BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)

HỌC ĐỂ LÀM NGƯỜI TỰ DO

 GIÁP VĂN DƯƠNG

Tôi cho rằng, mục tiêu của giáo dục là giúp cho người học vượt thoát khỏi những giới hạn do chính giáo dục mang lại. Học lại là hoạt động trọng tâm của giáo dục. Vì thế, câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi “Học để làm gì?” sẽ là: Học để trở thành con người tự do, trong đó quan trọng nhất là tự do tư tưởng, tự do lựa chọn, tự do trở thành, tự do kiến tạo.

Học để làm gì? là một câu hỏi cơ bản nhưng nhiều khắc khoải. Trong mấy năm vừa rồi, mỗi khi có dịp, tôi lại tiến hành những khảo sát bỏ túi với học sinh, sinh viên về câu hỏi nghe qua rất đơn giản này. Hầu hết các em không trả lời được.

Nếu gặng hỏi thì thường sau một hồi suy nghĩ, các em sẽ đưa ra một trong các câu trả lời khuôn mẫu: Học để làm người, học để phát triển bản thân, học để có công ăn việc làm, học để sau này đỡ khổ, học để thi v.v.

Ngay cả sau khi đã suy nghĩ như vậy thì phần lớn những câu trả lời này đều là một sự đối phó. Khi được hỏi đây là câu trả lời các em vừa nghĩ đến, hay đã nghĩ trước đó rồi, thì trên 80% cho biết vừa mới nghĩ đến. Và cũng trên 80% các em cho biết, chưa bao giờ tự mình đặt ra câu hỏi “Học để làm gì?” cho chính bản thân mình.

Continue reading

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: Nguồn gốc và khái niệm

 JEAN-GUY VAILLANCOURT – Đại học Montreal, Canada

Trong bài viết này tôi sẽ cố gắng làm ba việc. Thứ nhất, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn khái niệm phát triển bền vững, như đã được nêu ra ban đầu trong báo cáo Brundtland1. Sau đó tôi sẽ xem xét lịch sử và nguồn gốc của khái niệm phong phú và mơ hồ này. Trong phần thứ ba, tôi sẽ cố gắng chỉ ra rằng khái niệm phát triển bền vững này không chỉ hàm chứa một sự hòa giải đơn giản giữa kinh tế và sinh thái, giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Ở phần kết luận, tôi sẽ đề cập một cách ngắn gọn tới việc thao tác hóa và áp dụng khái niệm phát triển bền vững.

Khái niệm Phát triển bền vững

Kể từ khi báo cáo Brundtland được xuất bản vào năm 1987, thuật ngữ “phát triển bền vững” đã trở thành phổ biến và được truyền bá trong các tổ chức phát triển và môi trường phi chính phủ, và thuật ngữ này còn được lan truyền nhanh hơn trong các viên chức chính phủ và các chính trị gia đang khao khát các lá phiếu cử tri cũng như trong các ban quan hệ công cộng của các công ty lớn. Khái niệm phát triển bền vững thậm chí trở thành tiếng kêu đồng thanh của hầu hết những ai quan tâm tới việc theo đuổi đồng thời phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Mối quan hệ giữa những người ủng hộ bảo vệ môi trường và những người bảo vệ phát triển kinh tế thường tương đối khó khăn, nhưng phát triển bền vững cố gắng tập hợp họ lại theo hướng lâu dài.

Continue reading

NHÂN ĐỌC BÀI: “TRƯỜNG VIỆT – ÚC GỬI THÔNG BÁO TỪ CHỐI 40 HỌC SINH”

LS. VÕ ĐỨC DUY – Trưởng điều hành chi nhánh Việt Nam, Công ty Luật Santa Lawyers (Hoa Kỳ)

Vấn đề Trường Việt Úc gửi thư đến 40 phụ huynh thông báo ngừng nhận con em của họ, dư luận có 2 luồng ý kiến, có bên cho rằng nhà trường không có quyền cấm học sinh đi học tại trường này, có bên cho là phụ huynh đã sai khi không chịu mức học phí của trường này đưa ra …

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả có những phân tích và ánh nhìn theo góc độ pháp lý như sau :

Việt Úc theo mô hình quốc tế, nên nếu tham chiếu theo common laws ( hệ thống thông luật ), comparaive laws ( luật so sánh) và những common senses ( những lẽ thường và đạo lý ở đời ) theo văn hóa của người phương Đông.

Thứ nhất: Trong đạo luật về dân sự của các quốc gia có chính thể liên bang ( như Mỹ, ÚC, Canada , etc…) có qui định “ We reserve the right to refuse services to anyone” ( hiểu trong ngữ cảnh này là: điều khoản qui định họ ( bên cung ứng ) có quyền từ chối phục vụ khách hàng, dù có thể là Khách hàng mới và/hoặc trước đó đã ký hợp đồng với Khách hàng, nhưng trong quá trình thực hiện công việc, Khách hàng đã không hợp tác, không trung thực, gây khó dễ cho bên cung cấp, v.v…, đành buộc họ dựa vào điều khoản này mà ngưng và từ chối phục vụ Khách hàng ( dù trên thế gian này bất kỳ một business nào cũng đều cần Khách hàng)1.

Continue reading

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT THỎA ĐÁNG

BÙI TRỌNG LIỄU – Nguyên giáo sư đại học (Paris, Pháp)

Có những vấn đề trong giáo dục đại học tới nay chưa được giải quyết thỏa đáng, tuy nằm trong tầm tay, và không cần phương tiện tốn kém. Đó là trường hợp một số vấn đề nêu dưới đây.

I. Vấn đề nhà giáo đại học 

Vấn đề đội ngũ nhà giáo đại học là khởi thủy của nhiều vấn đề của nền giáo dục nói chung, bởi vì có thầy giỏi thì mới có trò giỏi, có một nền đại học tốt, thì mới có nền trung học tốt và nền tiểu học tốt, và trong đời sống hàng ngày của một xã hội, trong mọi guồng máy của một nước, con người hay hay dở cũng ở nhà trường mà ra. Không nên và không thể đặt vấn đề nhà giáo thấp hơn vấn đề xây cất trường sở hay vấn đề tuyển sinh. Nếu số sinh viên quá nhiều, mà số luợng nhà giáo không đủ (phải dạy quá tải) và chất lượng trình độ của nhà giáo không tương xứng (có thể nói như người xưa, là “ốc chưa mang nổi mình ốc, mà đòi mang gộc cho rêu”) thì bằng cấp chẳng còn giá trị gì nữa, dù có dán cho nó một nhãn hiệu thì nó vẫn cứ là đồ dỏm.

1. Trước tiên là một số người trong nước đã hiểu sai về vai trò của người giáo sư đại học (tôi gọi gộp trong từ “giáo sư”, cả cái gọi là phó giáo sư (PGS) mà tôi sẽ sẽ nói thêm dưới đây). Đây là một “chức vụ”, gắn liền với một cơ sở đại học, gồm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn nghiên cứu và điều hành các công việc khoa học liên quan đến chuyên môn của một ngành, một bộ môn. Trong một xã hội trên đà phát triển, nhu cầu cần giải đáp, hoặc để dự đoán trước, các vấn đề nảy sinh, buộc phải có việc nghiên cứu và « đào tạo qua nghiên cứu ». Cũng vì thế mà người giáo sư đại học phải đồng thời là nhà nghiên cứu. Chức vụ là như vậy, nó gắn với nhu cầu của xã hội. Cho nên quan niệm giáo sư đại học như là một “hàm” hay một “danh hiệu” cao quí mà Nhà nước phong thưởng cho những cá nhân xuất sắc vì những công trình cá nhân của họ, là một quan niệm không có cơ sở khoa học, điều mà tôi đã phát biểu từ nhiều năm nay (1). Nếu tôi đề cập trước tiên đến loại nhà giáo này, là vì theo tôi, lẽ ra đây phải là đội ngũ nhà giáo cơ hữu duy nhất của đại học, cạnh đó còn có những nhà giáo khác như giảng viên, thỉnh giảng, vv. Vì giáo dục đại học mang tính đặc biệt như vậy, nên nhà giáo đại học không thể và không nên là những nhà giáo mà có người gọi là nhà giáo của “phổ thông cấp 4”. Tuy nhiên, vì thực tế đã để lại cho hiện tại một tình trạng trót như vậy rồi, nếu tiến hành cải tổ ngay từ bây giờ, thì cũng phải mấy chục năm nữa mới hoàn tất; nếu để chậm thì không biết đến bao giờ!

Continue reading

BONG BÓNG ĐẠI HỌC

 CAMERON SHINGLETON – Giảng viên đại học

Nền kinh tế thị trường lâu lâu lại có một quả “bong bóng”. Nếu như cách đây tròn 10 năm có khủng hoảng tài chính thế giới do bong bóng tài sản thì vài năm sau, ở Việt Nam tôi được chứng kiến bong bóng kế toán viên.

Khuê, bạn tôi, một cô gái lớn lên ở Bình Phước, học giỏi, có năng khiếu vẽ và chụp ảnh. Nhưng Khuê lại quyết định đăng ký vào khoa kế toán một trường đại học dân lập ở TP HCM vì mẹ cô bảo “Việt Nam sẽ thiếu kế toán”. Khuê và các bạn cùng nắm tay nhau đi học kế toán.

Quyết định hơi hấp tấp mang lại kết quả không tốt đẹp lắm. Khuê không mấy hứng thú với nghề kế toán, cũng không có nhiều chỗ tuyển dụng khi cô ra trường vì quá nhiều người đang cầm bằng kế toán trên tay. Rồi Khuê cũng xin được vào một công ty nhỏ, vừa làm thu ngân, vừa điều phối nhân viên giao hàng. Lương thấp, công việc vừa chán vừa căng thẳng, cô vay tiền ngân hàng mở quán cà phê khi mà số nợ mượn trước đó để học đại học còn chưa trả.

Đến giờ Khuê cũng không biết phải làm gì để trả hết nợ, và cũng chẳng biết kiến thức nào ở trường đại học cần cho việc tính toán đơn đặt mua cà phê và kiểm soát các khoản chi phí lặt vặt của quán. Các bạn của Khuê cũng không khá hơn, nhiều người ôm bằng kế toán sang làm ngành phục vụ, người về quê lấy chồng.

Continue reading

KINH TẾ TRI THỨC VÀ CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP CỦA CHÚNG TA

GS. PHAN ĐÌNH DIỆUĐại học Quốc gia Hà nội

Sinh thời, Norbert Wiener, cha đẻ của Điều khiển học (Cybernetics) đã dự báo: “Chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến  đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường mới đó[1]. Quả thực, mấy chục năm qua, dưới tác động của những tiến bộ vũ bão của khoa học và công nghệ, mà nổi bật là công nghệ thông tin, môi trường kinh tế và xã hội đang có những biến đổi căn bản, đang chuyển biến tới một môi trường kinh tế và xã hội về cơ bản là mới, mà ta bắt đầu gọi là kinh tế tri thức và xã hội tri thức. Con người tạo ra môi trường đó, nhưng rồi đến lượt mình, chính sự phát triển khách quan của môi trường đó, với tất cả tính phức tạp, bất định và thường xuyên biến động của mình, lại đòi hỏi con người phải tự biến đổi để có được cách nhìn mới, cách nghĩ mới, nhiều năng lực trí tuệ mới khác về chất so với các năng lực cũ, nhằm giúp mình thích nghi với môi trường mới, có khả năng hành động linh hoạt trong cái phức tạp, bất định và thường xuyên biến động đó của môi trường mới.

I. Những chuyển biến hướng tới kinh tế và xã hội tri thức

1. Một môi trường đang thay đổi nhanh chóng

  Trong thế kỷ 20, khoa học và công nghệ đã liên tục phát triển mạnh mẽ với nhiều thành tựu có ý nghĩa cách mạng trong khắp các lĩnh vực, và càng ngày càng dồn dập, để đi đến những thập niên cuối của thế kỷ góp phần chủ đạo tạo nên bước chuyển biến mới của nền kinh tế và xã hội trên phạm vi toàn thế giới.  Những thành tựu khoa học to lớn đó  đã cung cấp cho con người những nhận thức hoàn toàn mới về thế giới vật chất, về sự sống, và đặc biệt về chính hệ thống kinh tế và xã hội của loài người; đã làm cơ sở cho hàng loạt những phát minh công nghệ kỳ diệu đưa đến những cải tiến và đổi mới liên tục nền sản xuất của xã hội; và những cải cách cơ cấu tổ chức, phương thức quản lý, những phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường trong từng quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.

Continue reading

TƯ DUY HỆ THỐNG VÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY

 GS. PHAN ĐÌNH DIỆU – Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Đổi mới tư duy – Một cách tiếp cận vấn đề

1. Vì sao cần đổi mới tư duy?

Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, ta thường nói tới tầm quan trọng của “đổi mới tư duy, đặc biệt tư duy kinh tế”. Và quả thực, một số đổi mới bước đầu trong tư duy về kinh tế đã mang lại không ít những thay đổi cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Và nếu nhìn ở bình diện rộng hơn và cơ bản hơn, thì ta thấy trên khắp thế giới, yêu cầu có những tư duy đổi mới đã được đặt ra từ đầu thế kỷ 20, khởi đầu từ trong các nhận thức khoa học, rồi dần lan tỏa sang các lĩnh vực hoạt động thực tiễn của kinh tế, chính trị, xã hội, mỗi ngày một rõ ràng và sâu sắc hơn. Đặc biệt là vào những thập niên cuối của thế kỷ 20, khi cuộc sống kinh tế và xã hội trong nhiều quốc gia và trên toàn cầu có những biến động to lớn, dồn dập, thường vượt qua ngoài mọi dự đoán, thì những cách tư duy cũ có tính máy móc, quy giản theo những mô hình tất định sơ lược đã chứng tỏ là bất cập trong việc nhận thức, lý giải và hướng dẫn hành động trong một thế giới phức tạp, phong phú và đa dạng như thế giới hiện nay. Và vì vậy, để tiếp tục tồn tại và phát triển, con người phải có những cách nhìn mới, cách nghĩ mới, và từ đó có những cách hiểu mới, cách xử sự mới đối với môi trường thiên nhiên, và với môi trường kinh tế xã hội đang có nhiều biến chuyển mới.

Tuy nhiên, vấn đề cơ bản là: vậy tư duy cũ là những cách tư duy nào mà ta bảo là không còn thích hợp và cần phải đổi mới; và tư duy mới là những cách tư duy nào mà ta cần được trang bị cho nhận thức của mình, vì sao chúng lại thích hợp hơn đối với yêu cầu hiểu biết và hành ộng của chúng ta trong môi trường thế giới hiện nay? Tôi e rằng khó mà có câu trả lời rành mạch và đầy đủ cho vấn đề cơ bản đó. Lịch sử phát triển tư duy là lịch sử của một quá trình tiến hoá, cái cũ không bao giờ bị phủ định hoàn toàn mà được gạn lọc để tiếp tục có tác dụng những vị trí thích hợp trong cái mới, và cái mới nhiều khi đã có mầm mống từ trong cái cũ và được tái tạo, phát huy sức mạnh mới trong những điều kiện mới. Nói đổi mới tư duy không có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn một tư duy cũ nào đó và thay thế hoàn toàn bằng một tư duy mới đối lập nào đó.

Continue reading

PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN

 NGÔ MINH THƯƠNG 

Phát triển toàn diện nguồn nhân lực quốc gia là nhiệm vụ xuyên suốt và mang tính chiến lược của Đảng ta. Một trong những nguồn lực quan trọng ấy chính là tầng lớp trí thức Việt Nam, đặc biệt là các thế hệ sinh viên – những chủ nhân tương lai, lực lượng quyết định đối với sự phát triển của đất nước. Để giúp sinh viên có được những kỹ năng mềm ấy, phương pháp dạy học tích cực của giảng viên có vị trí đặc biệt quan trọng.

Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo. Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giảng viên và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức cũng như phát triển tổng hợp các kỹ năng mềm cần thiết cho người học.

Theo từ điển Giáo dục học, “kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”(1). Có tác giả cho rằng: “Kỹ năng mềm là những kỹ năng không liên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn mà thiên về mặt tinh thần của mỗi cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện công việc một cách hiệu quả”(2).

Như vậy, theo cách định nghĩa trên thì thuật ngữ kỹ năng mềm dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống của con người. Đó chính là hành vi ứng xử của mỗi người, là cách tương tác với bạn bè, đồng nghiệp, cách làm việc nhóm. Tồn tại song song với những yêu cầu về mặt chuyên môn thì kỹ năng mềm cũng là nhân tố có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định thành công hay thất bại, hiệu quả hay kém chất lượng trong công việc và hoạt động thực tiễn.

Continue reading

NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

Ji6-pveW_400x400 PHẠM PHƯƠNG CHI

Người trí thức là lương tâm, lương tri của dân tộc

Người trí thức chân chính phải ý thức về vai trò của họ như là lương tâm, lương tri của dân tộc. Không phải ai làm việc với chữ nghĩa, sách vở và với tư tưởng đều là trí thức. Trái lại, người trí thức chân chính không chỉ thụ hưởng và tận dụng các điều kiện vật chất, truyền thống tri thức và văn hóa sẵn có của dân tộc đó. Quan trọng hơn, họ còn phải làm cho dân tộc đó thay đổi và vận động theo hướng văn minh một cách toàn diện. Đó không chỉ là sự văn minh về điều kiện vật chất; quan trọng hơn, đó là văn minh trong văn hóa – quy tắc và truyền thống ứng xử và tư duy – làm sao để diện mạo, tri thức, khả năng và tư tưởng của mọi công dân hay mọi cá thể được tôn trọng và phát huy tối đa và toàn diện.

Vai trò là lương tâm, lương tri của dân tộc này đúng với trí thức làm việc ở các ngành nghề khác nhau và đặc biệt đúng với những người nghiên cứu trong ngành khoa học xã hội và nhân văn.

Khoa học xã hội và nhân văn là công cụ thiết yếu để xây dựng tinh thần và tư tưởng của công dân theo hướng nhằm đảm bảo tính thống nhất và bản sắc riêng biệt của một quốc gia – dân tộc.

Đặc biệt, sự gắn bó có lương tri và đầy trách nhiệm của các nhà khoa học với các vấn đề của dân tộc là con đường chiến lược để Việt Nam có hệ tư tưởng và phát triển bản sắc dân tộc theo hướng có thể đối thoại với thế giới và có đóng góp vào hệ tư tưởng nhân loại, hóa giải định kiến cho rằng Việt Nam chỉ là nước theo sau, tiếp thu hay lặp lại tri thức và các mô hình xã hội, văn hóa, kinh tế của thế giới.

Phản biện là phẩm chất quan trọng nhất

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: