HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho International integrationDỰ ÁN MUTRAP III

Hơn hai thập kỷ hội nhập chính là động cơ chủ yếu cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập và thực hiện các sáng kiến hội nhập, bao gồm tự do hóa đa phương thương mại và đầu tư, đàm phán song phương, thực thi các cam kết WTO, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập ASEAN, đàm phán các FTA khác và đàm phán trong khuôn khổ WTO. Mặc dù trong hơn hai thập kỷ qua, hội nhập kinh tế đã mang lại những lợi ích đáng kể, nhưng Việt Nam vẫn cần hội nhập sâu hơn nếu muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thập kỷ tới. 

Việt Nam bắt đầu Đổi Mới vào giữa những thập kỷ 80 thông qua tự do hóa và hội nhập đa phương. Sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết vào năm 1991 đã chấm dứt chế độ trao đổi hàng hóa và khuyến khích hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Vào giữa những năm 90, Việt Nam bắt đầu quá trình gia nhập WTO, đàm phán hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu và gia nhập ASEAN. Sau khi đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ năm 2001, Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007. Quá trình thực thi các cam kết trong WTO đã được thực hiện trong cả 1 thập kỷ qua và một số cam kết trong đàm phán cũng sẽ được thực hiện trong vài năm tới. Ngoài việc tham gia vào hội nhập khu vực ASEAN, Việt Nam cũng tham gia các FTA ASEAN cộng với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Úc và New Zealand. Bên cạnh đó, đàm phán của ASEAN về FTA với Ấn độ cũng đang có những bước tích cực và đàm phán FTA với EU cũng đang được thực hiện.

Nói chung, tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập. Thương mại và đầu tư ở Việt Nam đã phát triển từ cơ chế tương đối hạn chế sang cơ chế mở như hiện nay. Những kết quả đạt được về mặt kinh tế là rất ấn tượng:

• Tỷ trọng xuất khẩu (và nhập khẩu) trong nền kinh tế tăng gấp 10 lần từ 1988 đến 2008;

• Thu nhập đầu người tăng từ $130 vào đầu thập kỷ 90 lên   $800 vào 2008; và

• Tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống 13% năm 2008.

Tiếp tục đọc

Advertisements

WTO ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: VIỆT NAM DƯỚI CON MẮT CÁC THÀNH VIÊN WTO

  ĐỖ TUYẾT KHANH

Năm 2016 là dịp nhìn lại quá trình gần 10 năm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sau một bước ngoặt quan trọng: sau 20 năm chính sách Đổi mới được áp dụng từ 1986 và 11 năm đàm phán gay go, ngày 7.11 2006, các văn kiện cho phép Việt Nam gia nhập WTO đã được Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thông qua. Theo quy định của WTO, các nước ứng viên chính thức trở thành thành viên của tổ chức 30 ngày sau khi Nghị định thư gia nhập (Accession Protocol) được cơ quan thẩm quyền trong nước phê chuẩn. Tuy thời hạn phê chuẩn được ấn định đến 30.7.2007, Việt Nam đã tiến hành ngay thủ tục này, đệ trình lên WTO nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội ngày 11.12.2006 và chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức ngày 11.1.2007, đúng 12 năm sau khi đệđơn xin gia nhập, ngày 12.1.1995.

Mười năm tạm đủ để trả lời sơ khởi câu hỏi đã đặt ra cho Việt Nam lúc ấy như cho mọi nước ứng viên: vào WTO sẽ có những lợi hại gì, sẽ thay đổi ra sao? Mậu dịch có đúng là động lực phát triển kinh tế như phương châm quen thuộc của hệ thống thương mại đa phương? Để gia nhập WTO phải đồng ý một số thoả nhượng và cam kết, trong đó quan trọng hơn cả là cải cách những cơ chế và định chế để phù hợp với luật WTO và đòi hỏi của các thành viên. Đối với Việt Nam, tự khẳngđịnh là một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các đòi hỏi cải cách tất nhiên rất nhiều và đặt nặng vấn đề vai trò nhà nước trong kinh tế. Vào WTO là chấp nhận sự giám sát của các thành viên thông qua cơ chế xét duyệt chính sách thương mại (Trade Policy Review, gọi tắt là TPR). Tháng 11.2013, Việt Nam đã chịu sự xét duyệt TPR đầu tiên và những đánh giá, phê bình của các thành viên cũng phần nào trả lời câu hỏi nằm trong chủ đề của Hội thảo hè năm nay : để tiếp tục phát triển, Việt Nam cần cải cách những gì?

Theo quy định của WTO, lịch trình xét duyệt chính sách thương mại dựa trên tỷ trọng của mỗi thành viên trong mậu dịch thế giới : mỗi 2 năm cho 4 cường quốc thương mại đứng đầu bảng (hiện là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu và Nhật Bản), mỗi 4 năm cho 16 nước được xếp hạng tiếp theo, và mỗi 6 năm cho các thành viên khác, các nước kém phát triển nhất có thể xin được thời hạn dài hơn. Năm 2013, Việt Nam được xếp hạng 34 cho xuất khẩu và 32 cho nhập khẩu, và với tư cách thành viên mới (Recently Acceded Member) có thể yêu cầu chưa tiến hành TPR vội. Vì thế việc Việt Nam đồng ý thực hiện TPR đầu tiên của mình năm 2013, 6 năm rưỡi sau khi gia nhập, được ghi nhận là sốt sắng, tích cực hội nhập và ủng hộ hệ thống thương mại đa phương.

Tiếp tục đọc

CUỘC CHƠI WTO: CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ CỦA J.E.STIGLITZ

TRẦN HẢI HẠC – Đại học Paris XIII

Sau một quá trình đàm phán kéo dài 11 năm, Việt Nam đã trở nên thành viên Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organisation [WTO]) từ đầu năm nay (Năm 2007 – Civillawinfor). Vấn đề bây giờ của Việt Nam, theo dư luận phổ biến hiện nay ở trong nước, là thực thi các cam kết đã thoả thuận, tôn trọng các luật chơi mà ta đã công nhận: thoả thuận này được xem là cân đối, các luật chơi của WTO là bình đẳng. Theo cách đặt vấn đề này, các chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề còn lại là “đưa đất nước bay lên từ đường băng WTO”.[1] Đường băng này bằng phẳng, vSSSSSSSSSà Việt Nam có cất cánh hay không là do năng lực của bản thân, trước tiến là năng lực cải cách toàn diện: nó tuỳ thuộc vào “những yếu tố nội tại” mà “tư cách thành viên WTO không tạo nên”.[2] Theo phát biểu của một chuyên gia: “Thắng, thua trước hết tại mình chứ không phải tại WTO, vì cho đến nay chưa có nước nào vì vào WTO mà khánh tận, phá sản và cũng chưa nước thành viên nào nạp đơn xin rút lui khỏi tổ chức này”.[3]

Cũng có một cách khác để tiếp cận vấn đề, đi từ mặt trái của WTO và cũng là bộ mặt thật của nó, mà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không nêu lên hay tránh không muốn nếu ra, chí ít trong thời kỳ đàm phán vào WTO, vì nhiều lý do: có thể do yêu cầu đấu tranh tư tưởng với quan điểm chống gia nhập WTO trong nội bộ của đảng; cũng có thể do yêu cầu tranh thủ ngoại giao những cường quốc tư bản chủ nghĩa có tiếng nói quyết định trong việc kết nạp. Bộ mặt này của WTO được nhà kinh tế Mỹ Joseph Stiglitz vạch ra thẳng thừng trong hai tác phẩm mới đây của ông: Fair trade for all. How trade can promote development, viết cùng với Andrew Charlton [2005], và Making globalization work [2006].[4]

Trong kinh tế học hiện đại, J. Stiglitz được biết đến như là người thầy của kinh tế học vi mô mới (mà đặc tính là từ bỏ giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo), và đóng góp của ông cho thuyết về thông tin đã được thưởng giải Nobel kinh tế học (cùng với George Akerlof và Michael Spence) năm 2001. Stiglitz thuộc trường phái Keynes mới, chủ trương xác lập cơ sở vi mô của những mất cân bằng vĩ mô (như thất nghiệp không tự nguyện của Keynes): đối phó với tính bất trắc và thông tin phi cân xứng, các tác nhân kinh tế có lối ứng xử “cứng nhắc”, họ chỉ tham gia các thị trường (lao động, tín dụng, đất đai) có những chuẩn tắc mà họ thương lượng và được nhà nước thể chế hoá. Nói về bàn tay vô hình điều tiết thị trường của Adam Smith, ông cho rằng: “Đúng là vô hình, bởi vì nó không có. Thị trường không hề tự điều tiết”.[5]

Ngoài trường đại học, Stiglitz được tín nhiệm làm chủ tịch của Hội đồng các tư vấn kinh tế (Council of Economic Advisers) của tổng thống Clinton các năm 1993-1997, rồi làm kinh tế gia trưởng và phó chủ tịch Ngân hàng thế giới (World Bank [WB]) các năm 1997-2000. Ở cương vị này, Stiglitz không những công kích quan điểm chính thống của Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund [IMF]), ông còn gây cuộc tranh cãi trong nội bộ WB giữa phe “tân cổ diển” và phe “xét lại” mà ông là đại biểu, và cuối cùng ông đã phải từ chức ra đi. Tác phẩm Globalization and its discontents [2002] tố cáo “sự cuồng tín của chủ nghĩa tự do” đang chế ngự các định chế tài chính quốc tế: “WB, IMF, WTO đầy dẫy những chuyên gia giáo điều và tự phụ, những bonsevic của thị trường, đã chồng chất bao nhiều điều phi lý và tổn hại ở các nước nghèo. Không có gì phải ngạc nhiên nếu sự nổi giận đang dâng lên từ các nước này”.[6]

Tiếp tục đọc

GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG – Ngày 18/3/1965, Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID) được WB thành lập theo Công ước năm 1965 về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư giữa các Quốc gia và Công dân của các Quốc gia khác. Tiếp đó, ngày 14/10/1966, 30 ngày sau khi văn bản phê chuẩn thứ 20 được nộp cho Ngân hàng thế giới, Công ước ICSID đã chính thức có hiệu lực.

Đến nay, Công ước này đã được khoảng 135 quốc gia phê chuẩn. Cùng với hoạt động của Trung tâm ICSID, năm 1976 các quốc gia ký kết đã thông qua Cơ chế phụ trợ của Trung tâm và ban hành bộ quy tắc tạo điều kiện thuận lợi bổ sung, cho phép Ban thư ký ICSID giải quyết các tranh chấp trong đó một bên không phải là thành viên Công ước ICSID.

Mục đích chủ yếu của Công ước là nhằm thiết lập ICSID – một cơ chế hòa giải và trọng tài thường trực bên cạnh WB – có chức năng giải quyết tranh chấp đầu tư giữa cơ quan nhà nước của một bên ký kết và nhà đầu tư của bên ký kết khác.

Thủ tục tố tụng không nhất thiết phải tiến hành ở trụ sở chính củaTrung tâm tại Oa-sing-tơn. Thỏa thuận giữa các chính phủ về việc đưa tranh chấp đầu tư ra trọng tài ICSID có thể tìm thấy trong các hợp đồng đầu tư giữa các chính phủ và nhà đầu tư, cũng như trong các hiệp định đầu tư song phương.

ICSID đặt trụ sở chính tại WB với tổ chức bộ máy gồm: Hội đồng Hành chính, Ban thư ký, Ban Hòa giải và Ban Trọng tài.

Hội đồng hành chính

Hội đồng Hành chính gồm đại diện do các quốc gia thành viên đề cử. Mỗi quốc gia thành viên được quyền đề cử một đại diện tham gia Hội đồng Hành chính.

Tiếp tục đọc

CÓ HAY KHÔNG SỰ ĐỘC LẬP XÉT XỬ TRONG WTO?

image THÔNG TIN PHÁP LUẬT BỘ CÔNG THƯƠNG –  Câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này là hệ thống xét xử của WTO thiếu sự độc lập vì cơ quan chính của nó, DSB (Dispute Settlement Body – Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO), là một thiết chế chính trị gồm đại diện tất cả các Thành viên, và như thế là khó có sự độc lập với các chính phủ. Song câu trả lời này không thỏa đáng. Thứ nhất cần đánh giá liệu các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có độc lập hay không. Nói cách khác, các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm có thể hoạt động độc lập tới mức nào với: (1) Đại hội đồng WTO, (2) các thành viên WTO, và (3) Tổng Giám đốc và Ban Thư ký WTO?

Việc rà soát các quy tắc DSU thể hiện rằng những người soạn thảo đã cố gắng bảo đảm quá trình xét xử của các Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm không bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp của các chính phủ. DSU chỉ rõ “sự độc lập của các thành viên” như một tiêu chuẩn cho việc lựa chọn thành viên Ban hội thẩm. Trong khi đó, một số hiệp định WTO yêu cầu các chính phủ đảm bảo việc độc lập rà soát xét xử trong các vụ kiện hành chính. Vì vậy, tầm quan trọng có tính chất quy phạm của sự độc lập xét xử đã được công nhận bởi các thành viên soạn thảo hiệp định WTO.

Như các quy tắc DSU đã quy định, Ban hội thẩm được chọn từ một bảng phân công được các chính phủ Thành viên đồng ý. Trong mỗi vụ kiện, các thành viên Ban hội thẩm được Ban Thư ký đề cử tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên tranh chấp. Tuy nhiên, nếu không thể đạt được một thỏa thuận, Tổng Giám đốc sẽ chỉ định Ban hội thẩm và có thể thêm những cái tên khác. Không một thành viên nào của Ban hội thẩm có thể là công dân của các bên tranh chấp, trừ khi các bên đều đồng ý.

DSB chọn Cơ quan Phúc thẩm bảy người. Các thành viên của nó có nhiệm kỳ 4 năm và có khả năng tái bổ nhiệm. Họ không được làm việc trong bất kỳ chính phủ nào. Đến nay, chưa có phụ nữ nào được bổ nhiệm vào cơ quan này. Trong bất kỳ vụ kiện cụ thể nào, một trong ba thành viên được chọn qua một hệ thống luân phiên. Các chính phủ trong một tranh chấp không có vai trò chọn người xét xử kháng cáo.

Tiếp tục đọc

HIỆP ĐỊNH VỀ HẦNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

THS. VŨ THẾ QUANG – Cục Hàng hải Việt Nam

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ra đời trên cơ sở Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, do các nước thành viên của GATT ký ngày 14/4/1994 tại Ma-rốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 với trụ sở chính đặt tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ. WTO là tổ chức quốc tế, hoạt động dựa trên hệ thống các luật lệ, quy định, quyết định cũng như các phụ lục, giải thích để điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế nhằm tạo ra một cơ chế điều tiết thương mại toàn cầu.

WTO có 4 chức năng chính, đó là:

  1. Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các hiệp định của WTO;
  2. Thúc đẩy tự do hóa thương mại và là diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại;
  3. Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên;
  4. Rà soát chính sách thương mại của các thành viên.

Mục tiêu hoạt động của WTO là nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới; thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế; khuyến khích các nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao mức sống, tạo thu nhập, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động-xã hội tối thiểu được tôn trọng. WTO cũng đưa ra 4 nguyên tắc trong quan hệ thương mại, đó là: Chỉ được phép bảo hộ sản xuất và dịch vụ trong nước bằng thuế quan, không cho phép sử dụng các hạn chế định lượng (trừ trường hợp đặc biệt); thuế quan phải giảm dần và không tăng trở lại; áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc; áp dụng đãi ngộ quốc gia.

Để thực hiện tốt chức năng và mục tiêu của mình, hoạt động của WTO chủ yếu dựa trên 18 hiệp định chính và 1 bộ quy tắc, bao gồm cả Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on Technical Barries to Trade – TBT).

Tiếp tục đọc

TRANH CHẤP VỀ HÀNG DỆT MAY TRONG WTO VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ VŨ HÀ – Khoa Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế,  Đại học Quốc gia Hà Nội

TÓM TẮT. Dệt may là một ngành hàng quan trọng của Việt Nam trong việc giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho người dân, song mặt hàng này lại chịu sự cạnh tranh rất lớn và thường xảy  ra  tranh  chấp. Do  vậy,  nghiên  cứu  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may  trong WTO  và  đưa  ra  các  khuyến nghị cho Việt Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước  nguy cơ bị kiện bán phá giá hàng dệt may và cũng đang chịu tác động của việc bán phá giá hàng  dệt may của Trung Quốc vào  thị  trường nội địa.

Bài viết tổng kết về các  tranh chấp xảy  ra  trong WTO về hàng dệt may và trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: chủ động  khởi kiện  nếu  thấy hàng dệt may bị  bán phá  giá  trên  thị  trường  nội địa,  tích cực  theo kiện, giải  quyết tranh chấp không thông qua Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm; nghiêm chỉnh thực hiện  các phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.

1. Tranh chấp về hàng dệt may trong WTO

Tính đến ngày 30/12/2008, theo số liệu của Tổ  chức  Thương mại  Thế  giới  (WTO)  thì  có 390  vụ  tranh  chấp  thương mại khác  nhau diễn ra tại WTO. Các vụ tranh chấp này có liên quan đến nhiều  lĩnh vực  trong đó chủ yếu  tập  trung  vào các vấn đề và mặt hàng như: các biện pháp chống  bán  phá  giá;  tự  vệ;  thép;  các  sản  phẩm nông nghiệp; TRIPs; các biện pháp đối kháng; dệt may; các biện pháp nhập khẩu; xe ô tô; bằng phát minh… (xem biểu đồ 1). Trong các vấn đề và lĩnh vực tranh chấp tại WTO, thì dệt may là một lĩnh vực xảy ra nhiều tranh  chấp  (đứng  thứ  7  trong  số  các  vấn  đề  tranh chấp) và là mặt hàng có nhiều tranh chấp nhất  (chỉ  đứng  sau mặt  hàng  thép  và  các  sản phẩm nông nghiệp). Tính đến ngày 30/12/2008, đã có 19 vụ  tranh chấp  liên quan đến hàng dệt may (xem bảng 1).

Các tranh chấp về dệt may  trong WTO xảy ra nhiều nhất là giữa nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển (10 vụ), tiếp đến là giữa các nước đang phát  triển với nhau  (6 vụ) và cuối cùng là giữa các nước phát triển (3 vụ). Trong đó, Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất (7 vụ) và Ấn Độ là nước đi khởi kiện nhiều nhất (6 vụ) (xem biểu đồ 2). Bên  cạnh  đó,  các  tranh  chấp  về  hàng  dệt may chủ yếu diễn ra đối với các sản phẩm như: dệt may và các sản phẩm trang trí trên quần áo (5  vụ),  vải  cotton  (5  vụ),  dệt may  và  các  sản phẩm  dệt  (4  vụ).  Ngoài  ra,  còn  có một  số  vụ liên quan đến các  sản phẩm cụ  thể như: áo  sơ mi, áo khoác  len, chăn, ga  trải giường, đồ đi ở chân (tất), đồ lót, sợi cotton trải…

Tiếp tục đọc

TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN?

NGUYỄN THÀNH HƯNG (Tổng hợp)

Dịch vụ, từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến các dịch vụ tài chính ngân hàng, đã và đang trở thành ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới. Dịch vụ không chỉ tạo công ăn việc làm và thu nhập tại nhiều quốc gia mà còn đóng vai trò là đầu vào (input) quan trọng để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác (ví dụ: dịch vụ viễn thông). Do vậy một ngành dịch vụ hiệu quả cao là rất cần thiết cho tổng thể nền kinh tế. Và chính vì vậy, những thoả thuận về mở cửa thị trường dịch vụ có vai trò quyết định sự thành bại của các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu hiện nay.

Mở cửa thị trường dịch vụ sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nền kinh tế, bao gồm cả các nước đang phát triển, với điều kiện được thực hiện một cách thận trọng. Tuy nhiên mở cửa thị trường dịch vụ là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Trong bất cứ cuộc đàm phán nào về thương mại dịch vụ đều đặt ra một câu hỏi hóc búa rằng liệu những người cung cấp dịch vụ (các y tá, luật sư hoặc kỹ sư bảo trì máy tính…) có thể tới quốc gia khác để hành nghề hay không.

Các vòng đàm phán thương mại toàn cầu trước đây chỉ đạt được kết quả khiêm tốn trong mở cửa thị trường dịch vụ. Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ đã tạo ra một xung lực riêng biệt cho việc mở cửa thị trường dịch vụ. Các dịch vụ trực tuyến (online services) (ví dụ: các trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại, qua e-mail) không nhất thiết phải được thiết lập ở trong cùng một quốc gia, thậm chí là cùng một châu lục. Các thị trường dịch vụ được mở cửa thông qua các hiệp định song phương và khu vực, thông qua các chương trình cải cách từ bên trong từng quốc gia.

Hiện tại các cuộc đàm phán tự do hoá thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Chương trình nghị sự Đôha vì sự phát triển (DDA) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo cơ hội cho tất cả các nước ở những trình độ phát triển khác nhau đánh giá lại toàn bộ quá trình phát triển dịch vụ và thực thi mở cửa mạnh mẽ hơn nữa thị trường dịch vụ.

Ai hưởng lợi từ việc tự do hoá thương mại dịch vụ?

Những năm gần đây tỷ trọng dịch vụ trong nền kinh tế thế giới tăng đáng kể, và hiện nay dịch vụ chiếm khoảng 70% tổng giá trị sản xuất của các nước phát triển OECD. Ngành dịch vụ cũng ngày càng có vai trò quan trọng tại các nước có thu nhập trung bình và thấp, thay thế dần nông nghiệp và công nghiệp.

Tiếp tục đọc

VIỆT NAM CẢM NHẬN MẶT TRÁI CỦA THƯƠNG MẠI TỰ DO

image TRẦN LÊ ANH

Với việc thực thi Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế của Việt Nam giờ đã hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu. Thương mại hàng hoá chiếm hơn 150% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2008, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tăng hơn ba lần, đạt gần 63 tỉ USD trong năm 2008. Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy xuất khẩu của Việt Nam xuống dưới 57 tỉ USD trong năm ngoái, nhưng nó được dự báo là sẽ phục hồi trở lại trong năm nay khi nhu cầu ở Mỹ và các thị trường xuất khẩu quan trọng khác tăng lên.

Mặc dù vậy, điều này không làm giảm bớt những lo ngại về thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam, khi mà con số này đã lên đến bằng 12,8% GDP trong năm 2008. Thâm hụt thương mại đều đặn không hẳn là tiêu cực, đặc biệt là khi nó đưa đến việc nhập khẩu máy móc và công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng, trường hợp của Việt Nam là có vấn đề với những lý do sau:

Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn nguyên liệu và phụ tùng để phục vụ cho guồng máy xuất khẩu, đặc biệt là cho các ngành công nghiệp may mặc và giày dép. Điều này chứng tỏ Việt Nam thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ cần thiết để thu lợi ích kinh tế lớn hơn từ xuất khẩu và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá. Sự lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đầu vào cũng làm cho kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương bởi những thay đổi từ thị trường bên ngoài, bao gồm cả sự biến đổi nhanh chóng của giá cả hàng nguyên liệu.

Thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam với Trung Quốc kể từ năm 2001 là một nguyên nhân đặc biệt đáng quan tâm. Trong năm 2009, thâm hụt với Trung Quốc lớn hơn 11 tỷ USD, chiếm hơn 91% tổng thâm hụt thương mại của Việt Nam.
Thách thức từ hàng nhập khẩu Trung Quốc, vốn đã đe dọa sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước, có thể gia tăng khi Việt Nam tham gia vào tự do hóa thương mại hơn nữa thông qua Khu vực Thương mại Tự do Asean-Trung Quốc – điều này sẽ cho phép một tỷ lệ lớn hơn của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nhập khẩu từ năm 2015.

Tiếp tục đọc

VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

PHẠM GIA KHIÊM – Chủ tịch Ủy ban quốc gia Hợp tác kinh tế quốc tế

Việt Nam sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Phó Thủ tướng, Chủ tịch UBQG-HTKTQT Phạm Gia Khiêm Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11-1-2007 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Những thành tựu đạt được trong hai năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan và xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trên thế giới hiện nay.

Trên tinh thần chủ động hội nhập, cùng với việc tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc,… thực hiện các thỏa thuận song phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản, tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế liên khu vực ASEM, APEC, Việt Nam đã thật sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 5-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T.Ư về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”. Theo đó, Chính phủ, các bộ, ngànhvà địa phương cũng đã ban hành các Chương trình hành động theo các định hướng lớn của Ðảng.

Ðể thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập.
Mặc dù thời gian hai năm chưa đủ để có thể đánh giá toàn diện những tác động kinh tế – xã hội của việc gia nhập WTO, nhưng chúng ta cũng có thể thấy một số kết quả tích cực như sau:

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: