XÁC ĐỊNH NỘI DUNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ QUỐC TẾ BỞI TÒA ÁN

Kết quả hình ảnh cho RESOLVING INTERNATIONAL CIVIL DISPUTES BY COURTS ĐỖ MINH TUẤN

Việc xác định nội dung luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp dân sự quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với tòa án. Cho đến nay trên thế giới tồn tại ba học thuyết chủ yếu về xác định nội dung của pháp luật nước ngoài. Học thuyết chứng cứ được áp dụng ở Anh, Australia và nhiều nước thuộc khối thịnh vượng chung. Học thuyết pháp luật được áp dụng ở các nước thuộc hệ thống pháp luật dân sự như Đức, Pháp, Ý, Nhật Bản. Học thuyết Hoa Kỳ được áp dụng ở các tòa án liên bang Hoa Kỳ và các tòa án ở nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ. Trong khi đó, vấn đề này chưa được định hình rõ ràng trong luật thực định và thực tiễn tòa án ở Việt Nam. Vì vậy bài viết dưới đây nghiên cứu ba học thuyết về xác định nội dung luật nước ngoài và thực tiễn vấn đề này tại Việt Nam.

1. Các học thuyết xác định nội dung luật nước ngoài trên thế giới:

a. Học thuyết chứng cứ (fact doctrine)[2]

Trong thời kỳ Trung cổ (Middle Ages), nước Anh là nhà nước trung ương tập quyền, với hệ thống tư pháp tập trung có sự tham gia xét xử của bồi thẩm đoàn. Bồi thẩm đoàn được coi là tập hợp những người làm chứng. Bản án được đưa ra trên cơ sở sự hiểu biết về sự thật của vụ việc của bồi thẩm đoàn. Hội thẩm không thể biết được sự kiện xảy ra ngoài cộng đồng của họ. Vì vậy, tòa án không có thẩm quyền xét xử đối với vụ việc xảy ra một phần hoặc toàn bộ ở nước ngoài.[3] Án lệ được phát triển trong xã hội phong kiến Anh thiếu vắng những qui phạm điều chỉnh các hoạt động của thương nhân. Do đó, để giải quyết các tranh chấp thương mại, tòa án đặc thù ở Anh (không phải là tòa án common law[4]) phải áp dụng một hệ thống pháp luật không quen thuộc, đó chính là luật của thương nhân. Trong thế kỷ thứ 14, ở Anh đã xuất hiện tòa án hàng hải áp dụng pháp luật của các quốc gia, pháp luật về hàng hải và pháp luật của thương nhân có nguồn gốc từ bên ngoài, để chuyên giải quyết các tranh chấp về hàng hải. Đến thế kỷ 16, sự phát triển mạnh mẽ của tòa án hàng hải đã có tác động đến vị thế của tòa án common law. Điều này đỏi hỏi phải mở rộng thẩm quyền của tòa án common law. Bước đầu tiên của sự mở rộng thẩm quyền là thay đổi bồi thẩm đoàn từ chức năng người làm chứng sang chức năng người xét xử. Và như vậy thẩm quyền của tòa án common law được mở rộng đến việc xét xử các vụ việc vốn chỉ thuộc thẩm quyền của tòa án hàng hải. Tòa án common law thống nhất áp dụng luật của thương nhân để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, luật thương nhân không quen thuộc với tòa án. Do đó, tòa án coi luật của thương nhân là chứng cứ, các đương sự phải nêu ra và chứng minh về nội dung của luật của thương nhân.

Continue reading

Advertisements

THANH LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐẠO LUẬT NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2006

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNTrường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không phải là vấn đề mới trong luật dân sự Pháp cũng như luật dân sự Việt Nam hay hầu hết các luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất hiện tương đối sớm trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Khái niệm này xuất hiện cũng lâu đời như khái niệm về nghĩa vụ dân sự[1]. Nhưng đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp[2] đã có rất nhiều thay đổi về hình thức lẫn nội dung các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà rõ ràng nhất là về mặt hình thức. Sự thay đổi này có rất nhiều điểm mới, tiến bộ. Tìm hiểu và so sánh để tìm ra những điểm tương đồng để có thể giải thích và vận dụng cho các vấn đề tương tự của luật Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề về thanh lý thế chấp theo đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp.

1. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đối với các biện pháp bảo đảm đối vật nói chung theo quy định của pháp luật dân sự Pháp

Trước khi đề cập trực tiếp đến các quy định của luật dân sự Pháp về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, thiết nghĩ nên đề cập qua về tập hợp các phương thức xử lý tài sản bản đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của pháp luật Việt Nam được xây dựng như là một phần nhỏ trong cơ cấu chung về nghĩa vụ dân sự của BLDS. Theo quy định hiện nay chúng ta có tổng cộng 7 biện pháp bảo đảm là bảo lãnh; thế chấp; cầm cố; ký cược; ký quỹ; đặt cọc; tín chấp.

Nhà làm luật Việt Nam không có ý định phân chia một cách chi tiết các biện pháp bảo đảm nói trên theo từng nhóm riêng biệt. Tuy vậy, thực tiễn công tác nghiên cứu vẫn có xu hướng sắp xếp các biện pháp bảo đảm nói trên thành hai phân nhóm trên cơ sở sự khác biệt về các quyền của bên nhận bảo đảm nói chung. Hai phân nhóm được chấp nhận trong phân chia đó là các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Sự phân chia này hoàn toàn giống với cách phân chia trong luật của Pháp. Trong đó, các biện pháp bảo đảm đối vật tạo ra cho chủ nợ nhận bảo đảm quyền đối vật trên tài sản bảo đảm, bao gồm quyền được nắm giữ (nắm giữ vật chất hoặc nắm giữ tượng trưng) đối với tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán theo thứ tự được xác định khi tài sản bảo đảm được bán. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh) chỉ tạo ra cho chủ nợ quyền đối nhân, quyền được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với một người khác, không phải là người mắc nợ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC LA HỦ Ở LAI CHÂU

TS. NGUYỄN VĂN TRỌNG – Ủy ban Dân tộc

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc La Hủ ở nước ta có dân số 9.651 người (thuộc nhóm những dân tộc rất ít người ở nước ta), cư trú tại 16/63 tỉnh, thành phố. Đại đa số người La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (9.600 người, chiếm 99,47 % tổng số người La Hủ tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Thái Nguyên (20 người), các tỉnh còn lại có không nhiều hơn 10 người. 

Do địa bàn cư trú chủ yếu ở những khu vực núi non hiểm trở, cuộc sống dựa vào thiên nhiên, sản xuất mang tính tự cung tự cấp, hạn chế giao lưu hàng hóa với bên ngoài… nên đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tỷ lệ đói nghèo lên tới 85 – 90% (theo tiêu chí cũ).

Kết quả khảo sát tại 20 hộ gia đình ở xã Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu cho thấy phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc La Hủ nói riêng hiện nay tuy ít nhiều có sự thay đổi nhưng do được thụ hưởng những chính sách bảo tồn và phát triển nên đã có tác động nhất định đến kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số nói riêng và của cả nước nói chung. Cụ thể:

Về kinh tế, trước kia, người La Hủ sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy và săn bắn, hái lượm với công cụ lao động là con dao, chiếc cuốc. Vài chục năm trở lại đây, người La Hủ đã dùng trâu cày kéo và phát triển cây lúa nước, lúa nương làm nguồn lương thực chính. Đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia,… bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn.

Continue reading

THU HỒI TÀI SẢN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VÀ YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN NƯỚC TA

Kết quả hình ảnh cho Stolen Asset Recovery ĐINH TRƯƠNG ANH PHƯƠNG – Đại học Luật TP.HCM

Để phòng, chống tội phạm, ngoài việc ban hành các hình phạt có tính răn đe đối tượng có ý định phạm tội, pháp luật các quốc gia còn quy định một biện pháp khác nữa là thu hồi tài sản do hành vi phạm tội mà có. Hiện nay, pháp luật quốc tế tồn tại hai biện pháp chủ yếu về việc thu hồi tài sản, đó là thu hồi tài sản hình sự và thu hồi tài sản dân sự [1] (hay còn gọi là thu hồi tài sản không dựa vào bản án hình sự). Bài viết đề cập đến việc thu hồi tài sản dân sự trong pháp luật quốc tế và pháp luật nước ta.

1. Khái niệm và đặc điểm về thu hồi tài sản dân sự

Theo chúng tôi, thu hồi tài sản dân sự (THTSDS) có cách hiểu phổ biến là một quá trình tố tụng dân sự (TTDS) đặc biệt của cơ quan nhà nước nhằm thu hồi những tài sản được tạo nên hoặc có liên quan đến hành vi của tội phạm, ví dụ như trong bản án United States v. James Daniel Good Real Property (1993)[2].

Là quá trình TTDS đặc biệt của cơ quan nhà nước, nên các vấn đề như chứng cứ, trình tự tố tụng, các biện pháp bảo đảm, nghĩa vụ chứng minh… đều phải tuân theo trình tự pháp luật nhất định. Ví dụ về nghĩa vụ chứng minh trong THTSDS thì nghiêng về phía bị đơn hay nói cách khác, bị đơn có nghĩa vụ chứng minh tài sản của mình là không có nguồn gốc hoặc có liên quan đối với hành vi phạm tội (HVPT)[3], hay như các quyết định về thu hồi tài sản (THTS), đóng băng tài sản, giải thích nguồn gốc tài sản đều phải tuân theo trình tự. Và vì là TTDS nên Nhà nước có thể sẽ đóng vai trò là nguyên đơn trong vụ kiện dân sự (như trong bản án United States V. Ursery, 518 U.S. 267 (1996)[4]hay đóng vai trò là bị đơn (như trong bản án Degen V. United States, 517 U.S. 820 (1996)[5].

Continue reading

QUỐC TỊCH VIỆT NAM CỦA TRẺ EM – MỘT VẤN ĐỀ CẦN QUY ĐỊNH RÕ HƠN TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUỐC TỊCH

Kết quả hình ảnh cho visa from vietnamHOÀNG LAN

Quốc tịch là phạm trù chính trị – pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững giữa Nhà nước và công dân, là dấu hiệu để xác định và phân biệt công dân của nước này với nước khác, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán”. Ở Việt Nam, quyền này đã được Hiến định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013). Luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, tiếp đó là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (thay thế Luật quốc tịch năm 1988) và hiện tại là Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (thay thế Luật quốc tịch năm 1998) . Tại các Luật này đều ghi nhận: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch.

Đối với trẻ em, quyền được khai sinh và có quốc tịch là một quyền cơ bản đã được Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2016 ghi nhận: Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Với những trẻ em khi sinh ra, vì một lý do nào đó mà quyền có quốc tịch này có thể bị ảnh hưởng (do cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều là người không có quốc tịch; trẻ bị bỏ rơi…) thì pháp luật về quốc tịch cũng đã dự liệu các trường hợp này để  đảm bảo mọi trẻ em khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch.

Ngay từ Luật đầu tiên về quốc tịch (Luật quốc tịch năm 1988) đã dành 01 điều quy định về quốc tịch trẻ em (Điều 6): (1) Trẻ em có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (2) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (3) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, nếu sinh trên lãnh thổ Việt Nam hoặc khi sinh ra cha mẹ đều có nơi thường trú ở Việt Nam, thì có quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp cha mẹ nhất trí lựa chọn quốc tịch khác. Trong trường hợp trẻ em đó sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam và khi sinh cha mẹ đều không có nơi thường trú ở Việt Nam, thì quốc tịch theo sự lựa chọn của cha mẹ; (4) Trẻ em sinh trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch và có nơi thường trú ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam; (5) Trẻ em tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.

Continue reading

CÔNG CHỨNG VIÊN VỚI VAI TRÒ LÀ BỔ TRỢ VIÊN TƯ PHÁP

Kết quả hình ảnh cho NOTARY  MICHEL CORDIER – Chủ tịch danh dự Hội đồng công chứng tối cao Pháp
 
Trong hệ thống luật Anh-Mỹ, khi soạn thảo hợp đồng, các bên gặp nhau, có sự trợ giúp của người tư vấn riêng của mình và khi có tranh chấp hoặc khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên yêu cầu sự can thiệp của thẩm phán. Còn hệ thống luật Châu Âu lục địa chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật thành văn nằm trong các bộ luật. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng và Nhà nước, với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và an toàn pháp lý của các quan hệ hợp đồng, uỷ quyền cho một nhà chuyên nghiệp do mình bổ nhiệm và giám sát để thực hiện chức năng đó.

Chúng ta đều biết rằng nhà chuyên nghiệp đó chính là công chứng viên. Với sự can thiệp của công chứng viên, thủ tục tư pháp có một ngoại lệ vì nhiệm vụ của công chứng viên là phải rất thận trọng trước khi thực hiện hợp đồng để đảm bảo tính hợp pháp của hợp đồng, sự công bằng trong hợp đồng và cả việc bảo quản hợp đồng. Như vậy, công chứng viên giữ vai trò chủ chốt để đảm bảo trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ trợ tư pháp, một vai trò mà tôi gọi là thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp.

Tôi cho rằng chính vai trò mang tính chất phòng ngừa này của công chứng viên là một điểm thuận lợi trong hệ thống luật thành văn so với hệ thống luật Anh-Mỹ. Trong hệ thống Anh-Mỹ, ngoài điều bà SPINOZI đã nói rằng dịch vụ công chứng là một loại dịch vụ pháp lý hai tốc độ, còn có một điểm đặc trưng nữa là trong một môi trường hoàn toàn tự do và khắc nghiệt, với nhu cầu tiên quyết là tìm kiếm lợi nhuận, dịch vụ pháp lý thực sự là một loại hàng hoá chịu sự điều tiết của quy luật kinh tế thị trường, của cơ chế cạnh tranh nên phải được đem ra trao đổi, mua bán, phải nâng cao thị phần và trên cơ sở đó, mặt hàng này phải được quảng cáo và không tuân thủ một biểu giá nào cả. Nhưng cùng với dòng chảy của thời gian, người ta phát hiện ra rằng dịch vụ pháp lý đi theo quy luật này đã nhanh chóng kéo theo những hậu quả tai hại. Việc chạy theo các yêu cầu về bồi thường thiệt hại đã làm cho hệ thống dịch vụ này thực sự trở thành một cỗ máy làm phát sinh tranh chấp, tiêu tốn một khoản chi phí rất lớn trong nền kinh tế của một đất nước, ngoài ra còn phải tính đến chi phí bảo hiểm phát sinh từ việc chạy theo các khoản tiền bồi thường thiệt hại.

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN “VẬT QUYỀN” TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Kết quả hình ảnh cho  THS. TRƯƠNG THỊ DIỆU THÚY – Vụ Pháp luật, Văn phòng Quốc hội

Dự thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) sửa đổi do Chính phủ trình Quốc hội tháng 10/2014 có một điểm sửa đổi lớn xin ý kiến Quốc hội, đó là: Phần thứ hai của BLDS năm 2005 – “Tài sản và quyền sở hữu” được đổi tên gọi mới là “Vật quyền”; Phần thứ ba của BLDS 2005 – “Nghĩa vụ và hợp đồng” được đổi tên gọi mới là “Trái quyền”. Thông qua quá trình Quốc hội thảo luận, lấy ý kiến Nhân dân từ tháng 01 – 4/2015, Phần thứ hai của Dự thảo BLDS sửa đổi đã có một bước chỉnh lý, trở thành “Quyền sở hữu và các vật quyền khác”; Phần thứ ba đã được thay đổi, từ “Trái quyền” của bản Dự thảo Chính phủ trình trở về tên gọi của BLDS năm 2005 là “Nghĩa vụ và hợp đồng”.

Sự thay đổi này tiếp tục được duy trì cho đến bản Dự thảo BLDS sửa đổi tiếp thu ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 5/2015. Sau kỳ họp này, trên cơ sở tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, tiếp tục lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học, Dự thảo BLDS sửa đổi chính thức trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 10/2015 đã không còn cụm từ “vật quyền”, mà tên gọi của Phần thứ hai đã từ “Quyền sở hữu và các vật quyền khác” trở thành “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản”.

Sự thay đổi này là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu, thảo luận, lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp, sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá, góp ý của các đại biểu Quốc hội, nhiều chuyên gia, nhà khoa học. Chúng tôi cho rằng, vấn đề của BLDS năm 2015 không phải là có sử dụng thuật ngữ vật quyền hay không, mà là tinh thần của vật quyền, với ý nghĩa là một quyền năng rất mạnh của chủ thể đối với tài sản, đó là quyền có thể được thực hiện trực tiếp và ngay tức khắc trên một vật mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác, có được thể hiện trong BLDS năm 2015 hay không và ở mức độ nào?

1. Những lý do của việc không sử dụng thuật ngữ “vật quyền” trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Trong quá trình xây dựng BLDS, nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội, ý kiến của Nhân dân, các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, các quy định về vật quyền, quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt… của Dự thảo BLDS sửa đổi rất khó hiểu mà nội hàm không khác nhiều so với các quy định hiện hành. Do đó, không nên sử dụng các thuật ngữ mới nếu những thuật ngữ trong BLDS hiện hành đã trở nên thông dụng, không có gì vướng mắc.

Continue reading

GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 01/2017/GĐ-TANDTC NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (TRÍCH DẪN)

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Trong thời gian chuẩn bị và tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2017 (từ ngày 12 đến ngày 14-01-2017) các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đề nghị Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề vướng mắc về nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao:

VỀ DÂN SỰ

1. Trường hợp Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp dân sự mà các bên viện dẫn các tập quán khác nhau thì giải quyết như thế nào?

Khi xem xét, quyết định áp dụng tập quán thì Tòa án căn cứ Điều 3, Điều 5 và các quy định khác của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tùy từng trường hợp cụ thể giải quyết như sau:

Tập quán có giá trị áp dụng là tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp có nhiều tập quán thì áp dụng tập quán do các bên thỏa thuận; nếu các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

2. Tòa án giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Trường hợp này, Tòa án có phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu không?

Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Continue reading

RỦI RO PHÁP LÝ KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẠI TÒA ÁN – GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

Kết quả hình ảnh cho contract disputesPGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. Dẫn nhập

Khi quan sát mô hình và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy hai điểm khá bất thường: quy mô kinh doanh nhỏ[1]và “văn hóa bia rượu”, chi phí tiếp khách trong kinh doanh khá lớn [2]. Hai đặc điểm này, theo chúng tôi, là hệ quả của việc rủi ro cao trong thực thi hợp đồng, khiến cho doanh nhân Việt gặp khó khăn khi liên kết hợp tác làm ăn quy mô lớn và cần nhiều thời gian, chi phí và các cách thức khác nhau để thẩm định đối tác.

Chúng tôi sẽ bước đầu nhận diện các rủi ro pháp lý trong thực thi hợp đồng; giải mã những tập quán kinh doanh bất thường; đưa ra các khuyến nghị chính sách loại bỏ, giảm bớt các rủi ro này, hướng tới môi trường kinh doanh ít rủi ro, cắt giảm chi phí kinh doanh không cần thiết, nâng cao độ hấp dẫn, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Hiện tượng bội tín trong kinh doanh không chỉ liên quan đến bản thân luật hợp đồng, mà còn liên quan đến một loạt các chế định như: thời hiệu khởi kiện, phạm vi bồi thường, tố tụng dân sự, thiếu chế tài hình sự cần thiết, thi hành án, phí luật sư… Bài viết này cũng trực tiếp góp ý vào Dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm cung cấp giải pháp tổng thể, góp phần khắc phục tận gốc những rủi ro trong thực thi hợp đồng.

2. Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Khi phát sinh tranh chấp, nếu các bên không thương lượng, hòa giải thành công và không có cơ hội giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại, các bên phải đưa vụ việc ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nhưng ở đó, có nhiều rủi ro pháp lý sẽ bủa vây nguyên đơn.

2.1. Rủi ro bị từ chối thụ lý đơn kiện vì lý do hết thời hiệu khởi kiện

Điều 427 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Không ít rủi ro pháp lý đã diễn ra trong thực tế liên quan đến điều khoản này, bởi các nguyên nhân sau:

Continue reading

PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả hình ảnh cho commercial entity IN LAW HOÀNG ĐỨC CƯỜNG -  Viện Kiểm sát quân sự Khu vực 43

1. Lược sử pháp nhân thương mại ở Việt Nam

Các văn bản quy phạm pháp luật trước đây của Nhà nước ta đã mô tả các dấu hiệu của pháp nhân như tại Thông tư số 525 ngày 26//3/1975 của Trọng tài Kinh tế, Nghị định số 17 ngày 16/01/1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 01/7/1991. Điều 84 BLDS năm 2005 mô tả dấu hiệu (điều kiện) một tổ chức được công nhận là pháp nhân: “1. Được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Điều 74, BLDS năm 2016 mô tả về “pháp nhân”: “1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. 2…”. Qua các văn bản pháp luật đã ban hành, có thể đưa ra khái niệm pháp nhân như sau: Pháp nhân là tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Ở nước ta, có các loại pháp nhân sau: (i) Các pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang; (ii) các pháp nhân là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội nghề nghiệp; (iii) Các pháp nhân là các tổ chức kinh tế; (iv) các pháp nhân là các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện (Điều 85, BLDS năm 2005). Như vậy, cho đến trước khi BLDS năm 2015 ban hành, pháp luật Việt Nam vẫn chưa hề có một văn bản quy phạm pháp luật nào đề cập đến “Pháp nhân thương mại”.

BLDS năm 2015 quy định về “Pháp nhân thương mại” tại Điều 75 như sau: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. 3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1288/HTQTCT-HT NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 2016 CỦA CỤC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC–BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH MỘT SỐ BIỂU MẪU HỘ TỊCH BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 15/2015/TT-BTP

Kính gửi: Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian qua, cơ quan đăng ký hộ tịch trên cả nước đã triển khai thực hiện Luật hộ tịch, các văn bản quy định chi tiết thi hành, sử dụng các biểu mẫu hộ tịch ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp  (Giấy tờ hộ tịch, phụ lục, Sổ hộ tịch, Tờ khai – Civillawinfor) đáp ứng được yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân. Tuy nhiên, theo phản ánh của địa phương, vẫn có một số biểu mẫu hộ tịch còn bị lỗi, chưa bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Trên cơ sở tổng hợp ý kiến phản ánh của địa phương và thực hiện rà soát thực tế, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thấy các biểu mẫu hộ tịch chủ yếu là bị lỗi về kỹ thuật trình bày, sai sót trong phần chú thích, hướng dẫn. Được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã chỉnh sửa các biểu mẫu này (có các biểu mẫu đã chỉnh sửa kèm theo) và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thông báo để các Sở Tư pháp thông tin tiếp cho các cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương biết, tải về để sử dụng, bảo đảm đồng bộ, thống nhất./.

DANH MỤC

CÁC BIỂU MẪU HỘ TỊCH BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 15/2015/TT-BTP ĐƯỢC CHỈNH LÝ, BỔ SUNG
(Ban hành kèm theo Công văn số 1288/HTQTCT-HT ngày 15/9/2016)

Continue reading

%d bloggers like this: