Nhhai@thongtinphapluatdansu.edu.vn

NGHĨA VỤ LIÊN ĐỚI và những khó khăn trong tổ chức thi hành

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

Thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới là một trong những nghĩa vụ mà cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thường xuyên phải tổ chức thi hành. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc tổ chức thi hành nghĩa vụ này gặp rất nhiều khó khăn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích một số khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “liên đới” là “có sự ràng buộc lẫn nhau (thường về mặt trách nhiệm)”[1]. Có thể hiểu “trách nhiệm dân sự liên đới” là trách nhiệm của hai hay nhiều người cùng phải thực hiện vì lợi ích của người khác theo các căn cứ do pháp luật quy định[2]. “Nghĩa vụ liên đới” là quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 298) được kế thừa tại Bộ luật Dân sự năm 2015, với mục đích nhằm bảo đảm quyền lợi cho người có quyền, giúp họ thực hiện được quyền của mình một cách thuận lợi hơn so với nghĩa vụ dân sự riêng rẽ như: Được yêu cầu một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ[3]

Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Mặc dù Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có các quy định về thi hành nghĩa vụ liên đới, tuy nhiên, trong thực tiễn, việc tổ chức thi hành án đối với nghĩa vụ dân sự liên đới còn gặp không ít khó khăn.

1. Về tổ chức thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS (Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC) thì đối với trường hợp thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới, cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới; trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó.

Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên nghĩa vụ liên đới nhưng không xác định hoặc xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người, thì trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS có quyền yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới. Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định của pháp luật dân sự. Trường hợp người được thi hành án có ý kiến bằng văn bản đồng ý cho một hoặc một số người trong số những người phải thi hành nghĩa vụ liên đới không thi hành phần nghĩa vụ của họ thì phần nghĩa vụ không yêu cầu thi hành án được đình chỉ theo quy định (Điều 11 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC).

Theo đó, trong trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới thì một hoặc một số người trong số những người phải thi hành án đã thi hành xong phần nghĩa vụ của mình mà có điều kiện thi hành thì chấp hành viên vẫn có quyền yêu cầu họ phải thi hành phần nghĩa vụ thay cho người khác (người không có điều kiện thi hành án) trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án (Điều 46 Luật Thi hành án dân sự).

Thực tiễn tổ chức thi hành án cho thấy, việc thực hiện quy định trên gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với trường hợp bản án, quyết định đã xác định rõ nghĩa vụ của từng người (nghĩa vụ liên đới đã phân chia theo phần), bởi vì khi người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ của mình theo bản án thì để họ thực hiện tiếp phần nghĩa vụ của người khác là rất khó khăn. Việc yêu cầu một hoặc một số người bất kỳ có điều kiện thi hành án trong số những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thường chỉ có thể thực hiện được nếu họ tự nguyện thi hành thay cho người khác. Trường hợp họ không tự nguyện thi hành thay thì rất khó có thể thực hiện trên thực tế vì họ đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình theo quyết định của bản án, trong những trường hợp này, người phải thi hành án thường không tự nguyện thi hành, thậm chí còn khiếu nại gay gắt, chống đối việc thi hành án[4].

Mặt khác, một vấn đề đặt ra là sau khi một người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án cho những người khác thì người đó sẽ yêu cầu những người khác hoàn lại như thế nào? Mặc dù Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định “trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình”, tuy nhiên, hành trình khởi kiện để đòi thanh toán khoản tiền này là rất gian nan và khả năng thu hồi gần như là bằng không, nhất là khi người được thi hành thay không hề có điều kiện thi hành án.

2. Về đình chỉ thi hành án liên quan đến nghĩa vụ liên đới

Điểm a khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự quy định: Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế. Tuy nhiên, việc đình chỉ thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ liên đới bị chết theo quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự còn có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, trường hợp một trong số những người có nghĩa vụ liên đới chết mà không để lại tài sản và cũng không có người thừa kế thì không có căn cứ để đình chỉ thi hành án (vì nghĩa vụ đó vẫn có người liên đới có trách nhiệm thực hiện). Quan điểm khác lại cho rằng vẫn đình chỉ được việc thi hành án (đối với nghĩa vụ của người phải thi hành án mà bản án, quyết định đã xác định nghĩa vụ của từng người), còn đối với trường hợp nghĩa vụ liên đới không phân chia được theo phần thì không đình chỉ thi hành án được. Do còn có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau nên việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất, do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 11 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC: Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó. Theo đó, đối với trường hợp người có nghĩa vụ liên đới chết mà người được thi hành án yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ liên đới thi hành toàn bộ nghĩa vụ thì ai sẽ là người thực hiện phần nghĩa vụ hoàn lại cho người đã thi hành toàn bộ nghĩa vụ?

Vì vậy, đa số quan điểm cho rằng, khi xét xử, giải quyết các vụ án thì Tòa án không nên áp dụng cứng nhắc việc nhận định và buộc thi hành phần nghĩa vụ dân sự liên đới, mà nên xác định cụ thể nghĩa vụ của từng người trong khối nghĩa vụ liên đới – nhận định rõ trong bản án, quyết định để thuận lợi cho việc tổ chức thi hành án, đảm bảo quyền lợi của người có quyền và người có nghĩa vụ. Đối với việc một trong số những người có nghĩa vụ liên đới bỏ địa phương hoặc chết (không để lại tài sản) thì cần có hướng dẫn thi hành đối với trường hợp này[5]. Bên cạnh đó, đối với nghĩa vụ liên đới đã phân chia được theo phần cần có phương án giải quyết phù hợp như có thể tuyên rõ trong bản án đối với nghĩa vụ liên đới đã phân chia theo phần, người đã thi hành xong phần nghĩa vụ của mình không phải thi hành thay phần nghĩa vụ của người khác, đảm bảo tính khả thi trong việc thi hành án[6].

3. Về ủy thác thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới

Theo Điều 55 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì thủ trưởng cơ quan THADS ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan THADS thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

Trường hợp những người phải thi hành nghĩa vụ liên đới có tài sản ở nhiều nơi, cơ quan THADS thực hiện ủy thác theo thứ tự quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để lựa chọn nơi ủy thác thi hành án. Cụ thể: Thứ nhất, theo thỏa thuận của đương sự; thứ hai, nơi có tài sản đủ để thi hành án; thứ ba, trường hợp tài sản không đủ để thi hành án thì ủy thác đến nơi có tài sản giá trị lớn nhất, nơi có nhiều tài sản nhất[7].

Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau mà tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để thi hành án thì cơ quan THADS nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án (Điều 34 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Tuy nhiên, việc xác định được nơi có điều kiện thi hành án vẫn còn có nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian do việc xác minh điều kiện thi hành án phải tiến hành ở nhiều địa phương khác nhau. Việc lựa chọn nơi để ủy thác đối với các trường hợp nhiều người cùng liên đới thực hiện nghĩa vụ cũng gặp vướng mắc do chưa có quy định pháp luật cụ thể trong việc xác định giá trị tài sản cũng như chi phí cho việc xác định giá trị tài sản đối với các trường hợp này. Do đó, tác giả đề nghị xem xét bỏ điều kiện “tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để thi hành án” mà quy định ngắn gọn “trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau thì cơ quan THADS nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án” (Điều 34 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) để tăng thẩm quyền cho cơ quan thi hành án và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với những trường hợp này.

4. Về việc xác nhận kết quả thi hành án đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới. Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với người đó (khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC). Vậy, trong trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà một người đã thi hành toàn bộ nghĩa vụ cho những người còn lại thì việc xác nhận kết quả thi hành án đối với các đối tượng còn lại sẽ được thực hiện như thế nào? Đây là một vấn đề cần có hướng dẫn cụ thể hơn. Có quan điểm cho rằng: Cần bổ sung quy định trên về việc ra quyết định thi hành án, bởi vì khi theo quy định tại Điều 53 Luật Thi hành án dân sự “đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án” (đương sự bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án[8]), nếu cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án đối với một người trong số những người có nghĩa vụ liên đới sẽ không có căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của những người có nghĩa vụ liên đới còn lại. Do đó, đối với trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một người thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì quyết định thi hành án vẫn cần ghi rõ tất cả những người có nghĩa vụ liên đới để đảm bảo tính liên đới và có căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc thi hành án, đồng thời cũng là căn cứ để thực hiện việc xác nhận kết quả thi hành án sau này. “Công lý chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi quyết định của Tòa án được thi hành”[9]. Mục đích của việc xác định nghĩa vụ liên đới nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích của người bị thiệt hại. Tuy nhiên, để đảm bảo thi hành nghĩa vụ này trong thực tiễn cần có những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật để nâng cao hiệu quả thi hành án đối với những vụ việc này.


Chú thích:

[1] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2007, tr. 547.

[2] Nguyễn Quỳnh Hương, Luận văn thạc sỹ Luật học: “Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 3.
[3] Ngô Thanh Hoàng, Khó khăn, vướng mắc khi thi hành án phần nghĩa vụ dân sự liên đới, http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Trao-doi-nghiep-vu/Kho-khan-vuong-mac-khi-thi-hanh-an-phan-nghia-vu-dan-su-lien-doi-2391/, đăng ngày 29/8/2018, truy cập ngày 17/9/2019.

[4] Xem thêm: Duy Thanh, Bị buộc thi hành án giùm người khác, https://tuoitre.vn/bi-buoc-thi-hanh-an-gium-nguoi-khac-577906.htm, đăng ngày 02/11/2013, truy cập ngày 17/9/2019.
[5] Ngô Thanh Hoàng, Khó khăn, vướng mắc khi thi hành án phần nghĩa vụ dân sự liên đới, http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Trao-doi-nghiep-vu/Kho-khan-vuong-mac-khi-thi-hanh-an-phan-nghia-vu-dan-su-lien-doi-2391/, đăng ngày 29/8/2018, truy cập ngày 10/02/2019.

[6] Xem thêm: Hồng Hà, Liên đới trả nợ: Không phải trả thay phần người khác, https://plo.vn/phap-luat/lien-doi-tra-no-khong-phai-tra-thay-phan-nguoi-khac-639623.html, đăng ngày 09/7/2016, truy cập ngày 10/02/2019.

[7] TS. Nguyễn Xuân Thu & ThS. Nguyễn Thị Phíp (đồng chủ biên), giáo trình Nghiệp vụ Thi hành án dân sự, Tập 2, Nxb. Tư pháp, 2016, tr. 24.

[8] Điều 3 Luật Thi hành án dân sự.

[9] Nguyễn Văn Nghĩa, Công lý chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi quyết định của Tòa án được thi hành, đăng tại https://baophapluat.vn/tu-phap/cong-ly-chi-co-y-nghia-khi-va-chi-khi-quyet-dinh-cua-toa-an-duoc-thi-hanh-348236.html.


SOURCE: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử

Trích dẫn từ: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=741

Leave a Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT - Nhhai@thongtinphapluatdansu.edu.vn
%d bloggers like this: