Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TÁCH BẠCH QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ QUAN HỆ CỔ ĐÔNG – BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG, QUYỀN TỰ DO KINH DOANH, QUYỀN TÀI SẢN

TS. VÕ TRÍ HẢO – Trọng tài viên VIAC, Trưởng Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM

Các cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu công ty sẽ là cộng đồng cùng sở hữu thì toàn bộ khối “sản nghiệp” theo mô hình hình thức sở hữu chung theo phần. Điều này là không thể phủ nhận, bởi trong điều lệ, sổ cổ đông của mỗi công ty đều ghi rất rõ về tỷ lệ vốn góp, tỷ lệ cổ phần và nguyên tắc định biểu quyết quan hệ sở hữu chung theo phần này.

1. Nghênh đón mô hình kinh doanh mới bằng tinh thần “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu” và học thuyết

Cách đây khoảng 5 thế kỷ, cư dân thành Venice đã nghĩ ra mô hình công ty cổ phần từ thế kỷ 14 và chính sáng kiến này đã biến Venice trở thành thương cảng giàu có nhất thế giới trong suốt hai trăm năm sau đó [1]. Cốt lõi của mô hình công ty cổ phần, TNHH, hợp danh… là sự tưởng tượng, sáng tạo ra khái niệm “pháp nhân” và gán cho tổ chức này quyền năng như thể một con người độc lập. Chính sự “độc lập” về tài sản và trách nhiệm này đã tạo ra một bức tường ngăn bảo vệ khối tài sản tiêu dùng của doanh nhân khỏi sự lây lan rủi ro từ hoạt động kinh doanh của thương nhân; mọi rủi ro kinh doanh chỉ giới hạn lại trong phạm phần vốn đã chuyển vào công ty. Công ty đóng vai trò như “hộp cát”, như “lưới an toàn” cho các thương nhân đầu tư vào các dự án mạo hiểm bên cạnh vô vàn các lợi thế khác của mô hình này mà tác giả không có dịp phân tích ở đây.

Cách đây 2 thế kỷ, người phương Đông vẫn chìm đắm mô hình “cá nhân” kinh doanh trộn lẫn với mô hình hukou kiểu Lã Bất Vi – mô hình mà rủi ro kinh doanh có thể phải bán vợ, đợ con và đi đến “khánh kiệt”. Sự chậm trễ đổi mới thể chế này góp phần biến Trung Quốc rộng lớn thời nhà Thanh lại bị khuất phục bởi sức mạnh kinh tế quân sự của những tiểu quốc (xét về phương diện dân số, diện tích) từ phương tây; Nga Sa Hoàng thua trận trước Nhật Bản vào 1903.

Continue reading

Advertisements

THÔNG TƯ SỐ 07/2019/TT-BTP NGÀY 25/11/2019 HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn một số quy định về đăng ký, từ chối đăng ký, biểu mẫu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, pháp nhân có yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

2. Hộ gia đình là người sử dụng đất có yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai, Bộ luật dân sự.

3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi chung là Văn phòng đăng ký đất đai).

4. Chủ thể khác có yêu cầu đăng ký hoặc có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật thi hành án dân sự, Luật phá sản hoặc luật khác có liên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

VỤ PHÁP CHẾ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. V thế chp đ bo đm nghĩa vụ ca bên th ba

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba là một hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của loại hợp đồng này trong thực tiễn còn có nhiều ý kiến khác nhau và có thể để lại hệ quả xấu cho ngân hàng thương mại. Nội dung này trước đây khi Bộ luật Dân sự 2015 chưa ban hành, có hiệu lực, trên cơ sở thực tiễn một số bản án của TAND các cấp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[1], Bộ Tư pháp[2] và Hiệp hội ngân hàng[3] cũng đã có ý kiến chính thức, phản ánh gửi đến TAND tối cao. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện tổng kết quy định của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận được phản ánh của một số TCTD [4]liên quan đến vấn đề này.

Theo đó, quy định về thế chấp tài sản tại Điều 317 Bộ luật dân sự 2015, Ðiều 342 Bộ luật Dân sự 2005 đã xác định bên thế chấp có quyền dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không hạn chế đó là nghĩa vụ của mình hay của người khác. Đồng thời, theo quy định tại Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015, bên bảo lãnh có thể sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình giải quyết tranh chấp của ngành Tòa án chưa có quan điểm thống nhất chấp nhận giao dịch bảo đảm dưới hình thức cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác (bên thứ ba); không chấp nhận giao dịch bảo đảm thế chấp, cầm cố mà coi là bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh. Thực tế thời gian qua một số Tòa án địa phương [5]đã có quan điểm Hợp đồng thế chấp/cầm cố tài sản của bên thứ ba là không đúng quy định của Bộ luật dân sự và tuyên hợp đồng này vô hiệu. Việc tòa án ra quyết định tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp là không phù hợp với các quy định của pháp luật về thế chấp bằng QSDÐ của bên thứ ba và gây nên sự xáo trộn rất lớn trong đời sống xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, đồng thời có thể tạo ra một hoặc nhiều hệ quả pháp lý không mong muốn như sau:

Continue reading

ĐƯA HỘ KINH DOANH VÀO LUẬT SẼ KÉO LÙI LUẬT DOANH NGHIỆP

TS. LÊ DUY BÌNH

Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những luật trong lĩnh vực kinh tế có chất lượng tốt nhất của Việt Nam kể từ khi bắt đầu Đổi mới.

Tuy nhiên, ý tưởng đưa hộ kinh doanh vào Luật Doanh nghiệp trong lần sửa đổi này, nếu thành hiện thực, sẽ làm sứt mẻ hình ảnh đẹp đẽ của Luật Doanh nghiệp.

Phá vỡ cấu trúc, tư tưởng và logic của Luật Doanh nghiệp

Đưa hộ kinh doanh thành một loại hình doanh nghiệp vào Luật Doanh nghiệp và vỡ cấu trúc và logic của luật, khiến bộ luật rất tiến bộ này trở thành một luật chứa đựng đầy mâu thuẫn về phương diện khoa học pháp lý và về thực tiễn.

Điều đó có thể đe dọa tới sự phát triển bền vững của khu vực hộ kinh doanh cá thể và không thể hiện được một triết lý và một phương pháp luận đầy đủ, tổng thể nhằm hỗ trợ sự phát triển của khu vực này. Thậm chí, ngáng đường cho những cải cách của khu vực hộ kinh doanh bởi những luật và quy định khác trong thời gian tới do đặt vị thế của hộ kinh doanh vào “một sự đã rồi”.

Luật Doanh nghiệp đã quy định đầy đủ các hình thức pháp lý như pháp nhân kinh doanh với các hình thức như cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, và thậm chí rất mở với các hình thức như doanh nghiệp TNHH một thành viên.

Luật Doanh nghiệp cũng quy định các hình thức cá nhân kinh doanh như doanh nghiệp tư nhân (đáng nhẽ ra phải được gọi là doanh nghiệp cá thể hoặc doanh nghiệp một chủ). Nếu đưa hộ kinh doanh vào luật, câu hỏi đặt ra là bản chất về tư cách pháp lý của hộ kinh doanh sẽ là gì. Continue reading

KINH NGHIỆM NHẬT BẢN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

LS. EDAGAWA MITSUSHI – Chuyên gia JICA

Continue reading

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM – NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

THS. NGUYỄN VĂN TIẾN –  Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm thì các vụ án tranh chấp về bảo hiểm ngày càng tăng về số lượng và mức độ phức tạp đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc giải quyết các tranh chấp này. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án cho thấy pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nói chung cũng như quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm nói riêng cũng còn một số hạn chế, bất cập. Trong phạm vi bài tham luận này, tôi sẽ đưa ra một số vướng mắc điển hình trong quá trình giải quyết các tranh chấp về bảo hiểm tại Tòa án và nêu một vài kiến nghị để trao đổi tại buổi Hội thảo này như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Để bảo đảm yêu cầu như đã đề cập ở trên, đối với pháp luật về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm hiện hành phải xem xét một số quy định cụ thể mà trong đó cần có sự quan tâm đặc biệt đến những quy định tồn tại mang tính bản chất, thể hiện đặc thù của hoạt động thương mại đặc biệt này. Những quy định này mang tính cá biệt hoá nội dung pháp luật kinh doanh bảo hiểm so với nội dung pháp luật về các hoạt động thương mại khác. Nguyên tắc bình đẳng-tự do-tự nguyện cam kết, thoả thuận được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự thì nội dung của hợp đồng là hoàn toàn do các bên quyết định và phụ thuộc vào ý chí của các bên, các quy định về nội dung hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự chỉ mang tính chất khuyến nghị các bên trong quan hệ hợp đồng thoả thuận để hạn chế được phần nào những tranh chấp, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong khi đó, nội dung của hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 13 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) có quy định: …Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm…” là bắt buộc, không thể thiếu, buộc các phải ghi nhận trong hợp đồng.

Continue reading

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH TẠI CỘNG HÒA PHÁP

 CLÉMENTINE BLANCThẩm phán – Vụ Dân sự và Ấn tín, Bộ Tư pháp, Cộng hòa Pháp

Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp quy định chung về nội dung của các loại giấy tờ hộ tịch và quy định chi tiết về nội dung của một số giấy tờ hộ tịch như giấy khai sinh, giấy tờ công nhận quan hệ pháp luật, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai tử.

Việc quản lý và trình bày sổ hộ tịch được quy định ở cấp nghị định. Nghị định đầu tiên về hộ tịch ở Pháp được ban hành năm 1962 và đã qua nhiều lần sửa đổi, nhưng các nguyên tắc nền tảng trong lĩnh vực hộ tịch đã được hình thành trong giai đoạn này.

Ngoài ra, còn có một cơ quan chuyên trách về hộ tịch có yếu tố nước ngoài và một văn bản luật về lĩnh vực này.

Ở Pháp còn có một thông tư rất dài quy định về hộ tịch. Trường hợp này rất hiếm gặp vì Bộ Tư pháp thường chỉ ban hành thông tư hướng dẫn thi hành một văn bản luật khi tiến hành cải cách, những thông tư như vậy thường chỉ dài khoảng 20 trang và không phổ biến rộng rãi.

Hộ tịch là một lĩnh vực rất rộng vì nó liên quan đến toàn bộ đời sống của công dân và đòi hỏi phải xem xét toàn bộ các vấn đề chuyên môn kỹ thuật. Vì thế, năm 1955, Pháp đã quyết định soạn thảo một thông tư lớn dành cho các cơ quan tư pháp quản lý lĩnh vực hộ tịch, cụ thể là các Viện Công tố cũng như các cán bộ hộ tịch. Thông tư này được ban hành năm 1999 và chỉ được sửa đổi bổ sung rất ít, lần mới nhất là vào năm 2002. Đây có thể coi là cẩm nang giải đáp mọi thắc mắc cho những người làm trong lĩnh vực hộ tịch, đó là lý do vì sao thông tư này rất đồ sộ và quy định nhiều tình huống đa dạng và cụ thể. Continue reading

BẢN TỔNG HỢP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ MỘT SỐ VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ LĨNH VỰC BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc về lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tại Tòa án và nội dung các bài tham luận tại hội thảo, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (Tòa án nhân dân tối cao) tổng hợp một số nội dung vướng mắc, bất cập như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được hiểu là “các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền hoặc không phải bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra”. Quy định về điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” là quy định bắt buộc phải có trong hợp đồng bảo hiểm (khoản 2 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm) nhưng thực tế còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc, cụ thể như sau:

– Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ đề cập đến khái niệm, nguyên tắc và trường hợp ngoại lệ của điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” mà không quy định giới hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm khi xác định những trường hợp được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm của mình. Điều này có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng quy định về các trường hợp “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” như một trong các công cụ để né tránh nghĩa vụ chi trả khoản tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Luật Kinh doanh bảo hiểm không quy định về hậu quả pháp lý đối với những hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thiếu điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Do Luật này không quy định hậu quả pháp lý nên gây lúng túng cho các chủ thể trong hợp đồng và gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên khi không thoả thuận về điều khoản loại trừ. Thực tế hiện nay tồn tại hai quan điểm khác nhau về việc xác định hậu quả pháp lý khi hợp đồng kinh doanh bảo hiểm thiếu điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: