Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: MANG TRÂU ĐI GIÁM ĐỊNH … GEN!

THANH QUANG

Theo tập quán chăn thả trâu, bò của bà con dân tộc một số tỉnh miền núi không có người trông coi nên dễ xảy ra tình trạng mất trộm hoặc nhầm lẫn. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra việc tranh chấp khiến người trong cuộc phải lao đao theo kiện. Câu chuyện giữa hai gia đình anh Sầm Văn Quàn và anh Hoàng Văn Hình cùng trú tại xã Minh Lương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trong vụ tranh chấp trâu là một minh chứng điển hình…

Trâu thuộc về ai?

Ngày 8-2-2005, anh Sầm Văn Quàn ngạc nhiên khi thấy con trâu nhà mình bị mất tích vài tháng bỗng xuất hiện và điềm nhiên ăn cỏ tại khu vực Pá Tao, xã Minh Lương. Theo anh Quàn, đây là con trâu anh mua của ông Ma Văn Thinh (người cùng huyện) từ tháng 4-2003 với những đặc điểm: màu đen, có 5 khoáy, sừng hơi cong, ngọn sừng thẳng đứng, tai trái có vết rách dài 5cm, mông phải có 7 vết sùi, tuổi từ khoảng 6 đến 7.

Dắt con trâu “bị lạc” về nhà nhưng chỉ vài hôm sau, gia đình anh Hoàng Văn Hình đến đòi trâu vì cho rằng trâu của nhà mình nhưng anh Quàn nhất quyết không chịu trả.

Để làm rõ “trắng đen”, anh Hình đã làm đơn kêu cứu lên TAND huyện Văn Bàn. Sau khi thụ lý hồ sơ, TAND huyện Văn Bàn đã đưa vụ án dân sự trên ra xét xử. Tại phiên tòa, anh Quàn vẫn nhất mực bảo vệ ý kiến của mình, cho rằng với những đặc điểm không thể nhầm lẫn thì con trâu – là tài sản của gia đình anh đã mất tích từ trước, nay mới tìm được.

Continue reading

Advertisements

THỰC TIỄN HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ: ÔI . . . THÂN CHỦ!

THANH TÙNG Ghi

Không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống hài hước đến mức… cười ra nước mắt. Sau một lúc lâu chờ được gặp, vị khách hàng trịnh trọng yêu cầu luật sư chỉ giúp… một bác sĩ Đông y giỏi để trị bệnh đau lưng.

Khách hàng tìm luật sư cậy nhờ về pháp lý là chuyện thường tình. Nhưng trong đời hành nghề, không ít lần các luật sư đã gặp phải những thân chủ “trời ơi”, những tình huống ngược đời hài hước đến mức… cười ra nước mắt như những câu chuyện mà luật sư TNQ (Đoàn Luật sư TP.HCM) chia sẻ dưới đây.

Nhờ luật sư chỉ giùm bác sĩ

Một ngày đẹp trời nọ, một khách hàng đã luống tuổi, vẻ mặt còn khá minh mẫn, ăn mặc lịch sự bước vào văn phòng của luật sư Q. Cô tiếp tân báo rằng luật sư đang tiếp khách, mong ông cụ vui lòng chờ. Ông cụ gật gù cười tươi rói: “Năm phút chứ 50 phút tui cũng chờ để gặp luật sư bằng được, cô ơi!”.

Rồi cũng đến lúc gặp luật sư, ông cụ trịnh trọng vào đề: “Thưa luật sư, có chuyện này rất quan trọng, luật sư đi nhiều, quan hệ rộng, mong giúp tôi nhé!”. “Dạ, cụ cứ nói đi!” – luật sư cởi mở. “Vâng, chả là cái lưng của tui dạo này đau quá thể, luật sư chỉ giùm tôi một bác sĩ Đông y giỏi để tui đến khám, hốt thuốc nghen!”…

Quá bất ngờ, luật sư Q. định phá lên cười nhưng nhìn ông cụ đầy vẻ thành thật, ông lại ráng nhịn vì sợ “phạm thượng”. Cuối cùng luật sư phải “tua” lại trí nhớ xem gia đình, họ hàng mình có ai bị đau lưng, đã từng đi trị Đông y để chỉ giùm “cụ già dễ thương” này. Vui vẻ chào luật sư ra về, ông cụ còn giải thích thêm: “Nhiều người cũng chỉ tui nhưng tui thấy không chắc, cứ phải hỏi luật sư thì mới yên tâm. Già này thiệt tình cảm ơn luật sư nhé!”.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NHẶT “SẠN” XỬ ÁN DÂN SỰ

KHẢI HÀ – ĐỨC MINH

Tòa phúc thẩm xử vào cuối tháng 7 nhưng trong giấy triệu tập đương sự lại đề xử vào cuối… tháng 8.

Tổng kết công tác ngành tòa án mới đây, Tòa dân sự TAND Tối cao đã chỉ mặt đặt tên hàng loạt sai sót cụ thể cần phải tránh khi giải quyết án dân sự: Không đảm bảo quyền tự quyết của đương sự, chứng cứ không đầy đủ, triệu tập sót người tham gia tố tụng…

Tháng 4-2009, Tòa dân sự TAND Tối cao đã xử giám đốc thẩm, hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm trong vụ tranh chấp về đất đai giữa bà Lê Thị Tuyết Nương với bà Nguyễn Kim Thông.

Chứng cứ chưa đủ đã vội xử

Theo hồ sơ, bà Nương sau khi mua đất đã bán lại cho bà Thông 500 m2nhưng không ghi rõ tứ cận. Bà Thông nhận đất, trả tiền rồi rào lại. Trên thực tế, bà Thông sử dụng tới hơn 600 m2. Phần đất còn lại của bà Nương cũng thừa một khoảnh so với khi mua đầu tiên.

Ba năm sau, bà Nương khởi kiện đòi lại đất đã bán, cho rằng bà Thông đã lấn đất của mình. Tòa cấp sơ thẩm giữ nguyên hiện trạng cho hai bên đương sự. Tòa phúc thẩm lại buộc bị đơn trả lại hơn 100 m2 đất thừa. Theo Tòa Dân sự, phán quyết của cả hai cấp đều chưa đủ căn cứ vì chưa làm rõ nguồn gốc của số đất dư ra.

Continue reading

XUNG QUANH VỤ THUỐC TÂN DƯỢC TRỊ GIÁ HÀNG TỶ ĐỒNG CỦA VINACERO HẾT HẠN SỬ DỤNG

1. QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM PHÓNG VIÊN BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

1.1. Vì sao Bộ Y tế lại im lặng?

Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) là doanh nghiệp hoạt động vì sự nghiệp nhân đạo. Đầu năm 2008, cùng một lúc, từ nhà sản xuất thuốc-Polysan (LB Nga) và các công ty đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương lén lút bắt tay nhau bội tín, làm cho thuốc của Vinareco tồn kho và nguy cơ phải hủy gần chục tỷ đồng tiền thuốc do quá date.

Trong nhiều năm qua, Vinareco là Nhà phân phối chính thức duy nhất 2 loại thuốc Cycloferon và Reamberin (thuốc điều trị gan và điều hoà miễn dịch) tại Việt Nam. Trong nhiều năm, doanh nghiệp này phải bỏ hàng tỷ đồng để làm thị trường. Từ những năm đầu 2004, thuốc chỉ tiêu thụ vài trăm ngàn USD, đến năm 2008, thuốc đã có thương hiệu tiêu thụ trên 1 triệu USD/năm là do Vinareco đã lập hồ sơ và 2 lần đưa vào danh mục của Bộ Y tế. Thế nhưng đầu 2008, từ sự bội tín của 2 doanh nghiệp vốn là đại lý cho Vinareco là Công ty TNHH Thống nhất và Công ty Thanh Phương đã đẩy doanh nghiệp này phải tồn kho và phải tiêu hủy hàng tỷ đồng tiền thuốc một cách hết sức lãng phí. Điều đáng nói, ngay khi bắt đầu sự việc xảy ra Vinareco và Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều “cầu khẩn” đối với Bộ Y tế nhưng hơn 1 năm nay tất cả đều rơi vào im lặng.

Ngày 24.3.2009, trước khó khăn của đơn vị trực thuộc, Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều công văn gửi Bộ trưởng Bộ Y tế và Bệnh viện Bạch Mai nhờ giúp đỡ tiêu thụ số thuốc để khỏi cận date phải hủy, lúc đó hạn sử dụng còn khá dài, mặc dù trong Công văn có nêu: Nếu được Bệnh viện giúp đỡ thì coi đây là nghĩa cử cao đẹp góp phần vào sự nghiệp nhân đạo… nhưng các đơn vị này hầu như không có trả lời!

Tiếp đến, ngày 24.8.2009, Chủ tịch Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam lại có Công văn gửi Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Nguyễn Quốc Anh nhờ giúp đỡ, trong Công văn có nêu: Người trúng thầu năm 2008-2009 là Công ty TNHH Thống Nhất, chính là người bội tín gây hậu quả cho Công ty CP chữ thập đỏ Việt Nam (Vinareco) của Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Lại một lần nữa, từ Bộ Y tế đến Giám đốc Bệnh viện vẫn thờ ơ, vô cảm.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: CHÁY NHÀ MÁY, KIỆN BẢO HIỂM

HOÀNG YẾN

Công an kết luận vụ cháy do rủi ro nhưng công ty bảo hiểm vẫn cho rằng người chủ đã tự đốt nhà máy xay lúa để từ chối bồi thường.

Cuối năm 2007, Công ty Tân Việt (Sóc Trăng) ký hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt khoảng 2,5 tỉ đồng với Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Sóc Trăng. Khuya 22-11-2007, nhà máy xay xát Đại Thành của Tân Việt bất ngờ bị cháy rụi, thiệt hại trên 1,8 tỉ đồng.

Từ chối bảo hiểm

Tân Việt liền báo ngay cho phía bảo hiểm, các cơ quan chức năng khác đến giám định thiệt hại cùng nguyên nhân cháy.

Sau khi công an kết luận nhà máy cháy là rủi ro, do chất xăng dầu gây ra, không có dấu hiệu tội phạm, Tân Việt đã yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại như trên.

Tuy nhiên, công ty bảo hiểm đã từ chối giải quyết, lập luận theo nguyên tắc, bên được bảo hiểm sẽ mất quyền được bồi thường nếu sử dụng các thủ đoạn và biện pháp man trá nằm trục lợi bảo hiểm, hoặc thiệt hại gây ra do hành động có chủ tâm, có sự đồng lõa của người được bảo hiểm. Trong vụ này, công ty bảo hiểm cho rằng chính giám đốc Tân Việt… đốt nhà máy nên không thể bắt bảo hiểm bồi thường.

Đòi bồi thường mãi không được, cuối năm 2008, Tân Việt đã khởi kiện ra tòa.

Không có dấu hiệu man trá

Xử sơ thẩm hồi tháng 8-2009, TAND tỉnh Vĩnh Long nhận định cơ quan điều tra đã xác định Tân Việt không hề có lỗi, không trục lợi trong việc hỏa hoạn này. Nguyên nhân vụ cháy cũng không nằm trong trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm như động đất, núi lửa phun, hay thiên nhiên biến động…

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỞNG CỦA NHÀ NƯỚC: VẤT VẢ ĐÒI XIN LỖI, BỒI THƯỜNG

THANH TÙNG – VĂN ĐOÀN

“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”, người bị oan đã chịu bao đau khổ, thiệt thòi vì sai lầm của cơ quan bảo vệ pháp luật. Vậy mà khi họ đã được minh oan, chưa chắc cơ quan tư pháp đã thẳng thắn nhận trách nhiệm và xin lỗi, bồi thường…

Bài 1: Nhận sai nhưng… làm lơ

Nghị quyết 388 ngày 17-3-2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định các cơ quan tố tụng phải xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần khi làm oan người vô tội. Thực tế, nhiều cơ quan tư pháp vẫn cố tình làm ngơ trước yêu cầu chính đáng của người bị oan.

Vụ việc của ông Nguyễn Lâm Sáu (ngụ phường Khánh Xuân, TP Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk) là một minh chứng.

25 năm đi tìm một lời xin lỗi

Sau bảy năm công tác ở Nông trường Eakao, ngày 14-11-1985, ông Sáu bất ngờ bị Công an tỉnh Dăk Lăk bắt tại nhà riêng vì nghi ngờ buôn bán hàng trái phép. Lệnh bắt không có sự phê chuẩn của VKS, khi công an bắt người không có đại diện chính quyền địa phương chứng kiến. Trong biên bản bắt, công an thu giữ… một chai 65 ml dầu cam đã hư hỏng để làm vật chứng.

Chín ngày sau, ông Sáu được thả. “Lệnh tạm tha” của Công an tỉnh ghi rõ: “Bị can Nguyễn Lâm Sáu về địa phương và khi nào cơ quan pháp luật có giấy gọi, bị can phải đến đúng ngày, đúng giờ”… Từ đó đến nay đã 25 năm trôi qua, ông Sáu không hề thấy một tờ giấy gọi nào của cơ quan pháp luật.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: “NGÂM ÁN”, THẨM PHÁN BỊ “TRẢM”

SONG NGUYỄN

Chuyện thẩm phán “ngâm án” dân sự vẫn đang tồn tại từ nhiều năm nay, góp phần làm tăng lượng án quá hạn. Ðể án quá hạn vì lỗi chủ quan, đã có không ít thẩm phán bị xem xét trách nhiệm…

Việc “ngâm án” thể hiện ý thức trách nhiệm của người cầm cán cân công lý với công việc. Có những vụ án không phức tạp, thẩm phán vẫn cố tình “ngâm nga”, làm đương sự bức xúc.

Kiểm điểm

Ngày 3-1-2008, TAND TP Cao Lãnh thụ lý vụ tranh chấp đường ranh đất của bà V. Được phân công giải quyết, một thẩm phán đã tổ chức hòa giải, yêu cầu các bên đương sự cung cấp chứng cứ, đo đạc diện tích, xác minh xong xuôi hết rồi nhưng sau đó không chịu lên lịch xử.

Chờ hơn một năm sau, quá bức xúc trước việc “ngâm án” này, bà V. khiếu nại khắp nơi. Tháng 4-2009, Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp đã có công văn truyền đạt ý kiến của chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu TAND tỉnh này xem xét, trả lời khiếu nại của bà V. Sau đó, lãnh đạo TAND tỉnh Đồng Tháp đã yêu cầu TAND TP Cao Lãnh sớm đưa vụ án ra xét xử và nghiêm khắc kiểm điểm thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ kiện.

Chuyển đơn vị

Tháng 5-2002, bà A. kiện đòi nợ, được TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) thụ lý. Kể từ đó, thẩm phán được phân công giải quyết vụ kiện của bà A. cứ “ngâm nga” mãi. Bà A. đã nhiều lần có đơn yêu cầu xét xử, thậm chí đến gặp thẩm phán và chánh án thì chỉ nhận được câu trả lời: “Cứ về chờ”.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: LY HÔN VÌ CHỒNG KHÔNG ĐI MỸ

SONG NGUYỄN

Cấp giám đốc thẩm chỉ hủy phần phân chia tài sản chung nhưng tòa sơ thẩm lần hai giải quyết lại cả yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, được không?

Ngày 7-1- 2010 vừa qua đã là lần thứ 12 TAND TP.HCM quyết định hoãn xử vụ ly hôn giữa bà T. (Việt kiều Mỹ) với ông B. Vụ án ban đầu đã được tòa giải quyết khá nhanh vì hai bên đương sự thỏa thuận được với nhau nhưng rồi một bên đổi ý khiến quá trình tòa xử lại phát sinh nhiều rắc rối.

Thỏa thuận ban đầu

Theo hồ sơ, năm 1989, sau khi lấy ông B., bà T. sang Mỹ sống, mỗi năm chỉ về nước với chồng vài tháng. Năm 2000, bà sinh được một bé gái, có ý đưa chồng sang Mỹ định cư luôn nhưng ông B. không chịu, nói “phải 60 tuổi mới đi”. Thấy tình cảm sứt mẻ vì mỗi người một phương, tháng 11-2005, bà T. đâm đơn xin ly hôn, chia tài sản chung…

Theo bà T., vợ chồng bà có một căn nhà, một căn hộ chung cư, một xe hơi, một xe máy, ba chiếc tivi, tổng giá trị hơn 5,4 tỉ đồng. Bà yêu cầu được chia đôi mỗi người khoảng 2,2 tỉ đồng. Ngược lại, ông B. nói căn nhà là ông tự bỏ tiền ra mua và đứng tên, còn xe hơi đã bán nên yêu cầu tòa cho vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Tháng 3-2006, TAND TP.HCM đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên. Theo đó, bà T. được nuôi con, ông B. có trách nhiệm cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng đến khi con trưởng thành. Về tài sản chung, ông B. được quản lý, sử dụng hết nhưng phải trả cho bà T. 1,6 tỉ đồng…

Hủy phần chia tài sản chung

Sau đó, bà T. đã khiếu nại xin xem xét giám đốc thẩm vì cho rằng giá trị tài sản mà tòa sơ thẩm công nhận là quá thấp so với thực tế. Bà nói mình không sống tại Việt Nam nhiều nên không biết rõ giá trị thật của hai căn nhà. Cạnh đó, do ông B. dây dưa việc trả tiền và cấp dưỡng nuôi con nên bà yêu cầu tòa tăng mức cấp dưỡng nuôi con là 2.000 USD/tháng tính đến năm cháu bé 18 tuổi và trả một lần.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: