BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)

QUẢN LÝ RỦI RO PHÁP LÝ khi nhận bảo đảm bằng tiền gửi và số dư tài khoản thanh toán

TS. BÙI ĐỨC GIANG

Bảo đảm bằng tiền gửi là một biện pháp bảo đảm khá phổ biến trong nghiệp vụ cấp tín dụng, nhất là, trong trường hợp cấp tín dụng cho cá nhân. Tính ưu việt của biện pháp bảo đảm này nằm ở chỗ, về nguyên tắc, nó có thể được xử lý một cách khá dễ dàng. Bên gửi tiền có thể sử dụng tiền gửi để bảo đảm cho nghĩa vụ của một bên khác hoặc khách hàng yêu cầu tổ chức tín dụng (TCTD) cấp bảo lãnh có thể sử dụng tiền gửi làm tài sản bảo đảm. Bài viết tập trung phân tích các quy định mới liên quan đến bảo đảm bằng tiền gửi, phân tích các rủi ro pháp lý gắn liền với biện pháp bảo đảm này, đồng thời đề xuất một số kiến nghị giúp quản lý các rủi ro này cũng như hoàn thiện hành lang pháp lý có liên quan. Bài viết cũng mở rộng đề cập việc sử dụng số dư tài khoản thanh toán làm tài sản bảo đảm.

Quy định mới về bảo đảm bằng tiền gửi

Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về tiền gửi tiết kiệm (Thông tư 48) và Thông tư số 49/2018/TT-NHNN về tiền gửi có kỳ hạn (Thông tư 49), ban hành cùng ngày 31 tháng 12 năm 2018 và cùng có hiệu lực thi hành từ ngày 5 tháng 7 năm 2019 đưa ra nguyên tắc chung về việc sử dụng tiền gửi làm tài sản bảo đảm. Điều 13 của Thông tư 48 quy định: “Tiền gửi tiết kiệm được sử dụng để làm tài sản bảo đảm theo hướng dẫn của tổ chức tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Điều 20 của văn bản này đặt ra nghĩa vụ đối với TCTD phải ban hành quy định nội bộ về giao dịch tiền gửi tiết kiệm, trong đó phải có quy định về việc sử dụng tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm. Tương tự, theo quy định tại Điều 11 của Thông tư 49, “Tiền gửi có kỳ hạn được sử dụng để làm tài sản bảo đảm theo hướng dẫn của tổ chức tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”. Điều 15 của Thông tư 49 yêu cầu TCTD phải ban hành  quy định nội bộ về giao dịch tiền gửi có kỳ hạn trong đó phải có nội dung về việc sử dụng tiền gửi có kỳ hạn làm tài sản bảo đảm.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước không quy định biện pháp bảo đảm nào sẽ được áp dụng đối với tiền gửi dù là tiền gửi tiết kiệm hay tiền gửi có kỳ hạn mà dẫn chiếu việc áp dụng quy định chung về giao dịch bảo đảm. Nói cách khác, các bên (bao gồm TCTD và bên bảo đảm) phải tự xác lập hợp đồng bảo đảm phù hợp đối với tiền gửi dựa trên quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tài sản bảo đảm

Trước hết, cần xác định rõ tài sản bảo đảm là đối tượng của biện pháp bảo đảm.

Theo quy định cũ của Ngân hàng Nhà nước cũng như quy định trước đây của pháp luật chung về giao dịch bảo đảm, trong trường hợp tiền gửi tiết kiệm thì tài sản bảo đảm là thẻ tiết kiệm. Theo khoản 1 Điều 7 Thông tư 48, “thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm […] là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền tại tổ chức tín dụng, được áp dụng đối với trường hợp nhận tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng”.

Như vậy, thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm chỉ là giấy tờ xác nhận quyền sở hữu số tiền gửi tiết kiệm. Việc một người khác có trong tay thẻ tiết kiệm hay sổ tiết kiệm không trao cho người này các quyền đối với khoản tiền gửi tiết kiệm. Tương tự như trong trường hợp tiền gửi có kỳ hạn, thỏa thuận tiền gửi có kỳ hạn chỉ là văn bản ghi nhận giao dịch gửi tiền giữa TCTD và người gửi tiền (khách hàng).

Các quy định nêu ở trên của Thông tư 48 và Thông tư 49 chỉ rõ tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn là tài sản bảo đảm. Thực ra, không chỉ ở Việt Nam mà trong nhiều nền pháp luật như pháp luật Anh việc xác định rõ đối tượng của biện pháp bảo đảm trong trường hợp này cũng từng gây ra rất nhiều tranh cãi về mặt học thuật. Đến thời điểm hiện tại trong nền pháp luật này, các học giả đã đi đến thống nhất về việc tiền gửi thể hiện một khoản vay mà bên cho vay là người gửi tiền và bên vay là TCTD nhận tiền gửi1. Khi một tài khoản ngân hàng được ghi có thì nó thể hiện một khoản nợ của TCTD đối với người gửi tiền. Khoản nợ này tương đương với số tiền gửi TCTD, cùng với lãi suất phải trả được các bên thỏa thuận2. Nói cách khác, khi tiền gửi vào TCTD thì quyền sở hữu số tiền gửi đã chuyển sang cho TCTD và đổi lại thì tài sản mà bên gửi tiền có được chính là một quyền đòi nợ đối với TCTD mà giá trị của quyền đòi nợ này được thể hiện bằng (i) tiền gốc, và (ii) tiền lãi do các bên thỏa thuận.

Áp dụng biện pháp bảo đảm nào?

Bộ luật dân sự 2015 không quy định rõ ràng biện pháp bảo đảm nào sẽ được sử dụng cho tiền gửi.

Như đã phân tích ở trên khi gửi tiền vào TCTD, bên gửi tiền sẽ có quyền đòi nợ đối với TCTD. Quyền đòi nợ là một quyền tài sản (tài sản vô hình) được quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự3.

Nếu áp dụng biện pháp cầm cố thì sẽ không phù hợp với bản chất pháp lý của quyền tài sản hay tài sản vô hình là không thể chuyển giao về mặt vật chất4. Thực vậy, tiền gửi với bản chất pháp lý là một loại quyền đòi nợ không thể nắm giữ được về mặt vật chất nên không thể chuyển giao cho TCTD nhận bảo đảm, do đó, không thỏa mãn được yêu cầu giao tài sản trong giao dịch cầm cố5.

Hơn nữa, theo quy định của Bộ luật dân sự về cầm cố thì sẽ có rủi ro lớn cho TCTD nhận cầm cố thẻ tiết kiệm do một TCTD khác (là bên nhận tiền gửi) phát hành.

Thực vậy, do về nguyên tắc, cầm cố tài sản chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố (khoản 2 Điều 310 của Bộ luật dân sự), chứ không phải kể từ thời điểm đăng ký, nên biện pháp cầm cố của TCTD nhận cầm cố trong trường hợp này không có hiệu lực đối kháng với TCTD nhận tiền gửi, bởi vì TCTD nhận cầm cố này chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ nắm giữ được về mặt vật chất tiền gửi được cầm cố.

Nói cách khác, nếu TCTD nhận tiền gửi, sau đó, nhận cầm cố hay thế chấp chính khoản tiền gửi này (và đã đăng ký thế chấp) thì dường như sẽ có quyền ưu tiên thanh toán cao hơn so với TCTD nhận cầm cố ban đầu cho dù xác lập cầm cố hay thế chấp sau. Hơn nữa, ngay cả trong trường hợp không nhận bảo đảm bằng số tiền gửi đó thì TCTD nhận tiền gửi hoàn toàn có thể thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ với bên gửi tiền nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật6, gây bất lợi cho TCTD nhận cầm cố ban đầu.

Biện pháp thế chấp sẽ phù hợp với tiền gửi dù là tiền gửi tiết kiệm hay tiền gửi có kỳ hạn bởi không đặt ra nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp (khoản 1 Điều 317 của Bộ luật dân sự7) và rộng hơn cũng là biện pháp bảo đảm áp dụng cho tất cả các loại quyền tài sản.

Một ưu điểm khác của biện pháp bảo đảm này là về nguyên tắc thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận thế chấp sẽ được xác định theo thứ tự đăng ký thế chấp (khoản 2 Điều 319 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật dân sự). Thế chấp tiền gửi có thể được đăng ký theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 7 Điều 6 của Thông tư số 08/2018/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 20 tháng 6 năm 2018 hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp.

Nói cách khác, trong trường hợp thế chấp tiền gửi, TCTD nào thực hiện đăng ký biện pháp thế chấp của mình trước sẽ có quyền được thanh toán trước TCTD đăng ký sau hoặc không đăng ký. Việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm là một cách tiếp cận hợp lý và thỏa đáng và ngày càng phổ biến trong các nền pháp luật tiên tiến.

Trong cả trường hợp thế chấp tiền gửi của cá nhân lẫn của doanh nghiệp, cần có thỏa thuận cấm bên thế chấp không được rút hoặc thực hiện các giao dịch khác đối với tiền gửi đã thế chấp để bảo toàn giá trị của tài sản thế chấp.

Xử lý tài sản bảo đảm

Việc xử lý tài sản bảo đảm là tiền gửi được thực hiện theo các nguyên tắc chung về xử lý tài sản bảo đảm được nêu tại Điều 303 Bộ luật dân sự8. Trong số các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận nêu tại điều luật này có thể tính đến hai phương thức xử lý tài sản thế chấp là tiền gửi đó là: (i) TCTD nhận thế chấp nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp, và (ii) phương thức khác do các bên thỏa thuận.

Phương thức thứ nhất kéo theo việc TCTD sẽ trở thành chủ sở hữu của khoản tiền gửi (là quyền đòi nợ), do đó sẽ không thực sự phù hợp bởi trong trường hợp này điều mà TCTD muốn là được nhận số tiền gốc và lãi của khoản tiền gửi mà đáng lẽ bên thế chấp sẽ được nhận từ TCTD nếu không có giao dịch thế chấp chứ không phải là sẽ trở thành bên gửi tiền.

Do vậy, phương thức thứ hai là phương thức mở dường như sẽ phù hợp hơn. Trong hợp đồng thế chấp, TCTD và bên thế chấp có thể quy định như sau:

– Trong trường hợp TCTD nhận thế chấp chính là TCTD nhận tiền gửi: “Bên nhận thế chấp có quyền trích toàn bộ số dư tài khoản tiền gửi (bao gồm tiền gốc và tiền lãi của khoản tiền gửi) để thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm”.

– Trong trường hợp TCTD nhận thế chấp không phải là TCTD nhận tiền gửi: “Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu TCTD nhận tiền gửi chuyển cho bên nhận thế chấp toàn bộ số dư tài khoản tiền gửi (bao gồm tiền gốc và tiền lãi của khoản tiền gửi) để thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm”. Lưu ý trong trường hợp này cần có sự đồng ý của TCTD nhận tiền gửi với quy định này bởi theo nguyên tắc về tính tương đối của hợp đồng, một hợp đồng không thể tạo ra nghĩa vụ cho một bên thứ ba không phải là một bên của hợp đồng này. Chẳng hạn, cần thỏa thuận để TCTD nhận tiền gửi đồng ý rằng, TCTD nhận tiền gửi sẽ tuân theo bất cứ yêu cầu nào đối với việc định đoạt số tiền có trên tài khoản tiền gửi của bên thế chấp được đưa ra bởi TCTD nhận thế chấp, mà không cần có sự đồng ý trước của bên thế chấp.

Cũng cần tính đến trường hợp tiền gửi chưa đến hạn khi TCTD xử lý tài sản thế chấp. Pháp luật hiện hành chưa có quy định nào xử lý vấn đề này. Một thỏa thuận ba bên có sự tham gia của cả TCTD nhận tiền gửi (trong trường hợp TCTD nhận thế chấp không phải là TCTD nhận tiền gửi) cho phép TCTD nhận thế chấp được nhận toàn bộ tiền gốc và tiền lãi của khoản tiền gửi để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm sẽ là cần thiết để bảo đảm tính hiệu quả của biện pháp bảo đảm này.

Cam kết của TCTD nhận tiền gửi

Ngoài một số lưu ý nêu ở trên, cần tính đến một số khía cạnh khác trong trường hợp TCTD nhận thế chấp không phải là TCTD nhận tiền gửi.

Như trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ thông thường, ít ra thì TCTD nhận thế chấp cần thông báo cho TCTD nhận tiền gửi để đảm bảo việc TCTD nhận tiền gửi sẽ chỉ thanh toán tiền gốc và tiền lãi của khoản tiền gửi cho TCTD nhận thế chấp.

Thêm vào đó, cũng nên có cam kết của TCTD nhận tiền gửi về việc:

– Không cho phép bên thế chấp thực hiện việc rút tiền gửi hoặc bất cứ giao dịch nào khác đối với số dư tài khoản tiền gửi;

– Không thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ hay tích hợp tài khoản làm giảm hay mất giá trị tài sản thế chấp;

– Không sửa đổi, bổ sung các điều kiện và điều khoản liên quan đến giao dịch gửi tiền khi chưa có sự đồng ý của TCTD nhận thế chấp.

Thế chấp số dư tài khoản thanh toán

Pháp luật hiện hành không có quy định riêng nào về việc sử dụng số dư tài khoản tiền thanh toán (hay còn gọi là tài khoản giao dịch, tài khoản thương mại hay tài khoản vãng lai) của doanh nghiệp hay tài khoản thanh toán của cá nhân làm tài sản bảo đảm. Các phân tích ở trên cũng có thể được sử dụng trong các trường hợp này. Số dư tài khoản thanh toán thể hiện quyền đòi nợ của chủ tài khoản thanh toán đối với TCTD cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản thanh toán mà quyền đòi nợ này về nguyên tắc có thể đến  hạn bất cứ lúc nào (khi chủ tài khoản thanh toán rút tiền hay thực hiện một giao dịch khác đối với số dư (thực dương) của tài khoản thanh toán này).

Điều đó có nghĩa là biện pháp thế chấp sẽ được áp dụng cho số dư tài khoản thanh toán. Nếu tại bất cứ thời điểm nào mà số dư của tài khoản đó bị âm hoặc bằng không thì sẽ không còn tài sản thế chấp nữa do lúc đó không còn khoản nợ nào của TCTD cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mở tài khoản thanh toán đối với bên thế chấp. Tất nhiên, trong trường hợp thế chấp tài khoản thanh toán, TCTD nên quy định một số dư tài khoản nhất định mà bên thế chấp phải duy trì trong quá trình hợp đồng thế chấp có hiệu lực để bảo đảm được việc có thể xử lý thế chấp sau này.

Pháp luật Pháp coi việc thế chấp tài khoản thanh toán là một dạng thế chấp quyền đòi nợ bởi vì quy định về thế chấp tài khoản (Điều 2360 của Bộ luật dân sự Pháp) nằm trong phần quy định về thế chấp quyền đòi nợ (các điều từ 2355 đến 2366 của Bộ luật dân sự Pháp).

Từ các phân tích ở trên có thể thấy, hành lang pháp lý về bảo đảm bằng tiền gửi và số dư tài khoản thanh toán còn khá mong manh trong khi đây là các biện pháp bảo đảm quá phổ biến trong thực tế cấp tín dụng. Thiết nghĩ, nhà làm luật cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý để tránh các rủi ro không đáng có cho các bên liên quan, từ đó sẽ góp phần giúp khơi thông tín dụng. Trong khi chờ đợi các quy định này, TCTD nhận thế chấp cần hết sức thận trọng trong việc xây dựng quy định nội bộ về nhận và xử lý thế chấp tiền gửi cũng như các biểu mẫu hợp đồng có liên quan.


Chú thích:

1 Timothy N Parsons, Lingard’s Bank Security Documents, Butterworths, 7th edition, 2018, para.18.22.
2 Taking security over cash deposits, Practical Law UK (Thomson Reuters) Practice Note 8-201-9254 (2019).
3 Điều 115 Bộ luật dân sự: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
4 Xem thêm Taking security over cash deposits, Practical Law UK (Thomson Reuters) Practice Note 8-201-9254 (2019).
5 Điều 309 Bộ luật dân sự: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.
6 Các điều kiện này được quy định tại Điều 378 của Bộ luật dân sự, theo đó “Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì khi cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
7 Theo đó, “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”.
8 Điều 303 Bộ luật Dân sự quy định về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp:

1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:

a) Bán đấu giá tài sản;

b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;

c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

d) Phương thức khác.

2.Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác”.


 

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 4/2020

Trích dẫn từ: http://tapchinganhang.com.vn/quan-ly-rui-ro-phap-ly-khi-nhan-bao-dam-bang-tien-gui-va-so-du-tai-khoan-thanh-toan.htm

Leave a Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: