BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)

VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN CỦA PHÁP NHÂN TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

PGS.TS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Luật, Đại học Công nghệ TP.HCM

Là một trong các loại chủ thể phổ biến của Tư pháp quốc tế, pháp nhân đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật pháp nhân phải thông qua người đại diện của mình (bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền). Vì vậy, việc xác định người đại diện của pháp nhân trong Tư pháp quốc tế là vấn đề quan trọng để đảm bảo tính hợp pháp của các quan hệ mà pháp nhân tham gia. Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ phân tích những vấn đề liên quan đến người đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong Tư pháp quốc tế.

1. Xác định đại diện của pháp nhân trong Tư pháp quốc tế

Xác định đại diện của pháp nhân có ý nghĩa quan trọng trong Tư pháp quốc tế vì thông qua hành vi của người đại diện, quyền và nghĩa vụ của pháp nhân khi tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể trên thực tế sẽ được xác lập, đặc biệt là quan hệ xác lập, thực hiện hợp đồng của các pháp nhân là doanh nghiệp. Theo Coronne Renault – Brahinsky (2002) thì xác định chủ thể có quyền ký kết hợp đồng là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật về hợp đồng. Còn theo Jean – Marc Favret (2002) thì xác định chủ thể có thẩm quyền ký kết hợp đồng luôn là nội dung điều chỉnh quan trọng của pháp luật hợp đồng Liên minh châu Âu. Trong Tư pháp quốc tế,việc xác định người đại diện của pháp nhân thường căn cứ vào quốc tịch của pháp nhân bởi lẽ Hệ thuộc Luật quốc tịch pháp nhân (Lex societatis) thường được áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp nhân nước ngoài. Điều này xuất phát từ thực tế pháp nhân luôn hoạt động ở nơi mình không có quốc tịch. Nói cách khác pháp nhân luôn được xem là chủ thể nước ngoài tại quốc gia pháp nhân đang hoạt động. Vì vậy, mọi vấn đề liên quan đến pháp nhân, trong đó có vấn đề xác định người đại diện, thường căn cứ vào hệ thống pháp luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch.

Continue reading

XỬ LÝ HỒ SƠ TRONG LĨNH VỰC CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

CHANTAL ARENS – Thẩm phán, Chánh án Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng EVREUX, Toà Phúc thẩm ROUEN

I. Cạnh tranh không lành mạnh

Tự do kinh doanh là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật Pháp. Nhưng cũng có những giới hạn nhất định đối với các hành vi do các đối thủ cạnh tranh khác nhau thực hiện để đạt được mục đích của mỗi người. Việc kiếm soát các hành vi này đã dẫn đến sự ra đời của lý thuyết về cạnh tranh không lành mạnh vốn không phải là hệ quả của các văn bản luật mà chủ yếu từ các học giả và án lệ.

Pháp luật áp dụng đối với việc cạnh tranh không lành mạnh là pháp luật của Quốc gia nơi sự việc gây thiệt hại đã xảy ra.

1. Cơ sở của quyền khởi kiện chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Án lệ đã căn cứ vào các điều 1382 và 1383 của Bộ luật dân sự[1] để cho phép kiện đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nghĩa là áp dụng nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định chung của pháp luật.

Tranh chấp thường có tính chất thương mại, nên các phương thức chứng minh là tự do và chứng cứ có thể được đưa ra bằng bất kỳ cách nào.

Quyền khởi kiện được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện chung được áp dụng trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa là phải có lỗi, có thiệt hại và quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại.

Lỗi có thể là lỗi cố ý hay vô ý.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ MUA HÀNG AN TOÀN QUA MẠNG ĐIỆN TỬ

 Hiện nay, thương mại điện tử trở nên ngày càng phổ biến bên cạnh các phương thức mua bán truyền thống. Tuy nhiên, phương thức này cũng ẩn chứa một số rủi ro cho người tiêu dùng. Pháp luật của Pháp đã đưa ra rất nhiều những quy định điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có các văn bản quan trọng như sau:

B lut Dân s

B lut Tiêu dùng

B lut Tin t và tài chính

B lut Bưu đin và truyn thông đin t

Lut s 2004-575 ngày 21 tháng 06 năm 2004 liên quan đến nim tin trong thương mi đin t

Lut ngày 06 tháng 01 năm 1978 v thông tin và các quyn t do

Ngh định ngày 31 tháng 12 năm 2008 v thông báo gim giá đi vi ngưi tiêu dùng.

Sau đây là một số kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn của Cộng hòa Pháp về mua hàng an toàn qua trang thương mại điện tử.

Continue reading

MỘT SỐ QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN GIỚI HẠN THỰC HIỆN QUYỀN TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI Ở CỘNG HÒA PHÁP

clip_image002LUT S 93-122 NGÀY 29 THÁNG 1 NĂM 1993 V PHÒNG, CHNG THAM NHŨNG, MINH BCH HÓA ĐỜI SNG KINH T VÀ TH TC HÀNH CHÍNH

Điu 20

Một bên trung gian chỉ có thể mua diện tích quảng cáo hoặc dịch vụ in ấn và phát hành ấn phẩm quảng cáo cho một bên quảng cáo trên cơ sở một hợp đồng uỷ quyền bằng văn bản.

Hợp đồng uỷ quyền phải xác định rõ các điều kiện trả thù lao cho bên được uỷ quyền, trong đó quy định cụ thể về tất cả các dịch vụ (nếu có) sẽ được thực hiện trong khuôn khổ hợp đồng uỷ quyền và mức phí cho từng dịch vụ đó. Hợp đồng cũng phải nêu tất cả các công việc khác mà bên trung gian thực hiện ngoài khuôn khổ của hợp đồng, và tổng mức thù lao cho các công việc đó. Nếu bên bán giảm giá hoặc có ưu đãi về phí dịch vụ thì phải ghi rõ trong hóa đơn gửi cho bên quảng cáo. Bên trung gian chỉ được phép giữ lại một phần hoặc toàn bộ số phí dịch vụ được giảm hoặc được ưu đãi nếu hợp đồng uỷ quyền có quy định cụ thể.

Đối với những trường hợp mua diện tích quảng cáo hoặc dịch vụ quy định tại đoạn 1 Điều này, hóa đơn phải được gửi trực tiếp cho bên quảng cáo, ngay cả khi bên quảng cáo không trực tiếp thanh toán cho bên bán.

Điu 21

Bên trung gian quy định tại đoạn 1 Điều 20 không được phép nhận bất kỳ khoản thù lao nào khác ngoài khoản thù lao do bên uỷ quyền trả cho việc thực hiện công việc được uỷ quyền. Bên trung gian cũng không được phép nhận bất kỳ khoản thù lao hoặc lợi ích nào khác từ bên bán. Continue reading

HIỆP ĐỊNH EVFTA TỪ GÓC NHÌN CHIẾN LƯỢC

TS. LÊ ĐÌNH TĨNH & THS. HÀN LAM GIANG – Học viện Ngoại giao

Ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu (EP) chính thức phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Liên minh châu Âu (EU) với Việt Nam (EVIPA). Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), EVFTA hay các hiệp định bảo hộ đầu tư tiêu chuẩn cao trở thành một xu hướng đáng chú ý trong khu vực, trên thế giới và đồng thời là lựa chọn chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.

Thực tế, tầm quan trọng của các hiệp định này yêu cầu phải có cách tiếp cận chiến lược trên cả ba khía cạnh: thời gian, không gian và quy mô/tầm mức. Về thời gian, EVFTA và EVIPA sẽ tạo ra các tác động lâu dài, đáng kể đến sự phát triển kinh tế và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam. Về không gian, các hiệp định này giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác, mở rộng không gian chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng. Về quy mô/tầm mức, các cam kết đối với hai hiệp định này liên quan đến nhiều lĩnh vực và đều hướng tới các tiêu chuẩn cao, góp phần đưa Việt Nam lên nấc thang mới trong chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu.

Bối cảnh của Hiệp định

Nếu nhìn nhận bối cảnh trên ba cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia, EVFTA và EVIPA được khởi động và kết thúc đàm phán trong các điều kiện sau.

Continue reading

TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ QUY ĐỊNH ĐẦU TƯ

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

Báo cáo này khảo sát quy định về đầu tư của 8 quốc gia với 5 nước trong khu vực Châu Á và 3 nước thuộc các khu vực khác gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines, Hoa Kỳ, Canada, Australia. Đây là các nước được phân thành 2 nhóm: (i) nhóm nước đang phát triển, có điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam; (ii) nhóm nước phát triển đã có hệ thống quy định về đầu tư hoàn thiện. Với 2 nhóm nước nêu trên, nghiên cứu có thể phản ánh một góc nhìn toàn diện đối với chính sách quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Trong phạm vi Báo cáo, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước nói trên. Các quy định riêng đối với hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua sàn giao dịch chứng khoán không được đề cập trong Báo cáo.

Nội dung Báo cáo chia làm 2 phần: Phần I là những đánh giá tổng quan về pháp luật đầu tư, phần II Báo cáo tập trung nghiên cứu quy định cụ thể của các nước được khảo sát trên cơ sở 6 tiêu chí cụ thể như sau:

(1) Nguồn luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài

(2) Hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp

(3) Hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

(4) Cơ quan quản lý về đầu tư

(5) Thủ tục đầu tư

(6) Một số vấn đề khác

Ngoài việc tập trung nghiên cứu pháp luật về đầu tư nước ngoài của các nước được khảo sát theo các tiêu chí nêu trên, trong phần đánh giá tổng quan, Báo cáo cũng đề cập đến chính sách đầu tư nước ngoài của một số nước khác để có được một cái nhìn bao quát về chính sách quản lý đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Continue reading

XÁC ĐỊNH HÀNH VI VI PHẠM TRÊN CƠ SỞ BẢN CHẤT PHẢN CẠNH TRANH CỦA HÀNH VI THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CHÂU ÂU

 PHÙNG VĂN THÀNH – Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương

I. Giới thiệu và phân loại hành vi theo Điều 101, TFEU

Điều 101 trong Hiệp ước hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU – Treaty on the Functioning of the European Union) là một trong những điều khoản cơ bản làm nền tảng pháp lý cho pháp luật cạnh tranh hay pháp luật chống độc quyền của Châu Âu. Điều 101 quy định mọi thoả thuận giữa các chủ thể trên thị trường, quyết định của hiệp hội và các hành vi phối hợp khác mà có thể gây ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên và mang tính chất hoặc có tác động ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch bóp méo cạnh tranh trên thị trường chung trong liên minh đều bị cấm bởi không phù hợp với tinh thần và mục tiêu chung của thị trường.

Trước tiên có thể thấy quy định trên đây đã nêu rõ hai dạng hành vi khác nhau dựa trên mức độ cam kết giữa các thành viên tham gia đó là hành vi thoả thuận và hành vi phối hợp. Thoả thuận là trường hợp có sự trao đổi, gặp gỡ và đi đến thống nhất ý chí (meeting of mind) giữa hai hay nhiều chủ thể kinh doanh trên thị trường về một hay một số các yếu tố kinh doanh. Vì vậy, trong trường hợp thoả thuận thường có sự cam kết cao nhất của các thành viên đối với những nội dung đã được thống nhất, ít nhất là về mặt hình thức. Trong nhiều trường hợp các bên tham gia thoả thuận còn đặt ra các hình thức hay biện pháp chế tài để đảm bảo thực hiện các nội dung đã cam kết. Thoả thuận có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau như thoả thuận miệng (trao đổi miệng trực tiếp, điện thoại…) hoặc bằng văn bản (email, thư tín, quyết định cuộc họp, biên bản cuộc họp, biên bản thoả thuận…). Trong trường hợp hành vi phối hợp không có sự thống nhất và tính cam kết cao như thoả thuận. Đây là trường hợp giữa các doanh nghiệp có sự ngầm hiểu với nhau về một vấn đề nào đó và từ đó có thể đưa ra những hành vi kinh doanh mang tính tương đồng.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA CÔNG LÝ CHÂU ÂU VỀ VẤN ĐỀ CHIẾT KHẤU CỦA DOANH NGHIỆP THỐNG LĨNH

 PHÙNG VĂN THÀNH – Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương

Ngày 6 tháng 10 năm 2015, Toà án công lý Châu Âu (ECJ) đã đưa ra phán quyết liên quan đến vấn đề chiết khấu trong vụ Post Danmark[1]. Phán quyết của ECJ đưa ra trong vụ việc này là sự tổng hợp và hệ thống hoá lại tất cả các quyết định liên quan đến vấn đề chiết khấu mà ECJ đã đưa ra trong các vụ việc trước đây, qua đó hình thành hướng dẫn thực thi cho các cán bộ thực thi cũng như các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường khi xây dựng các chính sách chiết khấu.

1. Thông tin vụ việc

Post Denmark là doanh nghiệp bưu chính có vị trí thống lĩnh trên thị trường Vương quốc Đan Mạch. Doanh nghiệp này nguyên là một doanh nghiệp độc quyền do nhà nước là chủ sở hữu. Đến năm 2007 – 2008, doanh nghiệp này được tái cơ cấu trong đó có cả phần vốn góp của tư nhân và một phần thuộc sở hữu của người lao động.

Sau khi tái cơ cấu, doanh nghiệp này áp dụng chính sách chiết khấu dựa trên định mức về khối lượng đối với từng phân đoạn thị trường dịch vụ bưu chính trực tiếp của toàn bộ thị trường dịch vụ bưu chính. Tại thời điểm này trên thị trường chỉ có duy nhất một doanh nghiệp đối thủ là Bring Citymail (một công ty của Na Uy).

Trên cơ sở điều tra, vào năm 2009, Cơ quan cạnh tranh Đan Mạch đi đến kết luận rằng Post Danmark đã lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường dịch vụ bưu chính thông qua việc áp dụng các chính sách chiết khấu nhằm xây dựng mạng lưới khách hàng trung thành và bóp méo thị trường cạnh tranh trong khi không đưa ra được các biện pháp tạo hiệu quả kinh tế mang lại lợi ích cho người tiêu dùng.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là Báo cáo Môi trường kinh doanh (MTKD) – Doing Business (DB)) của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh. Đây là báo cáo thường niên, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2003. Báo cáo đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng thế giới tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu thành lập hoặc mở rộng hoạt động của một doanh nghiệp.

Báo cáo Môi trường kinh doanh lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2003 (với tên gọi Doing Business 20041) xem xét 5 chỉ số và 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 (công bố ngày 31/10/2018) xếp hạng 190 nền kinh tế; gồm cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất. Qua các năm, số lượng các chỉ số và các nước khảo sát được mở rộng.

Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc tìm hiểu và cải thiện môi trường pháp lý và thực thi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số trong Doing Business thể hiện các nội dung sau:

– Thứ nhất, đo lường chất lượng các quy định; đánh giá được tính phức tạp thể hiện qua các quy định;

– Thứ hai, đo lường thời gian và chi phí tuân thủ các quy định (chẳng hạn như thời gian và chi phí thực hiện hợp đồng, thủ tục phá sản hay thương mại qua biên giới,…);

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: