KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho compensation liability of the stateBỘ TƯ PHÁP

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan nghiên cứu tiến hành nhiều hoạt động để tiếp cận với pháp luật nước ngoài về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN), trong đó, đã sưu tầm và dịch ra tiếng Việt Luật của khoảng 30 quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN, tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học về kinh nghiệm pháp luật của nước ngoài có sự tham gia của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước.

Trên cơ sở kết quả các công việc đã được tiến hành như nêu trên, Ban soạn thảo Dự án Luật TNBTCNN (sửa đổi) xin báo cáo về một số nội dung cơ bản của pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN để phục vụ cho việc soạn thảo Dự án Luật này.

1. Về nguồn của pháp luật về TNBTCNN

Về vấn đề này, giữa các nước có sự khác biệt rõ ràng, trong đó, đa số các nước có đạo luật riêng điều chỉnh TNBTCNN và ngược lại, ở một số ít các nước, pháp luật về TNBTCNN lại tản mát, không có tính hệ thống, không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt.

1.1. Một số nước có Luật điều chỉnh riêng TNBTCNN

Ở Châu Mĩ và Caribe, Canada và Hoa Kỳ là những quốc gia ở Bắc Mĩ có luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN. Canada có luật về TNBTCNN từ rất sớm – Luật về Trách nhiệm Hoàng gia năm 1953 (Crow Liability Act). Đến năm 1985, Luật về Trách nhiệm Hoàng gia được sửa đổi thành Luật Thủ tục và trách nhiệm của Hoàng gia (Crow Liability and Proceedings Act 1985). Trên cơ sở các quy định chung của liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng để áp dụng trong phạm vi bang, như Bang Manibota (Crown proceedings Act 1990), Bang Ontario (Crown proceedings Act 1990 – được sửa đổi các năm 1994, 1997, 2004), Bang Nova Scotia (Crown proceedings Act 1989)… Đối với Hoa Kỳ, TNBTCNN tại Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang ban hành năm 1946 (Federal Tort Claims Act 1946). Ở khu vực Nam Mĩ thì một số quốc gia cũng có ban hành Luật riêng về TNBTCNN, điển hình là Guyana (State liability and proceedings Act 1998). Một số quốc gia ở khu vực Caribe cũng ban hành một luật riêng về TNBTCNN như Jamaica (Crown proceedings Act 1962).

Đọc tiếp

Advertisements

“CONSIDERATION” THEO PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG HOA KỲ

Kết quả hình ảnh cho contract consideration definitionTHS.LS. PHẠM QUANG HUY  – Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

1. Bản chất pháp lí của “consideration”

1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ

Trước khi tìm hiểu “consideration” như là một thành tố của hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ, cần tìm hiểu khái niệm hợp đồng theo quan điểm của các luật gia Hoa Kỳ. Theo đó, nếu “tại Hoa Kỳ, luật hợp đồng là thuật ngữ thường được sử dụng để miêu tả tập hợp các quy định áp dụng việc hình thành, thực thi và kết thúc các thoả thuận được sự nhất trí của các bên tư nhân([1]) thì luật sư Hoa Kỳ Steven.H. Gifis định nghĩa ngắn gọn hợp đồng (contract) là “một lời hứa có quy định biện pháp khắc phục (remedy); hoặc thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật công nhận; một giao dịch bao gồm 2 hay nhiều cá nhân có quyền đối ứng yêu cầu bên còn lại thực hiện lời hứa”.([2])

Mục §1-201(12) Bộ luật thương mại mẫu hay còn gọi là Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) định nghĩa: “Hợp đồng, để phân biệt với “thoả thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lí mà kết quả từ thoả thuận của các bên được quy định bởi [UCC] cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”.([3]) Nói chung, pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận hợp đồng là một thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau, để làm hoặc không làm một việc cụ thể hợp pháp và có thể thực hiện.([4]) Kết quả thoả thuận là nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại toà án.

Gordon W. Brown và Paul A. Sukys chỉ ra sáu (06) thành tố của hợp đồng gồm có: 1) Đề nghị (giao kết hợp đồng); 2) Chấp thuận (đề nghị giao kết hợp đồng); 3) Đồng thuận; 4) Năng lực; 5) Consideration và 6) Tính hợp pháp.([5])

Về quyền tự do hợp đồng, J. Peter Byrne nhìn nhận là “quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lí của nền kinh tế thị trường”([6]) và “luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lí khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó”.([7]) Dễ hiểu hơn nữa, luật gia Hoa Kỳ J. Peter Byrne nhận định “Luật hợp đồng đề cập tất cả các khía cạnh của việc hứa hẹn, giữ lời và không giữ lời”.([8]) Theo các luật gia Hoa Kỳ, hợp đồng và việc giữ lời hứa không có nhiều sự phân biệt.

Đọc tiếp

LÃI SUẤT THEO ĐIỀU 468 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015: ĐỐI TƯỢNG CHỊU SỰ ĐIỀU CHỈNH?

Kết quả hình ảnh cho interest rateTHS.LS. LÊ VĂN SUA

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực từ thi hành từ ngày 01/01/2017, có một số quy định thay đổi rất đáng chú ý so với Bộ luật Dân sự năm 2005 về bốn loại lãi suất, đó là lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả nợ gốc, lãi suất chậm trả nợ lãi và lãi suất chậm trả khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468[1] BLDS năm 2015 về lãi suất, mức lãi suất vay tiền cũng theo thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 20%/năm (nếu thỏa thuận không rõ thì sẽ là 10%/năm). Như vậy, từ năm 2017, trần lãi suất cho vay được nới thêm tới 6,5% (từ 13,5% lên 20%/năm). Tuy nhiên, vẫn chưa rõ, các tổ chức tín dụng (TCTD) thì có được cho vay vượt mức lãi suất 20%/năm hay không với quy định mở rộng “trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

Như vậy, các ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ chịu sự điều chỉnh của BLDS năm 2015 hay Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010?

Có thể thấy, hợp đồng vay tài sản nói chung, hợp đồng tín dụng nói riêng là một loại giao dịch dân sự. Do đó, việc điều chỉnh quan hệ này phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các nguyên tắc về giới hạn thực hiện quyền dân sự được quy định trong BLDS. Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là một trong những điển hình của việc cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn thực hiện quyền dân sự, theo đó các bên trong hợp đồng vay có thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn luật định. Việc quy định trần lãi suất giúp Nhà nước có thể điều tiết thị trường vay trong trường hợp cần có sự ổn định của kinh tế – xã hội, định hướng chuẩn mực ứng xử trong các quan hệ cho vay, thực hiện chính sách cấm hoặc hạn chế việc cho vay nặng lãi. Nhưng để bảo đảm không biến lãi suất trần trở thành công cụ pháp lý để hành chính hóa quan hệ dân sự, bảo đảm tính linh hoạt phù hợp với các quan hệ vay tài sản đa dạng, có thể được sửa đổi, bổ sung kịp thời để đáp ứng yêu cầu của những biến động về kinh tế – xã hội.

Đọc tiếp

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG BIỆN PHÁP BẢO LÃNH TỪ NHỮNG NGUYÊN LÝ TRÁI QUYỀN

Kết quả hình ảnh cho bank guarantees THS. PHẠM VĂN ĐÀM – Văn phòng Công chứng Đống Đa

Trái quyền còn gọi là quyền đối nhân, là quyền cho phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác – gọi là người thụ trái, thực hiện một việc . Trong ngôn ngữ thông dụng, trái quyền còn được gọi là quyền đòi nợ. Điều đó có nghĩa rằng, để quan hệ trái quyền vận hành hoàn hảo, nhất thiết phải có sự hợp tác của cả trái chủ và thụ trái, chứ một mình trái chủ thực hiện thì khó đạt hiệu quả. Về mặt cấu trúc kỹ thuật, trái quyền được hình thành từ ba yếu tố:  Trái chủ (chủ thể có), người thụ trái (chủ thể nợ) và đối tượng. Cũng như đối với vật quyền, trong khoa học pháp lý, có nhiều cách phân loại trái quyền. Với cách phổ biến nhất, người ta chia các trái quyền thành hai nhóm: (i) Trái quyền có đối tượng là làm hoặc không làm một việc và (ii) Trái quyền có đối tượng là chuyển giao một vật quyền.

Trái quyền có đối tượng làm một việc là một quan hệ nghĩa vụ trong đó người thụ trái cam kết thực hiện một công việc vì lợi ích của trái chủ, ví dụ: Người chủ ga-ra cam kết sửa chữa hoàn chỉnh một chiếc ô tô; kiến trúc sư cam kết hoàn thành đồ án xây dựng một căn nhà… Trái quyền có đối tượng không làm một việc là loại quan hệ nghĩa vụ trong đó, người thụ trái cam kết giữ thái độ thụ động về một phương diện nào đó, vì lợi ích của trái chủ. Chẳng hạn: Người bán một sản nghiệp thương mại cam kết không mở một cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề trong khu vực lân cận trong một khoảng thời gian nào đó để tránh không là đối thủ cạnh tranh của người mua sản nghiệp…

Trái quyền có đối tượng là chuyển giao một vật quyền là một quan hệ nghĩa vụ trong đó thụ trái cam kết trao cho trái chủ một vật quyền vốn thuộc về mình, đặc biệt là quyền sở hữu đối với một tài sản. Ví dụ, trong một vụ mua bán vật cùng loại với một số lượng nào đó, người mua muốn nhận được tài sản, thì cần có sự hợp tác của người bán, thể hiện qua việc người bán tiến hành cá thể hoá đối tượng mua bán bằng cách tách đối tượng này ra khỏi khối các vật cùng loại, rồi đóng gói để sẵn sàng giao cho người mua.

Về chế độ pháp lý, trái quyền không phải là quan hệ pháp lý giữa chủ thể và vật, mà là quan hệ pháp lý giữa các chủ thể. Các quy tắc chi phối quan hệ ấy đặc trưng bằng việc chỉ định hành vi ứng xử trong giao tiếp giữa hai bên. Để quan hệ trái quyền vận hành suôn sẻ, sự hợp tác tích cực của trái chủ và người thụ trái là điều kiện cần thiết. Quá trình diễn tiến quan hệ trái quyền có thể được mô tả như sau: Người có trái quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ; người thụ trái thực hiện và người có trái quyền tiếp nhận việc thực hiện.

Đọc tiếp

LÃI SUẤT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ KIẾN NGHỊ

Kết quả hình ảnh cho loan contract PHẠM THỊ HỒNG ĐÀO

Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/0/1/2017 để thay thế cho Bộ luật dân sự năm 2005. So với trước đây, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 có rất nhiều nội dung mới, trong đó có thể kể đến một trong những quy định hết sức quan trọng liên quan đến vấn đề lãi suất trong hợp đồng cho vay, bao gồm các điều 357, 466, 467, 468, 469, 470 của Bộ luật này.

Trước đây, tại Điều 476 BLDS năm 2005 quy định các bên trong hợp đồng cho vay có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 150%  của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng và trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Nay, BLDS năm 2015 quy định hạn mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận đã được hạ xuống, đồng thời pháp luật đã mở rộng quyền thỏa thuận cho các bên trong trường hợp hợp đồng cho vay có tính lãi nhưng không xác định lãi cụ thể. Điều 468 của Bộ luật này quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Đọc tiếp

QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Kết quả hình ảnh cho MortgageTS. PHẠM PHƯƠNG NAM – Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Với những sửa đổi, bổ sung cơ bản, Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT sẽ góp phần tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn đăng ký thế chấp (ĐKTC) QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện thủ tục đăng ký, qua đó góp phần thúc đẩy nhanh quá trình giải ngân của tổ chức tín dụng cũng như cơ hội tiếp cận vốn vay của người dân.

Ngày 23/6/2016, Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT với 3 chương, 40 điều hướng dẫn về thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục ĐKTC QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/8/2016. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và bãi bỏ Thông tư liên tịch số của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại khoản 2 Điều 61 của Nghị định số quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

Thông tư áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cá nhân, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ĐKTC QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; cơ quan có thẩm quyền ĐKTC QSDĐ, tài sản gắn liền với đất; tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc đăng ký thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Thông tư cũng đã đưa ra một số quy định như: Tài sản gắn liền với đất gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng; tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai gồm nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng khác hình thành trong tương lai đang trong quá trình đầu tư xây dựng, chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng; rừng sản xuất là rừng trồng hình thành trong tương lai; cây lâu năm hình thành trong tương lai; ĐKTC tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là việc cơ quan có thẩm quyền đăng ký ghi nhận các thông tin về thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai vào sổ địa chính hoặc sổ ĐKTC tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai và Đơn yêu cầu ĐKTC; chuyển tiếp ĐKTC quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở là việc cơ quan có thẩm quyền xác nhận chuyển tiếp ĐKTC vào sổ địa chính, GCN QSDĐ và đơn yêu cầu chuyển tiếp ĐKTC trong các trường hợp đã ĐKTC quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở có yêu cầu chuyển tiếp sang ĐKTC nhà ở hình thành trong tương lai hoặc sang ĐKTC nhà ở mà đến thời điểm chuyển tiếp các bên chưa xoá ĐKTC quyền tài sản đó.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG: VAI TRÒ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ NỀN KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho creditors' rights ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước

Các bất cập của hệ thống pháp luật và các vướng mắc nảy sinh trong việc thi hành các quy định pháp luật làm cho cơ chế bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD hoạt động kém hiệu quả…

Trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung và hệ thống pháp luật về ngân hàng nói riêng của Việt Nam đã và đang được xây dựng, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Hệ thống pháp luật ngân hàng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hoạt động ngân hàng và đã góp phần tích cực làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn thành vai trò là trung gian tài chính, huy động, cung cấp vốn và các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển năng động của nền kinh tế và quá trình hội nhập cũng làm cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong thời gian vừa qua, mặc dù được sửa đổi, bổ sung thường xuyên, nhưng hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng (TCTD). Các bất cập của hệ thống pháp luật và các vướng mắc nảy sinh trong việc thi hành các quy định pháp luật làm cho cơ chế bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD hoạt động kém hiệu quả, hệ thống cưỡng chế thi hành các thỏa thuận, hợp đồng không được xây dựng, vận hành có hiệu quả, chưa là chỗ dựa tin cậy cho các bên liên quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới [1], thời gian bình quân để giải quyết tranh chấp tại Việt Nam theo con đường Tòa án là 400 ngày, với chi phí 29% giá trị khoản nợ và Chỉ số Chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18. Đồng thời, số lượng vụ việc thi hành án dân sự liên quan tín dụng ngân hàng còn tồn đọng chưa được thi hành 2016 là 15.949 việc với giá tiền tồn đọng, chưa được thi hành là 58.997 tỷ đồng [2].

Thực tế này cũng tạo điều kiện cho kỷ luật hợp đồng không được các bên liên quan tuân thủ, các quyền hợp pháp của chủ nợ (bao gồm cả các TCTD) không được bảo đảm, dẫn đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn và các ngân hàng vẫn phải cho vay chủ yếu dựa nhiều vào tài sản bảo đảm. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nợ xấu của hệ thống ngân hàng còn ở mức cao đe dọa sự ổn định, an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD. Do vậy, để xây dựng và thực thi có hiệu quả hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD, việc tăng cường nhận thức về vai trò của hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ của các bên liên quan đặc biệt là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật là rất cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được đề cập vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD đối với doanh nghiệp và nền kinh tế và các yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hiệu quả.

Đọc tiếp

KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM

Kết quả hình ảnh cho integrationTHS. PHẠM THANH NGỌC – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước

1. Anh

Luật Ngân hàng Anh (Banking Act 2009, s255.4.f. iv) cho phép một bên thực hiện quyền được quy định trong văn bản thỏa thuận về biện pháp bảo đảm mà đã thống nhất việc cần hoặc không cần tới phán quyết của tòa án. Như vậy, ngoài việc xử lý tài sản bảo đảm theo phán quyết của tòa án, các bên có thể được trao quyền tự xử lý tài sản bảo đảm mà không cần thực hiện thủ tục khởi kiện ra tòa.

2. Thái Lan

Thái Lan không có quy định đặc thù áp dụng cho xử lý tài sản đảm bảo trong lĩnh vực ngân hàng. Việc xử lý tài sản bảo đảm được áp dụng chung cho mọi chủ thể dân sự.

Trước đây, pháp luật Thái Lan yêu cầu việc xử lý tài sản bảo đảm phải thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/07/2016, sau khi Luật Biện pháp bảo đảm trong Kinh doanh (Business Collateral Act 2015) có hiệu lực thi hành, trong một số trường hợp quy định tại Luật thì chủ nợ có quyền tự xử lý tài sản bảo đảm. Một số điểm chính trong Luật mới Biện pháp bảo đảm trong Kinh doanh như sau:

– Tài sản bảo đảm bao gồm: dự án, khoản phải thu, bất động sản trực tiếp phục vụ phát triển dự án, sáng chế, quyền sở hữu trí tuệ, và các loại tài sản khác theo quy định tại văn bản cấp Bộ.

– Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên vay vẫn có quyền sở hữu tài sản bảo đảm và khai thác tài sản trong suốt quá trình bảo đảm cho khoản vay. (Trước đây, pháp luật không cho phép bên vay được giữ quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm là động sản trong suốt thời gian vay).

Đọc tiếp

QUYỀN XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM: NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VỀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Hình ảnh có liên quanAGRIBANK

Thế chấp tài sản là việc bên bảo đảm dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho một nghĩa vụ dân sự. Khi nghĩa vụ dân sự được đảm bảo không thực hiện theo cam kết, thì tài sản bảo đảm được xử lý để thực hiện nghĩa vụ. 

Trong hoạt động tín dụng, thế chấp tài sản được xem là biện pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, đây là nguồn thu thứ hai để có thể thu một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi của khoản nợ.

Trong thực tế, khi phát sinh nợ xấu phần lớn khách hàng vay khó khăn về tài chính, thậm chí ngừng hoạt động, giải thể, phá sản nên việc xử lý tài sản bảo đảm có tính quyết định trong việc thu hồi để giảm tỷ lệ nợ xấu cho mỗi TCTD nói riêng, nền kinh tế nói chung.

Để xử lý tài sản có hiệu quả, vấn đề quyền xử lý tài sản của TCTD – bên nhận bảo đảm là một trong những yếu tố có tính quyết định. Thực tế hiện nay quyền xử lý tài sản bảo đảm bảo của TCTD bị hạn chế, thậm chí bị vi phạm dẫn đến việc xử lý tài sản gặp nhiều khó khăn. Quyền xử lý tài sản của TCTD không được đảm bảo, không được bảo vệ theo những nguyên tắc của Bộ luật dân sự.  

Qua thực tế xử lý tài sản bảo đảm, bài viết sẽ nêu một số hạn chế về quyền xử lý tài sản phát sinh tại Agribank, nguyên nhân và kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện đầy đủ quyền xử tài sản của các TCTD.

1. Những hạn chế, khó khăn khi thực hiện quyền xử lý tài sản

Một là: Khó khăn trong việc thực hiện quyền thu giữ tài sản

Theo quy định pháp luật, TCTD – người nhận bảo đảm là người xử lý tài sản được quyền thu giữ tài sản để xử lý tài sản bảo đảm. Theo điều 63 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Điều 9 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT- BTP-BTNMT-NHNN ngày 06 tháng 6 năm 2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản có quy định: Người giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản, hết thời hạn theo thông báo bên giữ tài sản không giao tài sản người xử lý tài sản có quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Người xử lý tài sản có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã và Cơ quan công an áp dụng các biện pháp để thực hiện quyền thu giữ.

Đọc tiếp

THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho JAPAN CIVIL CODETS. NGUYỄN LAN HƯƠNG, KHOA LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bảo lãnh bằng tài sản là hình thức áp dụng phổ biến ở Nhật Bản trong quan hệ tín dụng bên cạnh bảo lãnh bằng uy tín dễ dàng thực hiện. Trong bảo lãnh bằng tài sản, người bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện cam kết bảo lãnh khi người được bảo lãnh là con nợ không hoàn trả được khoản vay.

Bộ Luật dân sự Nhật Bản quy định nghĩa vụ duy trì bảo đảm tại Điều 504. Theo đó, để bảo đảm thu hồi khoản nợ, các ngân hàng phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Các biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh được thực hiện trong hoạt động cho vay của các ngân hàng cũng như các giao dịch dân sự, thương mại khác.

Với lịch sử lâu đời của ngành kinh doanh ngân hàng và bề dày lịch sử tồn tại của Bộ Luật dân sự, các quy định về biện pháp bảo đảm có những đặc thù riêng và đặc biệt được áp dụng linh hoạt trong hoạt động cho vay của các ngân hàng và nhiều thỏa thuận đã được án lệ công nhận. 

Bài viết đề cập đến một số điểm đặc thù trong quy định và áp dụng biện pháp bảo đảm theo Bộ Luật dân sự Nhật Bản.

1. Quyền bảo đảm

Bộ Luật dân sự Nhật Bản quy định về quyền bảo đảm: quyền cầm cố, quyền thế chấp và bảo lãnh. Về cơ bản, quyền cầm cố được sử dụng bảo đảm trái quyền, con nợ hoặc người thứ 3 thiết lập quyền cầm cố giao tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản cho người nhận cầm cố chiếm hữu, khi con nợ không trả được nợ, người nhận cầm cố có quyền phát mại tài sản cầm cố. Còn quyền thế chấp được gọi là quyền được thanh toán trái quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác khi con nợ thiết lập quyền thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ đi vay. Đây là các vật quyền bảo đảm thực hiện hợp đồng, cầm cố có điều kiện chuyển giao quyền chiếm hữu.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: