Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA ITALIA VÀ VƯƠNG QUỐC HÀ LAN TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. CỘNG HÒA ITALIA

Cải cách thị trường lao động

Thị trường lao động của Italia đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do tác động của khủng hoảng kinh tế và vấn đề nợ công. Số lượng doanh nghiệp vừa nhỏ chiếm tỷ lệ cao, tính linh hoạt của loại hình doanh nghiệp này đã bị hạn chế do sự thay đổi chậm chạp của các chính sách quản lý vĩ mô dẫn đến nhiều hệ lụy như: Cơ hội việc làm suy giảm; tính ổn định và an toàn của việc làm bị ảnh hưởng mạnh; khả năng tiếp cận thị trường và việc làm của người lao động ngày một khó khăn hơn…

Italia đang đẩy mạnh quá trình cải cách chính sách về lao động, thị trường lao động và an sinh xã hội. Việc cải cách tập trung nhiều đến các vấn đề về tuổi nghỉ hưu và tính bền vững tài chính Quỹ hưu trí bởi tác động của tỷ lệ già hóa tăng nhanh, tỷ lệ đóng hưởng bảo hiểm hưu trí chưa hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp cao (khoảng 9%), tỷ lệ lao động trẻ khá lớn (chiếm 40%)… và đời sống xã hội biến động do khủng hoảng kinh tế trầm trọng[1].

Quá trình cải cách tập trung vào sửa đổi pháp luật lao động, trong đó chú trọng hợp đồng lao động dài hạn linh hoạt, đa dạng các chế độ an sinh xã hội nhằm mục tiêu xây dựng thị trường lao động ổn định và bảo vệ người lao động tốt hơn. Nội dung cốt lõi của cải cách nhằm hướng tới bảo đảm an sinh xã hội và nhấn mạnh bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ đã đưa ra các loại hình đa dạng hơn (bảo hiểm thất nghiệp thông thường, bất thường, khi bị sa thải và ngoại lệ) kèm theo là những điều kiện, yêu cầu cụ thể ràng buộc chặt chẽ về loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề … thay đổi tùy thuộc vào điều kiện thực tế từng năm. Mục tiêu của chế độ này là tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ và tiếp cận dịch vụ, hỗ trợ đào tạo lại, trong đó quan tâm đến lao động nữ.

Continue reading

Advertisements

CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ TẠI NHẬT BẢN

GS. SHUNICHI INOUE – Trường Cao đẳng Khoa học và Nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)

Không giống như những quốc gia Đông Á khác, Chính phủ Nhật Bản không bảo trợ cho chương trình kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) trong suốt quá trình quá độ dân số, trừ một khoảng thời gian rất ngắn.

Theo kết quả điều tra khảo sát định kỳ của Ban Dân số Liên Hiệp Quốc về những chính sách và chương trình dân số được ban hành chính thức, hành động cụ thể duy nhất của Chính phủ Nhật Bản trong việc tác động đến các xu thế dân số là nỗ lực điều chỉnh phân bố dân cư theo vùng tại Nhật Bản (Ban Dân số Liên Hiệp Quốc, 1995). Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu suy luận rằng Chính phủ không quan tâm đến các vấn đề dân số hay không hoạch định chính sách dân số.

Cũng như các quốc gia khác, những đặc trưng dân số của Nhật Bản có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, và Chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển này. Vậy thì tại sao Chính phủ lại không bảo trợ cho chương trình KHHGĐ? Tại sao mức sinh lại giảm tại Nhật Bản trong khi thiếu một chương trình như vậy? Những biến động dân số đã tác động đến phát triển kinh tế như thế nào và Chính phủ có vai trò gì trong việc định hướng các xu thế dân số để đáp ứng các nhu cầu kinh tế?

Chương này tập trung kiểm điểm từng bước phát triển của các chính sách dân số Nhật Bản và các mối quan hệ tương tác giữa những chính sách này với phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại hoá, đặc biệt là sau Đại chiến Thế giới thứ II.

Continue reading

VỀ TUỔI NGHỈ HƯU CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DỰ THẢO SỬA ĐỔI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012

PGS TS. LÊ THỊ HOÀI THU Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Tuổi nghỉ hưu theo pháp luật hiện hành

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Luật BHXH (sửa đổi), tuổi nghỉ hưu của người lao động thuộc lực lượng dân sự tại Việt Nam hiện nay được chia thành các nhóm sau:

Nhóm 01: Người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

Nhóm 02: Người lao động có đủ 15 năm làm việc ở vùng có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên hoặc có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành (nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi).

Nhóm 03: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%:

– Nếu nghỉ hưu năm 2017: Nam đủ 52 tuổi, nữ đủ 47 tuổi;

– Nếu nghỉ hưu năm 2018: Nam đủ 53 tuổi, nữ đủ 48 tuổi;

– Nếu nghỉ hưu năm 2019: Nam đủ 54 tuổi, nữ đủ 49 tuổi;

– Nếu nghỉ hưu từ năm 2020 trở đi: Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi;

Continue reading

TỔNG QUAN BÁO CÁO CỦA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN LIÊN HỢP QUỐC (UNDP) VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI NĂM 2015 – VIỆC LÀM VÌ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

Screenshot (9)LỜI NÓI ĐẦU

Hai mươi lăm năm trước, Báo cáo phát triển con người đầu tiên năm 1990 ra đời với một quan niệm giản đơn: phát triển chính là mở rộng những lựa chọn của con người— tập trung chủ yếu vào sự thịnh vượng của đời sống con người thay vì đơn thuần là sự thịnh vượng của các nền kinh tế. Việc làm là nền tảng cơ bản cho sự thịnh vượng của các nền kinh tế cũng như sự thịnh vượng của đời sống con người nhưng thường bị đóng khung trong các thuật ngữ kinh tế hơn là các thuật ngữ về phát triển con người. Báo cáo phát triển con người năm 2015 vượt ra khỏi quy ước đó bằng cách kết nối trực tiếp vấn đề việc làm với sự thịnh vượng của đời sống con người.

Báo cáo này mở đầu bằng một câu hỏi cơ bản — việc làm thúc đẩy phát triển con người như thế nào? Báo cáo đưa ra một cách nhìn rộng về vấn đề việc làm, vượt ra ngoài phạm vi các công việc làm thuê và xem xét đến cả những hoạt động như chăm sóc không được trả lương, hoạt động tình nguyện và hoạt động mang tính sáng tạo —tất cả đều đóng góp vào sự thịnh vượng của đời sống con người.

Báo cáo nhấn mạnh tiến bộ phát triển con người đầy ấn tượng trong một phần tư thế kỷ vừa qua. Ngày nay, con người sống lâu hơn, nhiều trẻ em được đến trường và nhiều người được tiếp cận với nước sạch và các điều kiện vệ sinh cơ bản hơn. Thu nhập bình quân đầu người trên thế giới tăng lên, và tỷ lệ nghèo giảm xuống, kết quả là mức sống của rất nhiều người được nâng cao. Cách mạng kỹ thuật số kết nối con người giữa các quốc gia và các xã hội với nhau. Việc làm đóng góp vào tiến bộ này thông qua xây dựng năng lực của con người. Việc làm bền vững đem lại cho con người cảm nhận về phẩm giá và cơ hội tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội.

Continue reading

KHOẢNG CÁCH GIỚI TOÀN CẦU: NHIỀU VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC CẢI THIỆN

  PHẠM HIỆP

Việt Nam năm 2015 đứng thứ 83, vị trí ở vào mức độ trung bình trên thế giới. So với năm 2007 là năm đầu tiên tham gia vào xếp hạng Khoảng cách giới của WEF, Việt Nam tụt đến 41 bậc. Việc tụt hạng này, một phần là vì WEF mở rộng số nước đánh giá; nhưng phần khác cũng vì các chỉ số thành phần của Việt Nam gần như không tăng, thậm chí giảm đôi chút trong gần 10 năm qua trong khi cả thế giới đều có tăng trưởng đáng kể. Mặc dù vẫn biết, không có bảng xếp hạng nào là toàn diện, rõ ràng đây vẫn là vấn đề để các nhà chính sách vĩ mô ở nước ta cần đặc biệt quan tâm trong thời gian tới. 

Những năm qua, nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tìm cách đo đạc mức độ bình đẳng giới ở nhiều cấp độ từ quốc gia cho đến quốc tế, hoặc theo từng ngành/lĩnh vực cụ thể. Trong số đó, nổi bật là báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum – WEF) với tên gọi Khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap), được công bố hằng năm.

Bài viết này tóm tắt một số nội dung chính Báo cáo 2015 của tổ chức này, được xuất bản trung tuần tháng hai vừa qua.

Các chỉ số

Để đo lường vấn đề bình đẳng giới, các nhà nghiên cứu từ WEF đưa ra bốn chỉ số chính bao gồm: Sự tham gia và Cơ hội trong lĩnh vực kinh tế (Economic Participation and Opportunity), Thành tựu giáo dục (Educational Attainment), Sức khoẻ và sự sống (Health and Survival) và Phân quyền chính trị (Political Empowerment). Bốn chỉ số này lại được cấu thành từ các chỉ số con nhỏ hơn (tổng cộng có 14 chỉ số con), ví dụ Tỷ lệ sinh nữ trên nam (thuộc chỉ số Sức khoẻ và sự sống) hoặc Tỷ lệ tổng số đại biểu nữ trong Quốc hội trên tổng số đại biểu nam (thuộc chỉ số Phân quyền chính trị). Các chỉ số con này có thể do WEF trực tiếp tiến hành lấy dữ liệu hoặc lấy lại dữ liệu từ báo cáo của các tổ chức nghiên cứu/phi chính phủ uy tín khác như UNESCO, tổ chức lao động quốc tế ILO trong 2015 hoặc ở năm gần nhất mà dữ liệu sẵn có.

Continue reading

MẤY CÂU HỎI GỬI CÁC ĐẠI BIỂU ỦNG HỘ LẬP “KHU NHẠY CẢM”

NGUYỄN ANH ĐỨC – Sinh viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước luồng quan điểm ủng hộ có khá nhiều “ý” được đưa ra trong khi những quan điểm phản bác chỉ xoay quanh yếu tố đạo đức, thuần phong mĩ tục (vốn không thể thuyết phục). Tôi xin nêu ra một số quan điểm phân tích từ khía cạnh pháp lý như sau [1]:

– Thứ nhất, nếu nói rằng: "Ở ta không muốn công nhận, không thích công nhận nhưng thực tế lan tràn khắp nơi và bất lực không thể ngăn chặn được, hiện trạng ngày càng tăng". Với cách lập luận như vậy, chúng ta buộc phải liên tưởng đến những “thực trạng xã hội đang lan tràn khắp nơi” và “thuộc về bản chất của xã hội” như ma túy, buôn lậu, giết người, tham nhũng – lãng phí, chạy chức quyền, nhẹ hơn là học gạo – học vì điểm, cũng đang hoành hành và chưa có biện pháp giải quyết phù hợp ở Việt Nam. Điều đó, theo cách suy nghĩ của các đại biểu ủng hộ lập khu nhạy cảm, thì cũng nên và cần phải lập những “khu” riêng dành cho các hoạt động đã nêu trên. Lúc đó ta sẽ có phố buôn lậu, phố làm hàng giả – nhái, phố dành riêng cho các cán bộ tham nhũng, nhận hối lộ,…..Đây là áp dụng nguyên tắc bình đẳng cho “các hiện tượng xã hội thực tế”.

– Thứ hai, cho rằng: "Những người trực tiếp hành nghề không được bảo vệ, bị các ma cô, đầu gấu bắt nạt, ức hiếp, không được bảo vệ sức khoẻ từ đó ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng vì không có giám sát". Ở đây cần đặt ra câu hỏi: Sau khi lập khu thì những người được gọi là “ma cô”, “đầu gấu” sẽ trở thành thất nghiệp được chăng?, "hợp pháp" – một ngôn từ mĩ miều được dùng để dành cho lợi ích của các cô gái hay cho "ma cô, đầu gấu" thành "nhân viên kinh doanh"? Và bảo vệ sức khỏe của các cô gái hành nghề sẽ được thực hiện đến đâu, khi xét về mặt sinh lý, đã qua hết cái thời “đỉnh cao phong độ” lúc mới còn ở tuổi “ba mươi mấy”. Điều chắc chắn là ngành nghề nào cũng có “hạn sử dụng”, và có thể lập luận rằng sau khi nghỉ lao động thì phải được hưởng các trợ cấp xã hội, như bảo hiểm chẳng hạn. Nhưng câu chuyện sẽ khác giữa những lao động cống hiến đến năm 55, 60 tuổi với những lao động chỉ có thể cống hiến (bằng nghề chính) đến những năm ở tuổi đời chưa tròn bốn mươi chứ?

Continue reading

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH, NGƯỜI CHUYỂN GIỚI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG & VŨ THỊ THỦY

Ngày 19/7/2010, Ủy ban Quốc tế nhân quyền người đồng tính (International Gay and Lesbian Human Rights Commission – IGLHRC)[1] được thừa nhận có tư cách tư vấn cho Hội đồng Liên hiệp quốc, đã thúc đẩy những người đồng tính (NĐT) quyết định công khai giới tính của mình với mong muốn được thừa nhận các quyền cơ bản của họ. Đối với đa số những người đang sống trên trái đất này, đây là một thông tin đáng quan tâm, nhưng với cộng đồng NĐT, đây là một cái mốc lịch sử.[2]

Ở nước ta, trong thời gian gần đây, nhiều người đã công khai việc chuyển đổi giới tính (CĐGT) cũng như thừa nhận mình là NĐT cho thấy, xã hội đã bớt cái nhìn khắt khe, đồng thời hướng đến việc tôn trọng và công nhận họ như một thành tố bình đẳng trong xã hội.

Mặc dù chưa được Nhà nước thừa nhận, thực tiễn vẫn đặt ra những vấn đề pháp lý liên quan đến việc áp dụng các quy định của luật hình sự, luật tố tụng hình sự (TTHS) và luật thi hành án hình sự liên quan đến NĐT và người chuyển giới (NCG) như hành vi xâm phạm tình dục NĐT, NCG; hành vi mua dâm, môi giới mại dâm, chứa mại dâm đồng giới; hành vi chung sống như vợ chồng với NĐT, NCG hoặc các thủ tục về khám người, thi hành các biện pháp tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù đối với những người này.

1. Một số khái niệm liên quan đến người đồng tính và người chuyển giới

Giới (gender): được sử dụng không chỉ với con người mà còn sử dụng cho động thực vật khác, chỉ giống đực (masculine) và giống cái (feminine). Ở con người, giới hàm nghĩa biểu hiện về mặt hình thức, thực thể xã hội của nam (male) và nữ (female).

Tính hoặc giới tính (sex): ngoài sự bao hàm giới còn được bổ sung về mặt tâm lý học, ý thức và ý chí tính dục (gọi chung là xu hướng tính dục). Thông thường, người ta chia giới tính ra hai đối tượng dị tính: nam/đàn ông và nữ/đàn bà.

Continue reading

ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG TRONG LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

DOÃN THỊ NGỌC

Ngày 30 và 31 tháng 6, năm 2013, Trường Đại học An Giang tổ chức Hội thảo Quốc tế về Công Tác Xã Hội và Sức Khỏe Cộng Đồng. GS Susan Newfield (trường Đại học Y) và GS Neal Newfield (trường Công Tác Xã Hội) thuộc Viện Đại học West Virginia đã trình bày về các quan điểm hệ thống trong liệu pháp gia đình, cụ thể là, những nguyên tắc cốt lõi trong liệu pháp gia đình và làm thế nào giúp các cặp vợ chồng và gia đình tăng khả năng giải quyết vấn đề.

Theo GS Susan and Neal Newfields, giga đình như những hệ thống, gồm nhiều  mối liên hệ qua lại chằng chịt về mặt huyết thống hoặc luật định, cùng chia sẻ những lợi ích, nhiệm vụ và lịch sử gia đình. Vì vậy, để áp dụng hệ thống các quan điểm vào việc giải quyết vấn đề trong gia đình đòi hỏi nhà tham vấn (NTV) phải hiểu hệ thống gia đình là một hệ thống vừa đóng vừa mở và được phân chia thành các tiểu hệ thống có những ranh giới, vai trò, thứ bậc, tầm ảnh hưởng bên trong gia đình, sự liên kết, và bị chi phối bới các luật lệ.

Để làm được điều này đòi hỏi nhà tham vấn phải nắm vững quan điểm về lý thuyết hệ thống, giao tiếp, thay đổi, truyền thông Cybernetics, vai trò, và lý thuyết phát triển để đưa ra những biện pháp can thiệp phù hợp. Các quan điểm của những trường phái trên có tính đa ngành và có thể vận dụng trong nghiên cứu, trong việc giải quyết những trường hợp cụ thể, cũng như những vấn đề xã hội khác ở lĩnh vực sinh học, tâm lý, giới và phát triển, xã hội, vật lý, hóa học v.v…

Bài viết này chỉ tập trung trình bày các quan điểm lý thuyết hệ thống (systems concepts), lý thuyết thay đổi, cụ thể là mô hình trị liệu mối quan hệ nhân quả một chiều (A > B) và mô hình mối quan hệ nhân quả vòng xoay (tác động qua lại -circular causality), lý thuyết giao tiếp, phương pháp phân tích và đánh giá gia đình bằng biểu đồ gia tộc và sinh thái, và một số qui tắc cơ bản cần ghi nhớ khi làm việc với gia đình.

Thứ nhất, các quan điểm về lý thuyết hệ thống

Hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều thành tố tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Quan điểm về hệ thống cung cấp cho chúng ta một khung tổ chức gồm nhiều yếu tố, bộ phận liên quan và tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội. Ví dụ, xét về mặt sinh học của cơ thể, khi một cơ quan nào đó bị bệnh (viêm phổi, đau tim, tiểu đường, đau răng, hay đứt tay chẳng hạn) thì bác sĩ y khoa sẽ phải xem xét tiến trình bệnh tại cơ quan đó trong mối liên hệ với cơ quan và bộ phận khác và với toàn bộ cơ thể. Như vậy, nếu có biến động từ một bộ phận thì đều tác động lên các bộ phận khác, tác động lên toàn hệ thống, và tác động theo kiểu quan hệ nhân quả xoay vòng (circular causality). Vì thế, trong liệu pháp gia đình “tổng thể quan trọng hơn bộ phận” (Whole is greater than part).

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: