Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ KIM THOA – Khoa Luật kinh tế, Đại học Ngân hàng TP.HCM

1. Việc ghi nhận nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng trong pháp luật một số nước theo hệ thống dân luật và thông luật

Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng (TCHĐNH)[1] đã manh nha hình thành cách đây khoảng 4000 năm[2] và được ghi nhận lần đầu tiên trong các quy định của ngân hàng Banco Ambrosiano Milano năm 1593.[3] Ngày nay, nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật của nhiều nước theo hệ thống dân luật như Pháp, Đức, Thụy Sĩ… và hệ thống thông luật như Anh, Mỹ Australia… nhưng bản chất của nghĩa vụ, các trường hợp ngoại lệ, hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ bảo mật này lại khác nhau ở từng nước và theo thời gian.

1.1. Bản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng

Bản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của TCHĐNH được thể hiện qua một số nội dung dưới đây:

a. Bảo mật thông tin khách hàng – một bộ phận của quyền riêng tư Continue reading

Advertisements

ĐƠN KÊU CỨU CỦA BA HUÂN TỪ GÓC NHÌN ĐA CHIỀU

 NGUYỄN THÙY DƯƠNG & NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO – Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự

Gần đây, các phương tiện truyền thông liên tiếp đưa tin về sự kiện chấm dứt hợp tác giữa Công ty Ba Huân và Quỹ đầu tư VinaCapital. Tuy nhiên, bài viết này không bàn về khía cạnh pháp lý của tranh chấp hợp đồng giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital mà thay vào đó sẽ phân tích lý do và những hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu trong vụ việc Công ty Ba Huân nói riêng và những trường hợp doanh nghiệp gửi đơn kêu cứu nói chung. Cần lưu ý rằng các dữ kiện được tiết lộ qua thông tin báo chí về tranh chấp giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital hiện nay chưa đủ để khẳng định ai đúng ai sai trong vụ việc này.

Căn nguyên của việc gửi đơn kêu cứu

Việc Công ty Ba Huân gửi đơn kêu cứu tới Thủ tướng Chính phủ khiến các tác giả nhớ tới một thuật ngữ vui là “đơn hươu cao cổ”. Thuật ngữ này được sử dụng bởi một số cán bộ trong cơ quan Nhà nước để chỉ những đơn kêu cứu với danh sách kính gửi đôi khi dài đến cả một trang giấy, kính gửi từ Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ trưởng, từ Quốc hội đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Xét về khía cạnh pháp lý, “đơn kêu cứu” của doanh nghiệp không thuộc bất kỳ một biện pháp giải quyết tranh chấp hay vướng mắc chính thống nào. Nếu là tranh chấp thương mại như vụ việc của Công ty Ba Huân thì thông thường con đường giải quyết tranh chấp sẽ là thương lượng. Nếu thương lượng không thành công thì các bên sẽ lựa chọn trọng tài hoặc khởi kiện ra toà (tuỳ thoả thuận) và khi đó sẽ có “đơn khởi kiện”. Nếu là vướng mắc giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước thì khi đó doanh nghiệp có thể lựa chọn khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành chính, tương ứng sẽ có “đơn khiếu nại”, “đơn tố cáo” hay “đơn khởi kiện”. Lưu ý rằng những dạng thức đơn này đều được quy định trong hệ thống pháp luật với các quy định cụ thể từ nội dung đơn, chủ thể tiếp nhận đơn đến quy trình thụ lý và giải quyết… Trái ngược với các hình thức đơn chính thống, “đơn kêu cứu” không được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng lại đang xuất hiện từng ngày, từng giờ và trong mọi lĩnh vực. Điều này là do đâu?.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA ĐĂNG KÝ VÀ CUNG CẤP THÔNG TIN TÀI SẢN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

 TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

1. Vài nét khái quát về pháp luật đăng ký tài sản

Theo Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (GDBĐ), hiện có khoảng 64 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động đăng ký tài sản, đăng ký GDBĐ. Trong đó có Hiến pháp, 26 Luật, Bộ luật; 18 Nghị định; 19 Thông tư; 01 Quyết định của Bộ trưởng.

Các quy định về đăng ký do nhiều cơ quan thực hiện với với mục đích khác nhau. Có trường hợp đăng ký với ý nghĩa là đăng ký xác định quyền sở hữu tài sản, sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất (SDĐ) hoặc quyền khác về tài sản, có quy định về đăng ký với ý nghĩa để sử dụng, lưu hành, có những quy định về đăng ký nhằm mục đích để kiểm duyệt, lưu hành (như đối với thuốc thú y, dược, hóa chất…)…

Dù số lượng văn bản không phải là ít nhưng có thể nhận thấy, pháp luật về đăng ký tài sản, đăng ký GDBĐ hiện nay không những chưa đầy đủ (những loại tài sản, quyền tài sản nào bắt buộc phải đăng ký, những trường hợp để bảo đảm đối kháng với người thứ ba, và những tài sản nào thuộc diện đăng ký tự nguyện) mà còn rất tản mạn, được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

– Trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có một số điều quy định về đăng ký tài sản hoặc liên quan đến đăng ký tài sản, ví dụ Điều 106 quy định: quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được đăng ký theo quy định của BLDS và pháp luật về đăng ký tài sản, việc đăng ký tài sản phải được công khai (Quyền khác đối với tài sản có nhiều nội dung được bổ sung, sửa đổi nhưng cho đến nay chưa có văn bản nào quy định về thủ tục đăng ký quyền khác đối với tài sản được thực hiện như thế nào); Điều 133 quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình khi người này dựa vào việc tài sản được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền để tham gia giao dịch; Điều 297, khoản 2 Điều 298 quy định về biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm và thời điểm bắt đầu có hiệu lực đối kháng với người thứ ba là từ thời điểm đăng ký; về biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp (khoản 2 Điều 310, khoản 2 Điều 319), Bộ luật cũng quy định hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ thời điểm đăng ký giao dịch.

Continue reading

CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN HÓA HIỆN NAY TẠI CỘNG HÒA PHÁP

MATTIAS GUYOMAR – Thẩm phán Tòa án Hành chính tối cao, Cộng hòa Pháp[1]

Việc tiếp nối quá trình pháp điển hóa kể từ năm 1989 vừa mang tính khiêm tốn, vừa mang nhiều tham vọng. Khiêm tốn nếu so với công cuộc xây dựng Bộ luật dân sự 1804 ban đầu và các Bộ luật Na-pô-lê-ông khác. Tham vọng, bởi vì công tác pháp điển hóa không đơn giản chỉ là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật theo từng chủ đề hoặc theo từng khoảng thời gian mà còn đòi hỏi phải thống nhất toàn bộ các quy định của từng ngành luật vào một Bộ luật thống nhất, qua đó "làm cho pháp luật được đơn giản và rõ ràng hơn"[2]. Chỉ cần nhìn vào bản danh sách ban hành kèm theo Thông tư ngày 30 tháng 5 năm 1996 về hoạt động pháp điển hóa các văn bản pháp luật[3] là có thể đánh giá được tham vọng đó: danh sách này lấy lại chương trình hoạt động của Uỷ ban pháp điển hóa mới được thông qua vài tháng trước đó, dự kiến soạn thảo trong thời gian 5 năm tổng cộng 25 Bộ luật mới và sửa đổi 18 Bộ luật hiện hành.

Cũng như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự chỉ được xếp vào số các Bộ luật cần được bổ sung thêm quy định mới, nên không có tên trong danh sách đầy tham vọng nói trên. Nhiều Bộ luật khác đã được sửa đổi rất nhiều, trong đó phải kể đến Bộ luật Thương mại. Do đó, vào thời điểm mà chúng ta đang xem xét khả năng “xây dựng lại” Bộ luật dân sự, thiết nghĩ cần rút ra một số kinh nghiệm từ việc thực hiện chương trình pháp điển hóa nói trên.

Công cuộc pháp điển hóa hiện nay là kết quả của sự hợp tác hiệu quả giữa nhiều thiết chế khác nhau. Những Bộ luật được soạn thảo hoặc sửa đổi từ năm 1989 đến nay đều có được nhờ nhiều yếu tố: quyết tâm chính trị của Chính phủ; sự tham gia tích cực của các cơ quan cấp Bộ có liên quan trong việc xây dựng các dự thảo; vai trò quyết định của Uỷ ban pháp điển hóa tối cao và của cá nhân ông Guy Braibant, phó chủ tịch Uỷ ban[4]; sự đóng góp của Tham chính viện[5]; vai trò của các Viện trong Quốc hội, ít nhất là đối với những Bộ luật được trình Quốc hội thông qua[6].

Continue reading

PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VỀ THAY ĐỔI GIỚI TÍNH – GỢI MỞ PHƯƠNG HƯỚNG HÀI HÒA VỚI QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM, NGÔ THANH HƯƠNG & NGUYỄN QUANG DUY – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hoàn cảnh hình thành Luật đặc lệ về áp dụng giới tính đối với người rối loạn giới tính Lần đầu tiên Nhật Bản công bố  chứng rối loạn giới tính (RLGT), và sự tồn tại của những người RLGT vào ngày 2 tháng 7 năm 1996. Giới y học Nhật Bản đã lên tiếng yêu cầu chính phủ Nhật Bản phải xây dựng chính sách mang tính hệ thống để minh bạch hoá tiêu chuẩn trong việc chuẩn đoán và điều trị cho người RLGT. Sau đó,  Nhật Bản đã xây dựng văn bản hướng dẫn về chuẩn đoán và điều trị chứng rối loạn giới tính (28/5/1997), và ca phẫu thuật chuyển đổi giới tính đầu tiên được thực hiện vào 16/10/1998. Như vậy, thông qua việc tiếp cận y học những người RLGT ở Nhật Bản ít nhiều có thể giảm được gánh nặng tâm lý được sống với giới tính mình mong muốn1[1; 1251]. Tuy nhiên, việc không công nhận thay đổi giới tính được ghi trong hộ tịch dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề trong đời sống xã hội không được giải quyết. Một người RLGT có thể được điều trị thông qua việc tiêm hooc-môn, phẫu thuật chuyển đổi giới tính và những người này sẽ có được bề ngoài diện mạo giống với giới tính mình mong muốn. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ là giải pháp mang tính tâm lý giúp người bệnh thoát khỏi những dày vò nhưng không thể giúp những người RLGT có được cuộc sống bình ổn trong xã hội cùng với giới tính mình mong muốn. Khi mà giới tính bề ngoài khác với giới tính trong hộ tịch thì sẽ phát sinh rất nhiều mâu thuẫn trong đời sống hàng ngày. Nhiều người vì e ngại phải đưa ra bảo hiểm y tế mà từ chối việc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, một số  người khác thì không thể có được công việc ổn định, bị mất việc, bị huỷ bỏ quyết định tuyển dụng chỉ vì không đưa ra được bản chính hộ tịch. Hay có những trường hợp học sinh, sinh viên vì không chịu được sự phân hoá giới tính rõ ràng như việc dựa trên nam, hay nữ quyết định đồng phục mà cự tuyệt việc đến trường lớp.

Continue reading

CHẾ ĐỊNH CHIẾM HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN HUY TỬ QUÂN

Mở đầu

Chiếm hữu là một chế định quan trọng trong Luật Dân sự, được pháp điển trong nhiều bộ luật dân sự các quốc gia trên thế giới, mà sớm nhất phải kể đến Luật La Mã. Chế định chiếm hữu trong luật La Mã đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với pháp luật Dân sự của rất nhiều quốc gia theo truyền thống Dân luật.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của trường phái pháp luật Sô viết (vốn được xây nhựng trên những nền tảng khác hẳn với luật La Mã) nên BLDS Việt Nam 2005 quy định chiếm hữu là một quyền nằm trong nội dung của quyền sở hữu, bảo vệ chiếm hữu theo cách thức bảo vệ quyền sở hữu.

BLDS 2015 với sự hỗ trợ học thuật từ chính phủ Nhật Bản[1] đã sửa đổi chế định chiếm hữu theo hướng gần gũi hơn với quan điểm của nền luật học Tây phương.

Bài viết này nhằm cố gắng (1) trình bày sơ lược về chế định chiếm hữu trong pháp luật thế giới và (2) đặc điểm của chế định chiếm hữu trong BLDS 2015, từ đó (3) bình luận về chế định này.

I. Quan niệm về chiếm hữu trong pháp luật dân sự thế giới

1. Chiếm hữu phân biệt với sở hữu

Ngay từ những buổi đầu của nền pháp luật, các luật gia La Mã đã phân biệt sở hữu và chiếm hữu. Trong khi sở hữu là quan hệ pháp lý giữa chủ sở hữu và vật, thì chiếm hữu có thể hiểu là “sự thống trị thực tế đối với vật”[2].

Continue reading

BẢO ĐẢM SỰ THUẬN LỢI, CÔNG BẰNG VÀ HỢP LÝ TRONG TỰ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM KHI VI PHẠM NGHĨA VỤ TRẢ NỢ THEO CÁC HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

PGS.TS. LÊ THỊ THU THỦY Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 đã được ban hành và sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017. BLDS 2015 được coi là có nhiều điểm mới trong đó có nhiều nội dung liên quan đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Các Điều từ 303 đến 308 của BLDS 2015 quy định về xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, để các quy định này đi vào cuộc sống cần có những hướng dẫn cụ thể nhằm bảo đảm sự thuận lợi, công bằng và hợp lý trong xử lý tài sản bảo đảm nói chung và trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng nói riêng.

1. Thực trạng các quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm trước khi Bộ Luật dân sự 2015 có hiệu lực

Hiện nay, các qui định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm được thể hiện trong BLDS năm 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMTNHNN ngày 06/06/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm. Về mặt lý thuyết, các văn bản qui phạm pháp luật đã xây dựng được hai phương thức xử lý tài sản bảo đảm bao gồm phương thức xử lý tài sản bảo đảm bằng con đường tòa án và phương thức tự xử lý tài sản bảo đảm thông qua bán đấu giá, bán tài sản bảo đảm không qua đấu giá và nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm và các phương thức xử lý khác.

Continue reading

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

PGS.TS. HOÀNG THẾ LIÊN – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp

1. Bộ luật dân sự ra đời để phục vụ cho những mục tiêu gì?

Sau 10 năm thi hành, BLDS 2005 đã bộc lộ nhiều bất cập. Những bất cập này đã được nêu cụ thể trong Tờ trình Quốc hội. Bên cạnh đó nhu cầu phát triển đất nước đòi hỏi có một khung khổ pháp lý dân sự mới và điều này được thể hiện ở hai điểm:

Thứ nhất, Chính phủ rất kỳ vọng BLDS mới sẽ là BLDS của nền kinh tế thị trường, bởi vì trong 30 năm qua đã có 3 Bộ luật Dân sự (BLDS 1995, 2005 và 2015), tức là cứ sau 10 năm là có 1 BLDS mới. Về mặt pháp điển hóa pháp luật, đây là một lỗ hổng pháp luật do sự thay đổi quá nhanh. Điều này cho thấy rằng quá trình xây dựng 3 bộ luật thực ra là Việt Nam đoạn tuyệt dần với cơ chế bao cấp và từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đến BLDS 2015, Việt Nam đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường.

Ngược lại lịch sử, năm 1981, Ban soạn thảo BLDS 1995 được thành lập, nhưng đến 1991 mới có dự thảo đầu tiên của BLDS. Trong 10 năm liền, từ năm 1981 đến 1991, chưa có dự thảo nào. Thời kỳ này, mọi nghiên cứu, trao đổi về việc xây dựng bộ luật chủ yếu xoay quanh việc xác định quan hệ dân sự là quan hệ gì. Trong cơ chế bao cấp, có thể nói chỉ ở “chợ đen” mới xuất hiện quan hệ dân sự còn tất cả đều theo cơ chế tem phiếu. Trong khi đó, cơ chế tem phiếu không phải là quan hệ dân sự. Do vậy, việc xây dựng BLDS không thể rõ ràng là nhằm để điều chỉnh quan hệ cụ thể nào. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới và công nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước và bắt đầu công nhận một số hình thức sở hữu. Do đó đã hình thành lên nền kinh tế hàng hóa và là mầm mống của quan hệ dân sự. Đến 1991, dự thảo đầu tiên ra đời. Do sự nghiệp đổi mới của Việt Nam mới chỉ bắt đầu nên ngoài việc pháp điển những thuật ngữ, các giao dịch dân sự cơ bản thì yếu tố bao cấp vẫn chi phối và sự can thiệp của Nhà nước vẫn thể hiện rõ nét trong nhiều mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: