảm các TCTD nghiêm túc thực hiện quy định, NHNN áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gấp hai lần so với quy định và biện pháp hạn chế phạm vi hoạt động kinh doanh đối với các TCTD không thực hiện được theo lộ trình.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước

Hướng tới mục tiêu chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và đa dạng hóa danh mục tín dụng của hệ thống ngân hàng, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho các lĩnh vực kinh tế quan trọng. Các lĩnh vực này bao gồm: phát triển nông nghiệp, nông thôn (quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn); phương án, dự án sản xuất – kinh doanh hàng xuất khẩu quy định tại Luật Thương mại; sản xuất – kinh doanh của DNNVV (quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV), phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ (quy định tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ); doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao (quy định tại Luật Công nghệ cao và các quy định của pháp luật có liên quan). Theo đó, NHNN đã áp dụng trần lãi suất cho vay của các ngân hàng đối với các lĩnh vực ưu tiên, thấp hơn từ 2-3% mặt bằng lãi suất cho vay trên thị trường. Ngoài ra, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng, đặc biệt là các NHTMNN, thực hiện triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên kể trên. (Hình 5)

Hình 5: Tỷ trọng tín dụng các lĩnh vực

image

Nguồn: NHNN Việt Nam

Thứ ba, thay đổi cấu trúc nguồn vốn của hệ thống ngân hàng theo hướng cân đối phù hợp hơn về kỳ hạn giữa huy động và cho vay

Các NHTM đã đẩy mạnh huy động nguồn vốn trung, dài hạn và giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng so với nguồn vốn huy động, hạn chế áp lực thanh khoản. Bên cạnh đó, các NHTM cũng đã tăng cường phát hành giấy tờ có giá với khối lượng lớn đi kèm với mức lãi suất hấp dẫn nhằm đa dạng hóa các phương thức huy động vốn, góp phần vào đảm bảo duy trì tỷ lệ tối đa 30% vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. (Hình 6)

Hình 6: Tỷ trọng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

image

Nguồn: NHNN Việt Nam

II- Một số giải pháp nhằm tiếp tục cơ cấu lại hệ thống NHTM Việt Nam hướng tới phát triển bền vững

Tuy vậy, hiện nay vẫn còn những thách thức nhất định trong quá trình cơ cấu lại hệ thống NHTM, tập trung ở một số điểm về: (i) Vốn chủ sở hữu của nhiều ngân hàng vẫn ở mức thấp, khả năng huy động nguồn vốn chủ sở hữu thấp do mức độ phát triển của thị trường chứng khoán còn hạn chế, lợi nhuận suy giảm do phải tập trung xử lý nợ xấu; (ii) Nợ xấu tuy đã được kiểm soát nhưng chưa được xử lý một cách triệt để do thiếu hụt nguồn lực và cơ chế xử lý chưa thích đáng; (iii) Chất lượng quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro chưa cao, mức độ minh bạch thông tin thấp; (iv) Hoạt động kinh doanh vẫn tập trung chủ yếu vào tín dụng, chưa có sự chuyển biến rõ rệt trong đa dạng hóa kinh doanh.

1. Về tăng vốn chủ sở hữu đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn

Hệ thống NHTM cần triển khai các giải pháp tăng quy mô và chất lượng của vốn nhằm đáp ứng các quy định của pháp luật về tỷ lệ an toàn vốn, hướng tới đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong trung và dài hạn. Nghị quyết về kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm tới, Quốc hội đã thông qua một chủ trương có ảnh hưởng lớn tới khối ngân hàng này, là “không sử dụng ngân sách Nhà nước để cấp vốn điều lệ cho TCTD thương mại”. Với chủ trương trên, kế hoạch tăng vốn điều lệ của các NHTMNN chắc chắn sẽ khó khăn hơn.

Muốn vậy, trước tiên, các ngân hàng cần xây dựng một kế hoạch trong ngắn hạn, trung hạn tới dài hạn để tăng quy mô vốn thông qua các giải pháp như: phát hành cổ phiếu bổ sung, tăng vốn góp từ các cổ đông chiến lược; phát hành trái phiếu chuyển đổi có thể chuyển thành vốn góp; niêm yết, phát hành thêm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán quốc tế đối với các NHTM có uy tín; phát hành cổ phiếu thưởng từ lợi nhuận…

2. Quản lý cơ cấu tín dụng hướng tới giảm thiểu rủi ro thông qua đa dạng hóa

Như vậy, điều quan trọng cần xác định được một cơ cấu tín dụng mà ở đó, mức độ rủi ro là tương xứng với khả năng quản trị rủi ro. Việc giảm tỷ trọng cho vay các lĩnh vực không khuyến khích và sau đó là tăng tỷ trọng các lĩnh vực được ưu tiên cần được thực hiện thận trọng nhằm bảo đảm lượng vốn phù hợp cung cấp cho các thị trường như thị trường bất động sản, chứng khoán…, hạn chế gây ra tình trạng “đóng băng” tại các thị trường này, gắn điều chỉnh cơ cấu tín dụng với việc cơ cấu lại các thị trường này theo hướng phát triển bền vững. Đối với những rủi ro mang tính hệ thống và khó kiểm soát, cần có chính sách phát triển những công cụ bảo hiểm rủi ro phù hợp với các tổ chức có khả năng kiểm soát rủi ro tốt. Qua đó, trong trường hợp không có khả năng quản trị rủi ro, NHTM có thể phòng ngừa được rủi ro thông qua việc chuyển cho các tổ chức này.

3. Đẩy nhanh hiệu quả xử lý nợ xấu thông qua hoạt động của VAMC

Trước áp lực tiếp tục mua từ các NHTM, huy động các nguồn lực để mua nợ xấu theo giá thị trường, cũng như để thực hiện hiệu quả việc xử lý nợ xấu đã mua, điều quan trọng là cần tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của VAMC:

Thứ nhất, về tiêu chí mua các khoản nợ xấu từ các TCTD của VAMC

Về nguyên tắc, VAMC chỉ nên mua những khoản nợ xấu mà VAMC có thể xử lý hiệu quả hơn là để tự các NHTM xử lý. Ví dụ, các tài sản cố định như tài sản bị tịch thu và các khoản vay yêu cầu tịch thu nhà là những lựa chọn tốt cho việc chuyển nhượng cho VAMC xử lý. Mặt khác, các khoản nợ xấu mà NHNN nhận thấy bản thân có khả năng tự tái cơ cấu và những khách hàng mà các NHTM muốn duy trì mối quan hệ lâu dài thì có thể để lại để các NHTM tự xử lý. Các khoản nợ xấu với quy mô nhỏ, mà tự bản thân NHTM có thể thực hiện thu hồi tốt hơn VAMC, cũng nên được để lại cho các ngân hàng tự xử lý. Để đạt được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, VAMC nên chuyển tất cả các khoản nợ có liên hệ với nhau (ví dụ, các khoản vay của cùng một khách hàng, một nhóm khách hàng hoặc các khoản vay liên quan đến cùng một loại tài sản thế chấp) thành một nhóm và mua các khoản nợ này từ phía các NHTM. Do vậy, việc áp dụng nghiêm ngặt Thông tư số 02/2013/TT-NHNN là một việc làm hết sức cần thiết để cùng lúc các ngân hàng có thể nhận định chính xác chất lượng khoản nợ của doanh nghiệp, có các biện pháp xử lý nợ xấu kịp thời. Các khoản nợ xấu của một doanh nghiệp, cá nhân tại các NHTM khác nhau cần được đánh giá và xử lý đồng thời, bất kể trường hợp khoản nợ tại một hoặc một số NHTM không được phân loại vào nhóm nợ xấu. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện để thực hiện tái cấu trúc toàn diện doanh nghiệp, bảo đảm xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu.

Thứ hai, về giá mua các khoản nợ xấu của VAMC

Việc mua các khoản nợ xấu của VAMC theo giá thị trường và giá gốc (đã trừ khoản trích lập dự phòng rủi ro) bằng trái phiếu đặc biệt đồng thời yêu cầu các NHTM trích lập dự phòng rủi ro cho các trái phiếu này là một phương án phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay cũng như mục đích của NHNN về tái cơ cấu hệ thống NHTM gắn với tái cơ cấu các doanh nghiệp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều này hạn chế được những bất cập khi giá mua nợ xấu cao hơn giá trị thị trường sẽ dẫn tới khả năng các NHTM bán hẳn cho VAMC số tài sản xấu rất lớn và hình thành tâm lý đẩy nhanh các khoản nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán mà không có trách nhiệm xử lý các khoản nợ này. Đối với mua nợ xấu theo giá thị trường mà VAMC sẽ tiến hành trong thời gian tới đây, thường rất khó để định giá tài sản xấu (đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính), dựa trên khả năng phục hồi, dự báo dòng tiền (với tỷ lệ chiết khấu phù hợp), và thẩm định tài sản thế chấp, VAMC nên xác định một giá trị xấp xỉ của các khoản nợ và sử dụng cho mục đích của việc chuyển giao. Do thời gian là một vấn đề luôn được quan tâm trong công tác xử lý nợ xấu và số lượng các khoản nợ xấu là rất nhiều, việc chuyển giao sẽ diễn ra tại mức giá ban đầu với thỏa thuận rõ ràng giữa bên bán và bên mua về mức giá cuối cùng của giao dịch được xác định sau khi giá trị của các tài sản được VAMC đã được xử lý hoàn toàn.

Ngoài ra, chuyển giao tài sản cho VAMC tại mức giá thị trường đòi hỏi VAMC thực hiện một mục tiêu rõ ràng là thu hồi lại số vốn bỏ ra ban đầu. Những hạn chế của phương pháp này là nó có thể làm giảm một phần mong muốn bán các khoản nợ xấu cho VAMC do cả lợi ích và rủi ro chưa được xác định chính xác tại thời điểm chuyển giao khoản nợ xấu. Trong trường hợp này, một số thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận hoặc thua lỗ giữa VAMC và các NHTM có thể giúp khắc phục vấn đề. Cần chú ý việc đưa ra một mức giá, hay một tỷ lệ thanh toán, cho một loạt các khoản nợ xấu mặc dù đem lại sự đơn giản hóa và chuẩn hóa các quá trình định giá lại có thể mang lại những bất lợi nhất định. Ví dụ, một hệ thống ở tất cả các mức giá thống nhất được áp dụng cho các khoản vay không có bảo đảm trong cùng một danh mục nợ xấu có thể sẽ khiến các NHTM lựa chọn bán các khoản nợ có giá trị thấp nhất cho VAMC.

Trong trường hợp giữa VAMC và các NHTM không đi đến một thỏa thuận về giá thị trường của các khoản nợ xấu, một tổ chức độc lập sẽ có trách nhiệm đánh giá khách quan khoản nợ xấu này, và hai bên phải chấp nhận mức giá do tổ chức độc lập đưa ra. Ngoài ra, VAMC và các NHTM có thể thỏa thuận với một mức giá bằng bình quân mức giá các khoản nợ xấu tương tự đã được mua theo giá thị trường, đi kèm với một cam kết khi thực hiện xử lý xong, các khoản lãi, hoặc lỗ từ việc xử lý sẽ được phân chia lại theo một tỷ lệ nhất định, nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý các khoản nợ xấu.

Thứ ba, về nguồn vốn sử dụng để mua nợ xấu của VAMC

Trong thời gian tới, Chính phủ, NHNN cần xem xét cho phép VAMC bán các khoản nợ xấu đã mua cho các nhà đầu tư quốc tế thông qua việc ban hành các cơ chế chặt chẽ để vừa xử lý được các khoản nợ, thu hút được nguồn vốn, nhưng đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư, các khách hàng có nợ xấu nói riêng cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính, nền kinh tế Việt Nam nói chung. Nếu không tìm được các nhà đầu tư với nguồn vốn dồi dào và khả năng xử lý nợ chuyên nghiệp thì rất khó có khả năng tìm kiếm được nhà đầu tư trong nước có đủ khả năng tài chính và chuyên môn để xử lý các khoản nợ này. Rất có thể, chính các NHTM sẽ là nhà đầu tư chủ chốt vào các trái phiếu mà VAMC phát hành (đặc biệt là trong trường hợp trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và mức lãi suất sau khi loại bỏ yếu tố rủi ro là cao hơn so với lãi suất cho vay ra nền kinh tế). Như vậy, nguồn vốn thu được từ việc bán các khoản nợ xấu ít có khả năng được đưa vào cấp vốn cho nền kinh tế.

4. Nâng cao chất lượng quản trị quản trị, điều hành của TCTD

Tăng cường năng lực quản trị, điều hành của TCTD phù hợp với thông lệ chuẩn mực và nguyên tắc quốc tế. Việc cải thiện hoạt động của Hội đồng quản trị (HĐQT), ban điều hành cần bảo đảm tính độc lập về thẩm quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của HĐQT, ban điều hành và ban kiểm soát được thực hiện thông qua việc tách bạch rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát, theo đó hạn chế cho phép thành viên HĐQT, hội đồng thành viên của ngân hàng kiêm nhiệm chức vụ trong ban điều hành. Thêm vào đó, ban kiểm soát phải thực sự độc lập với HĐQT và có tiếng nói đối với các quyết định có ảnh hưởng không tốt tới quyền lợi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Hơn nữa, vai trò của thành viên độc lập trong HĐQT phải thực sự độc lập, có tiếng nói và quan điểm của mình trong trường hợp những quyết định của HĐQT gây bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ hoặc phục vụ cho lợi ích nhóm. Các NHTM cần tạo điều kiện cho cổ đông được thực hiện các quyền của cổ đông, trong đó các quyền chất vấn, trình bày, phát biểu tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Bên cạnh đó, các NHTM cần tiếp tục nâng cao chất lượng công bố thông tin của mình. Nâng cao chất lượng công bố thông tin cho cổ đông là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị điều hành, tạo niềm tin từ phía nhà đầu tư và phát triển thương hiệu, hình ảnh NHTM trên thị trường. Để cải thiện chất lượng công bố thông tin, các ngân hàng cần công bố thông tin một cách đầy đủ, kịp thời, và phù hợp theo đúng quy định của pháp luật. 

5. Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, triển khai các giải pháp tín dụng xanh

Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của NHTM hướng tới mục đích nhằm giảm thiểu những rủi ro phi hệ thống (non-systematic risks), qua đó tăng khả năng chịu đựng (khả năng chấp nhận) rủi ro của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của một NHTM bao gồm tín dụng, đầu tư và các dịch vụ ngân hàng khác như thanh toán, ngoại hối, ủy thác, tư vấn tài chính… Việc nguồn thu của NHTM Việt Nam hiện nay phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tín dụng khiến cho lợi nhuận và mức độ rủi ro của ngân hàng ở mức cao, không tận dụng được những ích lợi về giảm thiểu rủi ro mà đa dạng hóa kinh doanh đem lại. Hệ thống NHTM cần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thông qua việc nâng cao tỷ trọng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng và hoạt động đầu tư. Dù vậy, trong bối cảnh hoạt động đầu tư của NHTM Việt Nam đang bị kiểm soát khá chặt chẽ từ cơ quan quản lý Nhà nước do những bất cập trong nghiệp vụ này và những bài học thực tiễn từ hoạt động đầu tư của các NHTM trên thế giới trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, các NHTM nên tập trung vào phát triển mảng dịch vụ ngân hàng. Các NHTM cần tập trung phát triển các mảng dịch vụ phi tín dụng như tư vấn tài chính cá nhân, thanh toán liên ngân hàng, đầu tư vào internet banking, phát triển các hình thức thanh toán qua các công cụ điện tử. Học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ từ các nhà đầu tư chiến lược là các ngân hàng nước ngoài sẽ giúp ngân hàng Việt Nam đẩy mạnh tiến trình này. Tùy vào năng lực của mình, mỗi ngân hàng cần tự xây dựng kế hoạch đầu tư, phát triển vào các mảng dịch vụ phi tín dụng dựa trên điều kiện và năng lực sẵn có. Ví dụ, đối với các ngân hàng đã có sẵn cơ sở hạ tầng thanh toán tốt cần tập trung vào công tác nâng cao các tiện ích sử dụng cho người sử dụng bao gồm nâng cấp hệ thống kỹ thuật, phát triển đội ngũ nhân viên hướng dẫn sử dụng dịch vụ phù hợp. Bên cạnh đó, ngân hàng này cần có sự phối hợp với các bên bán hàng khác như siêu thị, chuỗi cửa hàng… để có những chính sách giảm giá, khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán phi tiền mặt. Đối với các ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống thanh toán hiện đại và rộng rãi cho khách hàng thì có thể: (i) liên kết với ngân hàng đã có cơ sở thanh toán tốt; (ii) phát triển xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn tài chính cho khách hàng cá nhân.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cần triển khai các biện pháp thực hiện tín dụng xanh, bảo đảm tính bền vững cho sản xuất kinh doanh lẫn tín dụng ngân hàng trong tương lai. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nhiều nhất của biến đổi khí hậu, trong đó có một phần nguyên nhân từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã trở thành mục tiêu then chốt trong các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Dựa trên Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 và định hướng tín dụng xanh của NHNN, các ngân hàng cần tập trung nguồn lực để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hướng tới bảo vệ môi trường, và việc đầu tiên là triển khai áp dụng các nguyên tắc này trong mọi hoạt động của ngân hàng. Bổ sung tiêu chí về tác động môi trường trong việc phân loại các khách hàng, dự án vay vốn nhằm có đánh giá chân thực thực trạng tín dụng xanh tại ngân hàng và trên cơ sở đó, kết hợp với định hướng của NHNN, xây dựng chính sách tín dụng theo hướng thân thiện và bảo vệ môi trường. Việc hình thành bộ tiêu chí đánh giá tác động môi trường và kiện toàn bộ máy tổ chức có sự tư vấn chuyên sâu về môi trường là hoạt động rất cần thiết cho ngân hàng. Hiện nay, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Cục Kinh tế liên bang Thụy sĩ đang rất tích cực hỗ trợ Chính phủ Việt Nam và các NHTM trong việc triển khai các chương trình, dự án tín dụng có yếu tố thân thiện, bảo vệ môi trường. Tận dụng các cơ hội này, các ngân hàng có thể nắm bắt được hệ thống quy trình triển khai và các biện pháp quản trị tín dụng đối với các khoản tín dụng trong lĩnh vực này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

– Học viện Ngân hàng, 2016, Báo cáo hoạt động ngân hàng năm 2015 và triển vọng năm 2016.

– Quyết định 254/QĐ-TTg về phê duyệt đề án Cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015.

– Tô Kim Ngọc, 2015, Đánh giá quá trình tái cơ cấu hệ thống TCTD Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và một số khuyến nghị.

– Tô Ngọc Hưng, 2013, Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc các ngân hàng thương mại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành năm 2012.

– Website NHNN, mục Thống kê tiền tệ ngân hàng.

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 1-2/2017

Trích dẫn từ: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ  NƯỚC VIỆT NAM

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: