BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)

SUY NGHĨ VỀ KHÁI NIỆM TRÍ THỨC

GS.NGND. NGUYỄN NGỌC LANH

“Trí thức” từ đâu ra?

Intellectuel (tiếng Pháp) hay intellectual (tiếng Anh) trong từ điển vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí tuệ, trí thông minh). Nhưng một văn bản công bố năm 1906 – do nhà văn Zola ký tên đầu – lại được thủ tướng Pháp Clemenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tuyên ngôn của Trí thức (Manifeste Des Intellectuels). Thế là một tính từ trở thành danh từ mới, chưa có trong các từ điển trước đó như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902.

Đó là bản kháng nghị nổi tiếng, của các nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng, chống lại một bản án oan cũng nổi tiếng là xấu xa trong lịch sử tư pháp (xử đại úy Dreyfuss, sau gọi là “sự kiện Dreyfuss”). Như vậy, danh từ “trí thức” ra đời trong một sự kiện chống bất công, còn “người trí thức” ra đời khi xã hội thừa nhận danh từ này.

Thực ra, rất lâu trước đó đã có vô số cá nhân có phẩm chất và tiếng tăm không kém các tác giả bản tuyên ngôn nói trên, nhưng ý thức tự liên kết (ví dụ cùng ký tên vào một tuyên ngôn) và điều kiện cho phép liên kết để thực hiện những thiên chức xã hội thì chỉ xuất hiện khi xã hội có dân chủ; đồng thời người dân khi được hưởng các quyền tự do cũng bắt đầu hiểu rõ chức năng xã hội của tầng lớp trí thức và hưởng ứng họ.

Trí thức và dân chủ

Quả vậy, dẫu các tác giả của bản tuyên ngôn là những người uy tín lớn và đang được xã hội trọng vọng, như Emile Zola (1840-1902), Anatole France (1844-1924), Halevy, Buinot, Leon Blum… nhưng thật ra bản tuyên ngôn của họ chỉ có thể ra đời khi nước Pháp đã có chế độ dân chủ, ba quyền tối thượng đã được phân lập rạch ròi. Thủ tướng đứng đầu ngành hành pháp, quyền hành cực lớn, vẫn không được phép can thiệp vào công việc tư pháp, dẫu tư pháp đưa ra bản án oan.

Continue reading

TRÍ THỨC VÀ CÔNG THỨC BỔ NHIỆM MINH BẠCH

TS. NGUYỄN NGỌC HIẾU – Đại học Tổng hợp London UCL

Để trí thức đóng góp tốt hơn vào sự nghiệp phát triển thì chúng ta cần có trí thức trưởng thành và chuyên nghiệp. Muốn có điều đó lại cần đề cao tính chuyên nghiệp, bổ nhiệm theo thực tài với cả những đối tác của trí thức, kể cả những người chủ, chính trị gia và nhà quản lý trong cả xã hội.

Những ngày gần đây rất nhiều bài viết trao đổi về chính sách sử dụng trí thức và nhận thức về đội ngũ trí thức. Những quan điểm này dường như coi trí thức như một lực lượng xã hội hay công cụ riêng biệt từ bên ngoài.

Bài viết này nhìn nhận vấn đề trí thức từ bên trong, là một bộ phận xã hội và việc họ có thể phục vụ hiệu quả cho xã hội không chỉ dựa vào sự thay đổi về đối xử với một tầng lớp.

Không ai sinh ra đã là trí thức. Từ học sinh bình thường một bộ phận ưu tú sẽ phấn đấu trở thành trí thức. Tuy nhiên, khi đã trở thành trí thức rồi dường như nhiều trí thức ở Việt Nam không tiếp tục "lớn lên".

Lúc đi học, học sinh Việt Nam có lẽ cũng không thua kém so với học sinh phương Tây. Tuy nhiên, sau khi đã có nhãn, mác ít sinh viên tiếp tục ra báo và công trình mới nữa hoặc công trình có giá trị, ứng dụng thực tiễn không nhiều. Khá nhiều trí chuyển sang làm quản lý và phai nhạt dần chuyên môn. Họ làm việc của người làm kinh doanh hay chính trị, khi đó họ không còn là trí thức sáng tạo ra giá trị nữa.

Continue reading

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI TRÍ THỨC?

PAUL ALEXANDRE BARAN (PHẠM TRỌNG LUẬT dịch)

Paul Alexandre Baran là một nhà kinh tế học người Mỹ theo chủ nghĩa Marx. Tiểu luận The Commitment of the Intellectual ra đời trên Monthly Rewiew tháng 5 năm 1961. Bản dịch Pháp ngữ dưới tựa đề Qu’Est-ce qu’un Intellectuel, đăng trên tạp chí Partisans tháng 10 năm 1965, đã được Trần Sóc Sơn sử dụng để chuyển sang tiếng Việt lần đầu vào khoảng cuối thập niên 1960. Dịch lại lần này ở đây, chúng tôi sử dụng bản gốc, tuy nhiều chỗ vẫn dựa trên bản cũ, đồng thời giữ lại tựa đề của bản Pháp văn.

Ở đây, khi lập đường phân thủy giữa «trí thức» với «lao động trí thức», Baran đã đưa ra một sự phân biệt cần thiết. Và mặc dù được khai sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, thật ra đã vượt thoát khuôn khổ của môi trường này. Phê phán của ông đối với một thành phần xã hội nào đó ở nước Mỹ vẫn còn nguyên giá trị, nếu đường ranh trên được áp dụng trong một khung cảnh khác, quốc gia chậm tiến hay chủ nghĩa xã hội đương tồn.

Thế nào là người trí thức? Câu trả lời hiển nhiên nhất có lẽ như sau: đấy là người lao động với trí tuệ của mình, và kiếm sống (hoặc trong trường hợp không phải bận tâm vì sinh kế, thoả mãn lợi ích riêng của mình) nhờ bộ óc hơn là bằng bắp thịt. Tuy khá giản tiện và trực tiếp, nhìn chung, định nghĩa này vẫn không thích hợp. Đúng cho bất cứ ai không làm việc tay chân, rõ ràng là nó không ăn khớp với nghĩa thông thường của từ «trí thức». Những thành ngữ như «long-haired professor» và «egghead» cho phép ta nghĩ rằng có một khái niệm khác hẳn trong công luận để chỉ một hạng người nào đó như một tầng lớp nhỏ hơn bên trong loại người «lao động bằng trí óc».

Continue reading

TRI THỨC VÀ TRÍ THỨC

GS. NGUYỄN NGỌC LANH

Tiến hoá xã hội

Thời kỳ mông muội, con người vừa tách khỏi thú vật nên không chịu thua con thú nào về mức sử dụng cơ bắp, do vậy cũng không chịu kém chúng về mức vất vả, nhọc nhằn. Lao động chân tay là độc tôn, được đề cao tuyệt đối. Đứng đầu bộ lạc phải là người nổi trội về sức mạnh cơ bắp. Trong truyện cổ tích, các anh hùng càng phải có sức mạnh cơ bắp – là thứ mọi người ao ước, tôn thờ. Anh hùng cổ tích dẫu có phép thần thì chung qui cũng chỉ để phát huy loại sức mạnh gân cốt này. Đức Thánh Gióng dùng roi sắt quật rồi nhổ cả bụi tre phang vào giặc Ân, còn con ngựa sắt phải… hét ra lửa đốt kẻ thù, thậm chí nó phải… biết bay để mang ngài lên trời! Toàn là sức cơ bắp.

Con người khác con vật là có hai tay, lại được điều khiển bằng bộ não đã phát triển cao, nên bàn tay ngày càng khéo léo. Nhưng điều quan trọng hơn là, nhờ bộ não, con người thu được kinh nghiệm (con vật chưa chịu kém) và tạo ra tri thức (con vật đành thua). Và đây là mới chính là nguyên nhân cốt lõi và vĩnh hằng của tiến bộ xã hội. Mọi nguyên nhân khác, nếu có, chỉ là phụ và tạm. Quá nhấn mạnh những nguyên nhân phụ sẽ gặp rắc rối không chỉ về nhận thức.

Continue reading

KHÁC BIỆT VÀ PHỨC TẬP SO VỚI CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

NGUYỄN VĂN TUẤN

Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) lại vừa ra qui định và tiêu chuẩn mới cho chức danh giáo sư và phó giáo sư. Qui định mới có phần hợp lí hơn so với các qui định trước, nhưng vẫn còn rất khác và phức tạp hơn so với các chuẩn mực ở nước ngoài.

Cách tính điểm bài báo khoa học. Theo qui định mới, “bài báo khoa học đặc biệt xuất sắc được đăng trên các tạp chí hàng đầu quốc tế và Việt Nam được nhiều người trích dẫn” có điểm tối đa là 2. Ở đây có hai vấn đề. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tập san khoa học (khoảng 108.000 tập san và con số vẫn gia tăng) với chất lượng thượng vàng hạ cám, dù chúng đều có danh xưng “quốc tế” đâu đó trong tên gọi. Để sàng lọc thật và giả, Viện Thông tin Khoa học (Mỹ) căn cứ vào một số tiêu chuẩn về hoạt động và thời gian lập nên một danh sách chỉ trên dưới 5000 tập san mà giới chuyên môn công nhận là “nghiêm chỉnh”. 
Viện Thông tin Khoa học còn phát triển một chỉ số để đánh giá chất lượng của một tập san, và chỉ số đó có tên là “hệ số ảnh hưởng” (impact factor, IF). Chỉ số IF dao động từ 0 đến 80 giữa các tập san. Nói chung, tập san có IF cao cũng là tập san có uy tín cao và ảnh hưởng lớn hơn các tập san có IF thấp. Nhưng IF còn tùy thuộc vào bộ môn khoa học, với những bộ môn thực nghiệm thường có IF cao hơn các bộ môn như xã hội học và toán học. Theo tôi biết, chưa một tập san khoa học nào của Việt Nam có chỉ số IF. 
Những vấn đề thực tế trên cho thấy không thể đánh giá một công trình đăng trên tập san Việt Nam bằng một công trình đăng trên một tập san quốc tế với IF trên 10. Tương tự, cũng không thể xem một bài báo trên một tập san ở Úc, Nhật, Hàn Quốc, hay Trung Quốc với chỉ số IF < 1 bằng một bài báo trên một tập san ở Mỹ với IF > 20, dù tất cả đều là “tập san quốc tế”.  Ngoài ra, cũng không thể đánh giá IF của tập san toán giống với một tập san ngành y học. Do đó, không nên cho điểm một bài báo khoa học một cách máy móc mà không xem đến tập san bài báo đó được công bố.

Continue reading

CẦN PHÂN ĐỊNH RÕ THẾ NÀO LÀ ĐỀ TÀI KHOA HỌC

GS. HOÀNG TỤY

Tôi cho rằng, việc đầu tiên chúng ta cần phải làm là cần phân định rõ thế nào là nghiên cứu khoa học và thế nào là nghiên cứu nghiệp vụ của bản thân từng cơ quan. Ví như, cái bàn và cái ghế đều quan trọng, chúng ta đều cần cả. Nhưng đáng lẽ cái gọi là cái bàn thì chúng ta lại gọi là cái ghế, rồi chúng ta lại than phiền không có chỗ mà viết dù có đủ sách vở, bút giấy. Tình trạng của chúng ta cũng giống như vậy.

Tôi đã tham gia nhiều hội nghị về các đề tài khoa học cấp Nhà nước của một số ngành. Theo tôi, những cái gọi là đề tài khoa học ấy thực ra thuộc về chức trách, nhiệm vụ của họ. Chẳng hạn, làm giáo dục thế nào cho tốt thì đấy là công việc mà cơ quan lãnh đạo giáo dục cần phải nghiên cứu. Nhưng rồi, việc đó của họ lại thành một đề tài khoa học cấp Nhà nước, được cấp kinh phí, theo tôi dự đoán là khoảng gấp mười, gấp trăm các đề tài nghiên cứu khoa học tự nhiên. Nhiều cơ quan khác cũng có tình trạng đó. Họ đã được Nhà nước cấp cho bao nhiêu phương tiện để làm nhiệm vụ của mình, nhưng rồi họ lại “biến” nhiệm vụ đó thành không biết bao nhiêu đề tài nghiên cứu (vì chúng ta quản lý không minh bạch nên khó mà biết được số lượng thế nào). Chẳng hạn như việc nghiên cứu, giảng dạy và viết sách giáo khoa là việc hết sức quan trọng cho giáo dục. Việc đó cần được Bộ Giáo dục khuyến khích và có kinh phí khuyến khích. Nhưng việc đó là thuộc Bộ Giáo dục. Về phương diện khoa học, không thể coi sách giáo khoa là một công trình khoa học được. Trừ khi trong sách giáo khoa đó có nhiều điểm mới về khoa học thực sự có thể coi là công trình khoa học.
Tôi rất thấy làm lạ khi có nhà báo đưa cho tôi một tập các đề tài khoa học của thành phố Hà Nội, trong đó, nhiều đề tài đọc đầu đề lên đã thấy không đâu trên thế giới này coi là đề tài khoa học. Đấy là ở cấp thành phố. Ở cấp Bộ, tôi chắc cũng có nhiều trường hợp như thế. Tôi dự tính đến 70-80% kinh phí khoa học là để cấp cho các “đề tài” kiểu đó. Còn lại khoảng 20-30% cấp cho đề tài khoa học công nghệ. Bản thân tôi rất coi trọng tất cả các công trình nghiên cứu nghiêm túc ở tất cả các ngành. Tôi không gộp những cái đó vào đây, nhưng quả thật có nhiều công trình không có một giá trị gì cả. Đã vậy lại nhận kinh phí gấp trăm gấp ngàn lần các đề tài khác.

Continue reading

QUYỀN LỰC VÀ ĐẠO ĐỨC

PGS.TS. BÙI ĐÌNH PHONG – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Theo "Từ điển tiếng Việt", quyền lực được hiểu là "quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy"… Còn theo "Từ điển từ và ngữ Hán – Việt" của Giáo sư Nguyễn Lân thì quyền lực được hiểu "sức mạnh của quyền lực được giao để bắt buộc người khác phải theo (ví dụ: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước). Còn quyền uy – cũng theo Nguyễn Lân – là quyền lực và uy thế.
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, đối với chính đảng của mình và đối với chính đảng và các giai cấp khác…. Những khái niệm về thiện và ác, về lương tâm và danh dự, nghĩa vụ và quyền lợi, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… là những phạm trù thuộc ý thức đạo đức. Đạo đức mang tính giai cấp. Đạo đức chiếm vị trí chi phối, giữ địa vị thống trị đạo đức xã hội là đạo đức của giai cấp cầm quyền.
Như vậy, quyền lực, quyền uy, đạo đức trong xã hội có giai cấp, trong điều kiện đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức đúng điều này sẽ góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, chống suy thoái về đạo đức.

Không nhận thức đúng về quyền lực sẽ dẫn tới suy thoái đạo đức

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến tận cuối đời, Bác Hồ luôn trăn trở với sứ mệnh cầm quyền của Đảng. Nỗi bận tâm của người sáng lập Đảng là hoàn toàn có cơ sở, vì nước ta là nước dân chủ, nghĩa là dân làm chủ và dân là chủ.
Từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Đảng có quyền lực chính trị lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn diện đất nước, lãnh đạo toàn dân xây dựng xã hội mới. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền lấy dân làm gốc. Quyền lực của Đảng do dân uỷ thác.
Theo Hồ Chí Minh, "Đảng cầm quyền trong một nước dân chủ, thì việc giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi. Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại". Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào.

Gương sáng thì dân soi, gương mờ thì dân quay lại

Về mặt lý luận và thực tiễn, giành chính quyền đã khó, giữ và xây dựng chính quyền còn khó hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Chống đế quốc phong kiến là tương đối dễ, thắng nghèo nàn lạc hậu khó khăn hơn nhiều". Chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng (cần hiểu theo tinh thần Hồ Chí Minh là hư hỏng cả tổ chức và con người), để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là một cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nêu việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng. Tại sao như vậy?

Continue reading

PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ CÁC HÌNH THỨC, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN Ở HÀ NỘI

PGS.TS. NGUYỄN CHÍ MỲ

Trong khoa học, phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định các công trình khoa học, dự án, đề án, đề tài trong các lĩnh vực khác nhau. Phản biện xã hội có điểm chung đó, nhưng có phạm vi, đối tượng, nội dung quy mô, lực lượng tham gia rộng lớn hơn nhiều.

1. Đảng và Nhà nước ta hoạt động không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Trên đất nước Việt Nam, Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền. Đảng luôn luôn coi trọng nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đòi hỏi Đảng phải cầm quyền khoa học, dân chủ, theo luật và vì dân.
Trong điều kiện một Đảng cầm quyền ở nước ta, bên cạnh những thuận lợi cơ bản và tính ưu việt nổi trội, tuy nhiên nếu không thực hiện tốt bản chất của một Đảng cách mạng khoa học với mục đích vì dân cũng dễ xảy ra tình trạng duy ý chí, chủ quan thậm chí sa vào quan liêu. Do vậy, việc cần có một cơ chế cụ thể, rõ ràng, minh bạch để nhân dân bày tỏ thẳng thắn ý kiến, thực hiện giám sát và phản biện xã hội là thực sự cần thiết đối với các dự thảo, dự án, dự kiến những quyết định lớn của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị. Sự phản biện xã hội và giám sát xã hội sẽ giúp Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách có thực sự hợp quy luật và hợp lòng dân hay không. Giúp Đảng và hệ thống chính trị thực sự vì dân để dân tin Đảng, trung thành và đi theo Đảng. Thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của mình, nhân dân tham gia đóng góp ý kiến đối với các chủ trương, chính sách, giúp không ngừng hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; giúp sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước ngày càng tốt hơn, từ đó phục vụ nhân dân ngày càng hiệu quả hơn. Nhân dân tham gia giám sát xã hội và phản biện xã hội với tư cách vừa là người chịu sự lãnh đạo, vừa là người làm chủ, vừa là người thực hiện và vừa là người được phục vụ và thụ hưởng.

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”(1).

Trong khoa học, phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định các công trình khoa học, dự án, đề án, đề tài trong các lĩnh vực khác nhau

Phản biện xã hội có điểm chung đó, nhưng có phạm vi, đối tượng, nội dung quy mô, lực lượng tham gia rộng lớn hơn nhiều.

Continue reading

GIÁ TRỊ THỰC CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

VĂN NHƯ CƯƠNG

Khuyến khích các trường Đại học (ĐH) nghiên cứu khoa học là đúng…nhưng cần dành tỷ lệ thích đáng cho nghiên cứu những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đòi hỏi giải quyết. Và tránh tình trạng nghiên cứu để mà nghiên cứu, để có bài đăng báo, để đạt được chỉ tiêu đã đề ra vì hướng tới mục tiêu “bầu, bán…”

Nghiên cứu- “hoạt động” từ bà nội trợ đến người thầy

Thuật ngữ “nghiên cứu” được hiểu là một quá trình quan sát kỹ càng, thu thập thông tin chính xác, tìm hiểu có hệ thống và chi tiết, để có hiểu biết sâu sắc, đầy đủ hơn về một vấn đề nào đó, một sự kiện nào đó, một đối tượng nào đó.

Người đang làm công việc nghiên cứu gọi là “nghiên cứu viên”, thường họ làm trong một cơ quan nghiên cứu nào đó. Ở nước ta có rất nhiều cơ quan như vậy: Viện Toán học, Viện Vật lý, Viện Tin học, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng,Viện nghiên cứu Chiến lược Giáo dục…

Không phải mọi người đều có thể viết công trình nghiên cứu và được ấn hành, nhưng xem ra việc nghiên cứu là một hoạt động không thể thiếu được của mỗi người bình thường. Một học sinh cũng phải làm một “nghiên cứu nhỏ” mới có thể viết được bài văn “Tả con mèo nhà em” nếu không muốn chép trong sách.

Một bà nội trợ cũng cần phải nghiên cứu giá cả, quan sát bó rau, miếng thịt …sao cho chọn được mớ rau tươi, miếng thịt ngon và mua không bị hớ. Một cặp nam nữ đang “tìm hiểu” nhau có nghĩa là họ đang “nghiên cứu” đối tượng của mình với một mục tiêu rõ ràng: Có nên tiến hành hôn nhân hay không? Nghiên cứu này tuy rất quan trọng đối với họ, nhưng kết quả nghiên cứu chỉ có lợi cho một mình họ, không thể phổ biến nên không được in ấn, phong cấp này hay cấp nọ…

Đối với một số người thì nghiên cứu là một hoạt động thường xuyên trong suốt cuộc đời làm việc của họ: Nhà lãnh đạo mọi cấp bậc, người thẩm phán, nhà luật sư, người cán bộ cơ quan điều tra, người thầy thuốc…trong số đó đặc biệt có các thầy, cô giáo ở các trường ĐH. Chính vì lẽ đó vấn đề nghiên cứu khoa học luôn là một đề tài được bàn luận nhiều.

Nhiệm vụ của người thầy là truyền thụ kiến thức mới cho học trò. Vậy điều đầu tiên là thầy phải nghiên cứu, tìm hiểu để có hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về vấn đề mà mình định thuyết giảng cho học trò. Sau đó thầy phải tìm ra phương pháp tối ưu để làm cho học trò tiếp thu tốt. Như vậy một bài giảng hay là hệ quả của một thái độ nghiên cứu nghiêm túc và công phu.

Phổ biến và "dị biệt"

Đối với các giảng viên ĐH, việc nghiên cứu nhằm hai mục đích chính: 1) Nghiên cứu để có những bài giảng tốt, đào tạo và hướng dẫn sinh viên có chất lượng cao. Kết quả của những nghiên cứu này là các tài liệu giảng dạy, các bộ sách giáo khoa chuyên ngành rất cần thiết để sinh viên học tập và tham khảo.

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: