THANH LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐẠO LUẬT NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2006

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNTrường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không phải là vấn đề mới trong luật dân sự Pháp cũng như luật dân sự Việt Nam hay hầu hết các luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất hiện tương đối sớm trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Khái niệm này xuất hiện cũng lâu đời như khái niệm về nghĩa vụ dân sự[1]. Nhưng đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp[2] đã có rất nhiều thay đổi về hình thức lẫn nội dung các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà rõ ràng nhất là về mặt hình thức. Sự thay đổi này có rất nhiều điểm mới, tiến bộ. Tìm hiểu và so sánh để tìm ra những điểm tương đồng để có thể giải thích và vận dụng cho các vấn đề tương tự của luật Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề về thanh lý thế chấp theo đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp.

1. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đối với các biện pháp bảo đảm đối vật nói chung theo quy định của pháp luật dân sự Pháp

Trước khi đề cập trực tiếp đến các quy định của luật dân sự Pháp về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, thiết nghĩ nên đề cập qua về tập hợp các phương thức xử lý tài sản bản đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của pháp luật Việt Nam được xây dựng như là một phần nhỏ trong cơ cấu chung về nghĩa vụ dân sự của BLDS. Theo quy định hiện nay chúng ta có tổng cộng 7 biện pháp bảo đảm là bảo lãnh; thế chấp; cầm cố; ký cược; ký quỹ; đặt cọc; tín chấp.

Nhà làm luật Việt Nam không có ý định phân chia một cách chi tiết các biện pháp bảo đảm nói trên theo từng nhóm riêng biệt. Tuy vậy, thực tiễn công tác nghiên cứu vẫn có xu hướng sắp xếp các biện pháp bảo đảm nói trên thành hai phân nhóm trên cơ sở sự khác biệt về các quyền của bên nhận bảo đảm nói chung. Hai phân nhóm được chấp nhận trong phân chia đó là các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Sự phân chia này hoàn toàn giống với cách phân chia trong luật của Pháp. Trong đó, các biện pháp bảo đảm đối vật tạo ra cho chủ nợ nhận bảo đảm quyền đối vật trên tài sản bảo đảm, bao gồm quyền được nắm giữ (nắm giữ vật chất hoặc nắm giữ tượng trưng) đối với tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán theo thứ tự được xác định khi tài sản bảo đảm được bán. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh) chỉ tạo ra cho chủ nợ quyền đối nhân, quyền được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với một người khác, không phải là người mắc nợ.

Về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, BLDS 2005 và Nghị định 163/CP của Chính phủ năm 2006 đã có nhiều quy định, tuy nhiên, tựu trung lại có các cách thức xử lý sau đây:

– Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thoả thuận: bán tài sản bảo đảm; bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ; phương thức khác do các bên thoả thuận.

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm hoặc có thỏa thuận nhưng phương thức lựa chọn không thể thực hiện được,thì tài sản bảo đảm sẽ được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ.

Có thể thấy, quy định của pháp luật Việt Nam về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm khá “thoáng” và khá rõ ràng. Rõ ràng vì các biện pháp này được quy định cụ thể trong Điều 59 Nghị định 163/CP năm 2006 và Điều 336 BLDS. “Thoáng” vì có vẻ như nhà làm luật chấp nhận cho các bên thỏa thuận một phương thức xử lý tài sản bảo đảm khác với các phương thức được dự kiến.

Về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo luật dân sự Pháp, trước thời điểm có hiệu lực của đạo luật ngày 23/3/2006, đối với việc thế chấp bất động sản, chủ nợ chỉ có thể yêu cầu Tòa án cho xử lý tài sản bảo đảm, đáp ứng yêu cầu này, Tòa án sẽ ra quyết định cho bán đấu giá tài sản và chủ nợ sẽ được ưu tiên thanh toán trên số tiền thu được sau khi bán. Từ quy định của đạo luật ngày 23/3/2006, tất cả các biện pháp bảo đảm đối vật[3] được quy định ở Chương thứ 2 Quyển 4 BLDS Pháp đều có chung cách thức xử lý tài sản được liệt kê gồm các lựa chọn sau đây:

a. Bán tài sản bảo đảm.

Phương thức bán tài sản này có thể được thực hiện bằng một trong hai hình thức, dàn xếp bán tài sản bảo đảm với sự cho phép của Tòa án[4] hoặc bán đấu giá tài sản bảo đảm.

Phương thức thứ nhất (dàn xếp bán) không được chấp nhận trong trường hợp cầm cố tài sản, tức là chỉ được chấp nhận đối với biện pháp thế chấp. Dù gọi là dàn xếp bán tài sản bảo đảm nhưng thực tế, sự dàn xếp này cũng phải được sự cho phép của Tòa án có thẩm quyền. Có thể nói, về phương diện này, sự can thiệp của Tòa án Pháp chặt chẽ hơn nhiều so với cơ chế xử lý tài sản bảo đảm ở Việt Nam, ít ra là ở góc độ lập pháp, trên cơ sở các quy định của pháp luật. Vì theo các quy định hiện nay của luật dân sự Việt Nam, sự dàn xếp bán tài sản bảo đảm như vậy có thể được thực hiện theo thỏa thuận của các bên mà hoàn toàn không cần có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như của Tòa án.

Quy định của luật dân sự Pháp cấm việc bán tài sản bảo đảm theo thỏa thuận của các bên mà thỏa thuận này cho phép họ không tuân thủ quy trình, thể thức yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm, có nghĩa là bán mà không thông qua vai trò của Tòa án[5]. Quy định cấm này đã có từ BLDS và tiếp tục được ghi nhận trong đạo luật mới. Việc cấm này xuất phát từ sự e ngại rằng, một sự dàn xếp bán như vậy có thể dẫn đến tình trạng tài sản được bán với giá thấp hơn so với giá trị thực tế của nó, điều này ảnh hưởng một cách tiêu cực đến quyền lợi của những đồng chủ nợ khác cũng như của người mắc nợ. Nói một cách cực đoan, việc bán này có thể “cướp đoạt” khả năng được thanh toán nợ của các chủ nợ khác[6] cùng nhận bảo đảm.

Phương thức bán thứ hai là bán đấu giá tài sản bảo đảm. Lưu ý rằng việc lựa chọn bán đấu giá hay bán theo thỏa thuận dàn xếp thuộc thẩm quyền của Tòa án, mà không có quy định rõ ràng trong trường hợp này là các phương thức được áp dụng với những điều kiện nào. Đối với trường hợp bán đấu giá tài sản cầm cố thì trước khi bán tài sản phải được định giá bởi các chuyên gia thẩm định giá theo chỉ định của thẩm phán. Riêng đối với trường hợp bán đấu giá tài sản thế chấp, giá khởi điểm sẽ được xác định bởi chủ nợ yêu cầu xử lý tài sản (Điều 2206 BLDS Pháp). Trong trường hợp, bên bảo đảm (hay là người mắc nợ) cho rằng giá đã xác định của chủ nợ nhận bảo đảm là quá thấp thì bên bảo đảm có thể yêu cầu thẩm phán xác định lại giá trị thực sự của tài sản theo giá thị trường.

Trường hợp tài sản không bán được thì chủ nợ sẽ mặc nhiên trở thành người trúng đấu giá với giá đã đưa ra ban đầu, kể cả trong trường hợp thẩm phán đã xác định (theo yêu cầu của bên bảo đảm) tài sản có giá cao hơn giá do chủ nợ đưa ra. Những ai có quan tâm đến tài sản đều có thể qua mặt chủ nợ để trở thành người trúng đấu giá nếu trong vòng 15 ngày – kể từ thời điểm mở bán đấu giá – người này trả thêm 10% giá do chủ nợ đưa ra.

b. Nhận tài sản bảo đảm thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ [7].

Đây là phương thức xử lý tài sản bảo đảm mới được ghi nhận theo quy định của đạo luật ngày 23/3/2006. Theo phương thức này, thay vì phải khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bán tài sản và được ưu tiên thanh toán từ số tiền thu được do việc bán tài sản thì chủ nợ, theo phương thức này có thể yêu cầu Tòa án cho phép lấy chính tài sản này thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ. Phương thức này được chấp nhận cả đối với thế chấp (Điều 2458 BLDS Pháp) và cầm cố (Điều 2347 BLDS Pháp). Phương thức này mặc dù về bản chất giống với phương thức xử lý tài sản của luật Việt Nam “nhận tài sản bảo đảm để trừ nợ”, nhưng trên thực tế có một vài điểm khác.

Điểm khác thứ nhất, đây là phương thức được lựa chọn bởi chủ nợ chứ không phải theo thỏa thuận của các bên trong giao dịch bảo đảm như trong luật Việt Nam. Thứ hai, việc áp dụng biện pháp này bắt buộc trong mọi trường hợp phải thông qua Tòa án. Trong khi đó quy định của luật Việt Nam không yêu cầu điều này, có nghĩa là chỉ cần các bên có thỏa thuận và tự nguyện thực hiện phương thức này.

Rõ ràng, phương thức xử lý tài sản này bản thân nó cũng chứa đựng những nguy cơ xấu đối với cả bên bảo đảm cũng như các chủ nợ nhận bảo đảm khác. Điều này là dễ hiểu khi ở thời điểm xác lập nghĩa vụ chính (được bảo đảm) bên bảo đảm ở trong tình thế không có nhiều sự lựa chọn (ví dụ như rất cần vốn vay) thì bên này sẽ dễ dàng chấp nhận một phương thức xử lý tài sản bất lợi, phương thức này là một ví dụ. Đối với các chủ nợ khác cùng nhận bảo đảm bằng chính tài sản này thì sự bất lợi có thể thấy rất rõ là họ không còn gì để bảo đảm cả.

Dự liệu được những khả năng này trong thực tế, luật dân sự Pháp quy định cấm áp dụng phương thức này đối với tài sản bảo đảm là nơi cư trú[8] của bên bảo đảm. Ngoài ra Điều 2460 BLDS Pháp còn quy định, trước khi quyết định giao tài sản cho chủ nợ thì phải tiến hành định giá tài sản. Việc định giá được tiến hành bởi các chuyên gia theo triệu tập của thẩm phán hoặc theo thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp giá trị của tài sản được xác định là lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì chủ nợ phải hoàn trả phần chênh lệch. Luật hoàn toàn không đề cập đến trường hợp ngược lại, giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn nghĩa vụ cần thanh toán, có lẽ cũng không cần đề cập vì trong trường hợp này, trên tinh thần đảm bảo một sự đối xử công bằng giữa chủ nợ nhận bảo đảm và bên bảo đảm theo luật của Pháp thì việc lấy tài sản này chỉ có tác dụng chấm dứt thế chấp đối với chủ nợ nhận tài sản và chỉ dừng lại ở việc chấm dứt thế chấp mà thôi, nếu nghĩa vụ vẫn còn thì nghĩa vụ này sẽ ở trong tình trạng nghĩa vụ không có bảo đảm. Nghĩa là chủ nợ vẫn có thể tiếp tục đòi với tư cách là một món nợ không có bảo đảm.

Phương thức xử lý tài sản này hoàn tất bằng việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho chủ nợ.

c. Thỏa thuận nhận tài sản bảo đảm trừ nợ [9]

Đầu tiên, cần có sự phân biệt giữa biện pháp này và biện pháp nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ vừa được trình bày ở trên. Thoạt nhìn thì hai biện pháp này khá giống nhau, thậm chí là giống nhau về bản chất, vì kết quả đạt được đều là chủ nợ sẽ trở thành chủ sở hữu tài sản bảo đảm. Tuy nhiên có sự khác biệt nằm ở chỗ, nếu “thỏa thuận nhận tài sản bảo đảm trừ nợ” hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch bảo đm thì “nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ” là kết quả của một yêu cầu và được Tòa án chấp nhận.

Phương thức xử lý tài sản này không được chấp nhận trong bối cảnh của luật cũ. Điều 2078 BLDS Pháp cấm thỏa thuận này đối với biện pháp cầm cố và một thỏa thuận như thế này nếu có sẽ bị vô hiệu tuyệt đối. Đối với biện pháp thế chấp, không có quy định cấm rõ ràng trong luật cũ nhưng án lệ có xu hướng không chấp nhận loại thỏa thuận này. Sự e dè của luật xuất phát từ sự lo lắng rằng, bên mắc nợ và các chủ nợ nhận bảo đảm đến sau sẽ bị thiệt thòi. Và sự cấm đoán này thực sự là một sự can thiệp (từ cả góc độ lập pháp lẫn ở góc độ tư pháp) vào quyền tự do thương lượng và thỏa thuận hợp đồng của các bên.

Đạo luật ngày 23/3/2006 của Pháp đã trực tiếp gỡ bỏ quy định cấm. Từ thời điểm có hiệu lực của đạo luật này, các bên của giao dịch bảo đảm có thể thỏa thuận chọn phương thức này để áp dụng. Tuy nhiên, cũng giống như phương thức xử lý tài sản đề cập ở trên, Tòa án can thiệp rất chặt chẽ vào quá trình xử lý tài sản trong trường hợp này. Cụ thể có một vài hạn chế sau đây: thứ nhất, phương thức này không áp dụng trên bất động sản là nơi cư trú của bên bảo đảm, thứ hai, cần phải định giá tài sản trước khi giao cho chủ nợ. Nhìn chung là cách thức đối xử của nhà làm luật trong cả hai trường hợp này (bc) là như nhau.

Từ đó, có thể thấy rất rõ sự can thiệp ở khía cạnh tư pháp vào hoạt động này. Sự can thiệp này là cần thiết nhằm đảm bảo rằng hoạt động này được thực hiện một cách đúng luật và đảm bảo quyền lợi của các bên có liên quan, đặc biệt là của bên bảo đảm.

2. Thanh lý thế chấp trong trường hợp quyền sở hữu tài sản thế chấp được chuyển cho bên thứ ba.

Ba phương thức xử lý tài sản bảo đảm nói chung đề cập trên đây áp dụng cho trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ, vì thế tài sản bảo đảm bị mang ra xử lý để thu hồi nợ.

Trên thực tế, trong quá trình cầm cố, thế chấp, thực hiện giao dịch bảo đảm nói chung, tài sản bảo đảm vẫn luôn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ các trường hợp quyền sở hữu tài sản bị nắm giữ như một biện pháp bảo đảm)[10]. Do vậy, với tư cách là chủ sở hữu, bên bảo đảm vẫn còn các quyền chiếm hữu, sử dụng và thậm chí là định đoạt tài sản bảo đảm.

Xuất phát từ quan điểm: biện pháp “bảo đảm” phải mang tới sự “bảo đảm” an toàn cho bên nhận bảo đảm nên quy định của luật Việt Nam hạn chế một cách tối đa việc thực hiện quyền định đoạt tài sản của bên bảo đảm. Có thể nhìn thấy rõ ràng điều này thông qua các quy định của Nghị định 163/CP về giao dịch bảo đảm.

Còn theo quy định của BLDS Pháp và Đạo luật ngày 23/3/2006, trong thời gian thực hiện hợp đồng bảo đảm, chủ sở hữu tài sản có thể bán, tặng cho hoặc trao đổi tài sản này cho bên thứ ba. Vấn đề đặt ra trong trường hợp này là quyền của các bên thứ ba sẽ giải quyết như thế nào trong quan hệ với bên nhận bảo đảm. Một điều cần lưu ý là nhà làm luật không hề lo lắng cho quyền của bên nhận bảo đảm mà lo lắng nhiều hơn cho quyền của bên mua, nhận trao đổi hay được tặng cho tài sản. Lý do hết sức đơn giản là vì một khi giao dịch bảo đảm đã được đăng ký thì dù tài sản có nằm trong tay ai bên nhận bảo đảm cũng có quyền truy tìm, mang về và xử lý để thu hồi nợ[11]. Do đó, thủ tục thanh lý trong trường hợp này có tác dụng làm chấm dứt quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm. Thủ tục thanh lý thế chấp được đề cập bởi các quy định của BLDS Pháp và Đạo luật ngày 23/3/2006 từ Điều 2476 đến 2487. Theo các quy định này, bên thứ ba đang nắm giữ tài sản (do thỏa thuận một cách hợp pháp về việc tặng cho, trao đổi… với bên bảo đảm) sẽ đưa ra đề nghị trả một khoản tiền tương ứng với giá bán tài sản được xác định bởi bên này cho các chủ nợ được bảo đảm bằng chính tài sản này. Đề nghị này được gửi bằng thông báo chính thức đến các chủ nợ trước thời điểm có yêu cầu xử lý tài sản từ phía chủ nợ nhận bảo đảm. Nếu tất cả các chủ nợ đều đồng ý với đề nghị này, số tiền “bán” tài sản sẽ được dùng để thanh toán cho các chủ nợ nhận bảo đảm theo thứ tự ưu tiên được xác định theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm. Tài sản bảo đảm sẽ được giải phóng và thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba một cách toàn vẹn. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì số nợ còn thiếu sẽ trở thành nợ không có bảo đảm. Ngược lại, nếu các chủ nợ không đồng ý vì cho rằng, giá thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên mua tài sản thấp hơn rất nhiều so với giá trị thật của tài sản, việc thanh lý tài sản không thành công và trong vòng 40 ngày kể từ thời điểm nhận được thông báo yêu cầu thanh lý, các chủ nợ phải xin phép Tòa án cho tiến hành bán đấu giá tài sản với mức giá khởi điểm được đưa ra bằng với giá được xác định của bên mua đầu tiên cộng thêm 10% tăng thêm và phải cam đoan rằng, nếu không bán được tài sản bằng việc bán đấu giá này thì họ sẽ là người mua với giá được xác định lần thứ hai này. Như vậy, các chủ nợ sẽ phải cân nhắc thật cẩn thận về đề nghị thanh lý, bởi vì nếu vội vàng từ chối thì hậu quả sẽ tương đối nặng nề đối với họ. Trong trường hợp tài sản bán được qua cuộc bán đấu giá, các chủ nợ sẽ được thanh toán từ số tiền thu được. Nếu số tiền thu được từ việc bán đấu giá thừa để thanh toán tất cả các nghĩa vụ, thì số còn thừa này sẽ phải trả lại cho bên bảo đảm. Tuy nhiên bên đề nghị thanh lý ban đầu sẽ được phép giữ lại hoa lợi, lợi tức mà anh ta thu được từ tài sản trong quá trình nắm giữ trước khi chuyển sang cho bên trúng đấu giá.

Kỹ thuận thanh lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này bị đánh giá là nặng nề[12] và phức tạp khi áp dụng trong thực tiễn, do đó, Đạo luật ngày 23/3/2006 cho phép một quy trình cải tiến hơn tạm dịch là dàn xếp thanh lý tài sản bảo đảm”[13] (Điều 2475 BLDS Pháp). Theo quy trình này, một khi giá trị tài sản bảo đảm được đánh giá là tương đương với tổng hợp các nghĩa vụ được bảo đảm được đăng ký, bên thứ ba mua tài sản sẽ đề nghị mua và thanh toán toàn bộ số tiền này cho công chứng viên, công chứng viên đóng vai trò trung gian sẽ dùng số tiền này để thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm, đổi lại, các chủ nợ sẽ từ bỏ quyền của họ đối với tài sản bảo đảm. Quy trình này chỉ có thể được thực hiện với sự đồng ý của tất cả các chủ nợ và bên bảo đảm, cũng chính là người mắc nợ[14]. Công chứng viên tham gia trong quy trình này có ý nghĩa là một bên trung gian, đồng thời cũng đóng vai trò quan sát viên, đảm bảo rằng việc thanh lý tài sản diễn ra hợp pháp và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

Vấn đề thanh lý tài sản đề cập trên đây hoàn toàn không phải là vấn đề mới mẻ đối với các nhà làm luật Việt Nam khi đã cho phép bán tài sản bảo đảm trong một vài trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là chúng ta đang lo lắng một cách thái quá cho chủ nợ, nên việc cho phép bán tài sản trong trường hợp này còn dừng lại trong chừng mực rất e dè. Điều này dẫn đến hệ quả là các quy định của luật chúng ta chưa giải quyết một cách rốt ráo trong trường hợp bên bảo đảm mang tài sản đi bán. Ví dụ điển hình là trong trường hợp tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, bên bảo đảm được phép bán mà không cần có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm, luật cũng không quy định là cần phải thông báo. Như vậy, mặc dù luật quy định số tiền thu được từ việc bán sẽ trở thành tài sản thế chấp thay thế, nhưng làm sao bên nhận thế chấp biết được việc bán này để có thể thiết lập biện pháp bảo đảm trên tài sản mới?

Mô hình về thanh lý tài sản bảo đảm trong luật dân sự Pháp là một cái nhìn mới đáng để chúng ta suy ngẫm và học hỏi./.


[1] Droit des surete, Yves Picoq, (Ouvrage a jour de la loi de modernisation de l`economie du 4 aout 2008), Trang 5

[2] L`Ordonnance du 23 mas 2006

[3] Bao gồm các biện pháp: bảo đảm đối vật bằng động sản (bao gồm: đặc quyền, cầm cố động sản hữu hình, cầm cố động sản vô hình, cầm giữ quyền sở hữu tài sản, la fiducie-surete) và bảo đảm đối vật bằng bất động sản (đặc quyền, cầm cố bất động sản, thế chấp bất động sản, la fiduci-surete). Riêng về Fiducie-surete, biện pháp bảo đảm này mới xuất hiện trong luật dân sự Pháp từ Luật năm 2007.

[4] Vente à l`amiable sur l`autorisation judiciaire

[5] La clause de voie parrée

[6]Marie-Noëlle JOBARD- BACHELLIER, Manuella BOURASSIN, Vincent BREMOND, “Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ », Sirey, 2007, số 1694, trang 412

[7] L`attribution judiciaire

[8] Luật dùng từ “residence principale” có nghĩa là nơi ở chính, chủ yếu của bên bảo đảm, nhưng thực ra nên hiểu là nơi ở duy nhất.

[9] Le pacte commissoire

[10]“ La réserve de droit propriété”, kỹ thuật bảo đảm này đã được công nhận tại Việt Nam dưới tên gọi “mua trả chậm trả dần”. Đối với hợp đồng mua bán loại này, bên bán giao tài sản cho bên mua nhưng không chuyển giao quyền sở hữu. Quyền sở hữu nằm trong tay bên bán như một biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán kéo dài. Tuy nhiên các quy định của luật Việt Nam trong khuôn khổ loại hợp đồng này còn rất đơn giản, chưa phản ánh hết hiệu lực của biện pháp bảo đảm áp dụng trong trường hợp này.

[11] Tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như trong luật Việt Nam, ví dụ việc mua bán đã được đăng ký trước thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm.

[12] [12] Marie-Noëlle JOBARD- BACHELLIER, Manuella BOURASSIN, Vincent BREMOND, “Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ », Sirey, 2007, số 2116, trang 538

[13] La purge amiable

[14] Lưu ý rằng, trong luật dân sự của Pháp, việc thế chấp, cầm cố tài sản của một bên thứ ba được quy định như là việc bảo lãnh đối vật, còn khi đề cập đến thế chấp hay cầm cố thì có nghĩa đó là việc bên có nghĩa vụ thế chấp hoặc cầm cố tài sản của mình. Về vấn đề này xin được đề cập trong khuôn khổ một bài viết khác.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ:

 http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/KinhNghiemQT/View_Detail.aspx?ItemID=109

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: