Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

MẤY CÂU HỎI GỬI CÁC ĐẠI BIỂU ỦNG HỘ LẬP “KHU NHẠY CẢM”

NGUYỄN ANH ĐỨC – Sinh viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước luồng quan điểm ủng hộ có khá nhiều “ý” được đưa ra trong khi những quan điểm phản bác chỉ xoay quanh yếu tố đạo đức, thuần phong mĩ tục (vốn không thể thuyết phục). Tôi xin nêu ra một số quan điểm phân tích từ khía cạnh pháp lý như sau [1]:

– Thứ nhất, nếu nói rằng: "Ở ta không muốn công nhận, không thích công nhận nhưng thực tế lan tràn khắp nơi và bất lực không thể ngăn chặn được, hiện trạng ngày càng tăng". Với cách lập luận như vậy, chúng ta buộc phải liên tưởng đến những “thực trạng xã hội đang lan tràn khắp nơi” và “thuộc về bản chất của xã hội” như ma túy, buôn lậu, giết người, tham nhũng – lãng phí, chạy chức quyền, nhẹ hơn là học gạo – học vì điểm, cũng đang hoành hành và chưa có biện pháp giải quyết phù hợp ở Việt Nam. Điều đó, theo cách suy nghĩ của các đại biểu ủng hộ lập khu nhạy cảm, thì cũng nên và cần phải lập những “khu” riêng dành cho các hoạt động đã nêu trên. Lúc đó ta sẽ có phố buôn lậu, phố làm hàng giả – nhái, phố dành riêng cho các cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ,…..Đây là áp dụng nguyên tắc bình đẳng cho “các hiện tượng xã hội thực tế”.

– Thứ hai, cho rằng: "Những người trực tiếp hành nghề không được bảo vệ, bị các ma cô, đầu gấu bắt nạt, ức hiếp, không được bảo vệ sức khoẻ từ đó ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng vì không có giám sát". Ở đây cần đặt ra câu hỏi: Sau khi lập khu thì những người được gọi là “ma cô”, “đầu gấu” sẽ trở thành thất nghiệp được chăng?, "hợp pháp" – một ngôn từ mĩ miều được dùng để dành cho lợi ích của các cô gái hay cho "ma cô, đầu gấu" thành "nhân viên kinh doanh"? Và bảo vệ sức khỏe của các cô gái hành nghề sẽ được thực hiện đến đâu, khi xét về mặt sinh lý, đã qua hết cái thời “đỉnh cao phong độ” lúc mới còn ở tuổi “ba mươi mấy”. Điều chắc chắn là ngành nghề nào cũng có “hạn sử dụng”, và có thể lập luận rằng sau khi nghỉ lao động thì phải được hưởng các trợ cấp xã hội, như bảo hiểm chẳng hạn. Nhưng câu chuyện sẽ khác giữa những lao động cống hiến đến năm 55, 60 tuổi với những lao động chỉ có thể cống hiến (bằng nghề chính) đến những năm ở tuổi đời chưa tròn bốn mươi chứ?

Continue reading

Advertisements

SÀN GIAO DỊCH BẤT ĐỘNG SẢN – MỘT TRONG NHỮNG NỘI DUNG QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009
 

Thuộc nhóm chuyên nghành khoa học: XH2b

Họ và tên sinh viên: Văn Thị Anh

Giới tính: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp: Dân sự K32B

Năm thứ:  2/ Số năm đào tạo: 4 năm

Khoa: Pháp luật Dân sự

Người hướng dẫn: Ts. Trần Quang Huy

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bất động sản là một loại tài sản có vai trò vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia. Nó là thành phần sống của xã hội loài người. Sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường cũng đã kéo theo nền sản xuất hàng hoá bất động sản phát triển. Loại hàng hoá này được đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường, từ đó hình thành nên thị trường bất động sản. Sự ra đời và phát triển của thị trường bất động sản đã có đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên do BĐS là loại hàng hoá có giá trị lớn và đặc tính TTBĐS là không hoàn hảo nên đã dẫn đến hiện trạng là: các giao dịch trên thị trường phần lớn là các giao dịch phi chính thức, hiện tượng đầu cơ trốn lậu thuế tạo ra những cơn sốt ảo gây tác hại to lớn cho nền kinh tế và sự quản lí yếu kém của các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước chưa có những biện pháp quản lí TTBĐS hiệu quả nên không thể kiểm soát và điều tiết được thị trường…Bởi vậy mà thị trường BĐS của Việt Nam được các chuyên gia quốc tế đánh giá là thị trường không minh bạch.

Hiện nay cả thế giới khủng hoảng suy thoái kinh tế, một trong những yếu tố góp phần làm nên cuộc khủng khoảng là thị trường BĐS. Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc khủng hoảng này. TTBĐS Việt Nam bắt đầu khủng hoảng vào khoảng đầu năm 2008 và bây giờ bây giờ nó vẫn đang loay hoay tìm lối thoát.

Nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường và giúp nhà nước quản lí, điều tiết thị trường này để nó phát triển lành mạnh, ổn định hơn thì SGD BĐS ra đời là một điều tất yếu. Sự ra đời và phát triển của các SGD BĐS đã có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường BĐS. Bên cạnh những tính năng ưu việt mà nó mang lại thì nó cũng có những tồn tại rất đáng lo ngại. Bởi, sự quản lí của nhà nước đối với các SGD BĐS này còn chưa chặt chẽ dẫn đến những việc làm sai phạm, phản tác dụng của các SGD BĐS. Vì vậy vấn đề quản lí của nhà nước đối với các SGD BĐS là vấn đề rất quan quan trọng và cấp thiết. Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này nên tôi đã chọn đề tài: ”Sàn giao dịch bất động sản – một trong những nội dung quản lí của nhà nước đối với thị trường bất động sản”.

Continue reading

BẢO HIỂM VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NĂM 2003

SV THỰC HIỆN GV HƯỚNG DẪN
BÙI NHẬT ANH – K38 ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG TS. VŨ SĨ TUẤN

Lời mở đầu

Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động.

Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam để từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.

Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, và với lòng yêu thích môn học Bảo hiểm, em xin được chọn nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình, với nội dung:

Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm

Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam

Continue reading

QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

DƯƠNG THU PHƯƠNG – Lớp DS32C, Đại học Luật Hà Nội

1. Lãi suất và đặc điểm của lãi suất

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu. Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất (interest rate). Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng tiền cho người khác có nghĩa là anh ta đã hi sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hi vọng có được lượng tiền lớn hơn ngày mai. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn lên thêm đó hoặc là nó không đủ đề bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

Có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất. Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất ([1]).

Cũng có định nghĩa cho rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn([2]).

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Continue reading

LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY TIỀN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI – NĂM 2009

 

Người thực hiện: Dương Thu Phương 

Giới tính: Nữ   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS32C

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Nguyễn Minh Oanh

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

     

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất (interest rate). Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là lãi suất có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những quy định pháp luật này còn thiếu cụ thể, lỗi thời không phù hợp với thực tế. Sự quy định của pháp luật đã bộc lộ những khiếm khuyết khi những quy định này được áp dụng trong cuộc sống. Và khi có rất nhiều tranh chấp xảy ra cộng với tình hình phức tạp của nền kinh tế hiện nay thì một đòi hỏi nhất thiết là phải sửa đổi luật để đảm bảo lợi ích cho các chủ thể và xây dựng một hàng rào pháp luật vững chắc.

Continue reading

ĐƯƠNG SỰ – CHỦ THỂ ĐẦU TIÊN VÀ QUAN TRỌNG NHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

QUÁCH MẠNH QUYẾT – LỚP DÂN SỰ B  KHÓA 31 CHÍNH QUI, ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình gồm hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của tòa án trên cơ sở quy định của pháp luật.

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự có ba đặc điểm cơ bản:

– Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn ra suyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi tòa án ra phán quyết. Khởi đầu là việc chứng minh của nguyên đơn cho yêu cầu của mình thông qua đơn khởi kiện, tiếp đến là hoạt động chứng minh của bị đơn bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có), hoạt động chứng minh của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của Viện kiểm sát (nếu có)… và kết thúc khi tòa án chứng minh cho phán quyết của mình thông qua một bản án có giá trị bắt buộc thi hành.

– Bản chất của chứng minh chính là việc sử dụng chứng cứ.

Hai yếu tố cấu thành vụ án dân sự là yếu tố chủ quan (đương sự) và yếu tố khách quan (bao gồm đối tượng – mục đích khởi kiện và nguyên nhân – cách thức bảo vệ quyền của các chủ thể trước tòa án). Hoạt động chứng minh được xếp vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vụ án. Điều này có nghĩa là yếu tố cấu thành vụ án đã vốn có, vốn đã tồn tại, nay chỉ đi tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất. Hay nói cách khác, hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án.

Continue reading

VAI TRÒ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ – VẤN ĐỀ CƠ BẢN NHẤT CỦA TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI. NĂM 2009

Người thực hiện: Quách Mạnh Quyết 

Giới tính: Nam   

Dân tộc: Kinh

Lớp: DS31B 

Năm thứ: 3/4      

Khoa: Luật Dân Sự

Người hướng dẫn: Trần Phương Thảo

THS. GV

Khoa: Luật Dân Sự

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1. Tính cấp thiết của đề tài

Luật tố tụng dân sự (TTDS) bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Là luật hình thức độc lập mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật nội dung khác nhau như: Luật Dân Sự, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Thương Mại, Luật Lao Động… Nhưng những luật nội dung này đều mang những đặc trưng cơ bản của Luật Dân Sự như tính bình đẳng, tự quyết và thoả thuận giữa các bên… đòi hỏi Luật tố tụng dân sự cũng phải thể hiện được bản chất tương ứng trong việc đánh giá và xác định vai trò quan trọng của các đương sự, đặt họ vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra trong giai đoạn hiện nay.

Quá trình tố tụng kéo dài từ khi toà án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt (bãi nại) tranh chấp. Trong đó, hoạt động chứng minh là hoạt động cơ bản, trước tiên và quan trọng nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới. Hoạt động này là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như là căn cứ để toà án đưa ra các phán quyết của mình. Có thể nói mục đích của hoạt động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của toà án chính là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó.

Continue reading

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG PHÁP CHẾ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TỪ THỰC TIỄN CỦA NGÂN HÀNG ĐÔNG Á

NGUYỄN TIẾN MẠNH  – PHÒNG PHÁP CHẾ NGÂN HÀNG ĐÔNG Á

CHƯƠNG I :

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ SỰ CẦN THIẾT THÀNH LẬP PHÒNG PHÁP CHẾ.

1.1 Sự hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần.

Trước năm 1990, về cơ bản hệ thống ngân hàng Việt Nam tồn tại theo mô hình một cấp, gắn với những đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hóa. Theo mô hình này, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là pháp nhân duy nhất hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, vừa với tư cách là cơ quan quản lí nhà nước về ngân hàng, vừa tiến hành các hoạt động của ngân hàng trung ương trên lãnh thổ Việt Nam đồng thời cũng kiêm luôn chức năng của một ngân hàng thương mại, tức là huy động vốn và cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế tập thể. Mô hình này không có sự tách bạch rõ ràng giữa chức năng quản lí nhà nước về ngân hàng của ngân hàng nhà nước với chức năng kinh doanh ngân hàng của ngân hàng thương mại. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn này không hoạt động theo đúng nghĩa của một ngân hàng trung ương, cũng không thực sự là một ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh ngân hàng chuyên nghiệp.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: