Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

BỘ LUẬT DÂN SỰ PHÁP TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ

 ANDRÉ CASTALDO – Trưởng khoa đào tạo tiến sỹ, Trường Đại học Panthéon-Assas (Paris 2) Cộng hòa Pháp

Nhiều công trình nghiên cứu lịch sử đã được tiến hành trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 200 năm Bộ luật dân sự, với ý định thay đổi cách nhìn nhận đã tồn tại từ lâu của các nhà sử học và các luật gia đối với tác phẩm này.

I. Sự ra đời của Bộ luật

Bộ luật năm 1804 tiếp nối những tư tưởng của Chế độ Phong kiến (từ tiếng Pháp là: Ancien Régime) như thế nào?

1. Ý tưởng lâu đời về việc thống nhất pháp luật dân sự

Dưới chế độ phong kiến, trở ngại đầu tiên là sự đa dạng của các nguồn luật (tập quán, pháp luật hoàng gia, pháp luật giáo hội, pháp luật La Mã); trở ngại thứ hai là sự phân chia vương quốc thành "xứ áp dụng tập quán" và "xứ áp dụng luật thành văn" là nơi áp dụng luật La Mã. Thống nhất pháp luật không phải là viết lại một cách chính thức các tập quán đang tồn tại, giống như từ cuối thế kỷ 15. ý tưởng này đã tồn tại từ lâu, bởi lẽ Louis 11 đã nghĩ đến việc xây dựng một tập quán chung cho toàn bộ vương quốc. Nhưng ý tưởng này đã không được thực hiện, kể cả dưới nền quân chủ chuyên chế. Nguyên nhân của sự thất bại này, trên thực tế, là do bản chất của chế độ này.

1.1. Những thuận lợi

a) Học thuyết luật

Ngay từ thế kỷ 16, Du Moulin đã quan tâm đến vấn đề này. Sau đó, những học giả khác cũng bắt đầu đề cập đến. Bên cạnh nguyên nhân thông thường do yêu cầu giảm chi phí và thời gian tố tụng, phải nói đến hệ quả của sự tăng trưởng kinh tế vào thế kỷ 16. Ngoài ra, sự gia tăng và sự phức tạp của các tập quán trong lĩnh vực luật tư cũng là một trở ngại đối với việc xây dựng một xã hội hiện đại; những yếu tố này đi ngược lại với những gì đặc trưng cho một Nhà nước quân chủ, đó là sự thống nhất trong hoạt động Điều hành. Đối với một hệ thống quyền lực duy nhất, phải có một hệ thống pháp luật duy nhất tương ứng. Tuy nhiên, các học giả không nhất trí lên án sự đa dạng của vương quốc. Một bộ phận luật gia – như Montesquieu – không cho rằng thống nhất pháp luật là một việc nên làm.

Continue reading

Advertisements

ĐẠO ĐỨC SINH HỌC VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

JERRY SAINTE-ROSE – Công tố viên cao cấp tại Toà Phá án Cộng hòa Pháp, Chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực pháp luật về đạo đức sinh học

I. Giới thiệu về đạo đức sinh học

Đạo đức sinh học là gì?

Bác sỹ chuyên khoa ung thư người Mỹ Von-Pater, người đã đưa ra khái niệm này, định nghĩa rằng đó là sự kết hợp giữa những khám phá sinh học với những giá trị nhân bản. Các nhà nghiên cứu về sự sống và về cơ thể sống thì cho rằng đó là một cách tiếp cận mới trong quá trình đưa ra những quyết định về những vấn đề đạo đức và về việc sử dụng các công nghệ mới có liên quan đến cơ thể sống và đến sức khoẻ của con người.

Trong thực tế, thực tiễn đạo đức sinh học đã xuất hiện trước khi có thuật ngữ để chỉ thực tiễn đó. Vào cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà bác học thuộc mọi quốc gia đã tập hợp lại với nhau, bày tỏ sự lo lắng của họ trước việc sử dụng vũ khí hạt nhân và mong muốn định hướng cho tương lai. Quả bom nguyên tử đầu tiên ném xuống Nakasaki đã là một dấu hiệu của thực tiễn đạo đức sinh học.

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIỚI HẠN TỰ DO HỢP ĐỒNG

THS. NGUYỄN THỊ THU TRANG

I. Quyền con người và giới hạn tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng

Tự do ý chí là nền tảng hình  của hợp đồng. Không có tự do ý chí không thể hình thành quan hệ hợp đồng và ngược lại, ‘tự do ý chí có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm biến các dự định hoặc kế hoạch trở thành hiện thực.’ (Ngô Huy Cương, 2013, tr 25). Tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng là quyền cơ bản của con người nhưng quyền này không phải là quyền tuyệt đối. Bởi vì, để đảm bảo hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, nếu tuyệt đối tự do ý chí sẽ không giải quyết được hài hòa một số giao dịch phát sinh trên thực tế. Vì vậy, ‘hạn chế tự do ý chí cũng có nghĩa tương đối, nhưng là một nguyên tắc được ghi nhận trong quan hệ dân sự’ (Ngô Huy Cương, 2013, tr 27). Do đó, (Nguyễn Trọng Điệp và Cao Thị Hồng Giang, 2016) cho rằng giới hạn của tự do ý chí nói chung và tự do hợp đồng nói riêng có ý nghĩa tích cực nhất định như: (i) Cân bằng lợi ích giữa cá nhân và lợi ích chung của toàn xã hội; (ii) Bảo vệ người yếu thế trong các giao dịch nhất định; (iii) đảm bảo trật tự và có định hướng trong sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội.

Continue reading

TÀI SẢN BẢO ĐẢM CHƯA CHẮC ĐÃ LÀ “ĐẢM BẢO” – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

 TRANG HÀ – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng là hoạt động mang tính rủi ro, ngoài ngành nghề kinh doanh quy định trong Điều lệ được pháp luật cho phép thì hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động huy động và cho vay; hoạt động cho vay luôn tiền ẩn rủi ro, khách hàng vay vốn vì nhiều lý do không trả được nợ (bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi) dẫn đến Ngân hàng phải “gồng mình” vừa bù đắp cho khoản vay mà khách hàng không trả được theo Hợp đồng tín dụng đã ký, vừa phải trả lãi tiền huy động từ tổ chức và người dân dẫn đến hoạt động của Ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Cho vay vừa bảo toàn được nguồn vốn, vừa bảo vệ được nghề nghiệp luôn là yếu tố sống còn không chỉ với ngân hàng mà còn đối với cán bộ tín dụng tại Ngân hàng. Người ta thường nói, nghề tín dụng ngân hàng luôn là nghề khắc nghiệt, ranh giới giữa “anh hùng” và “tội phạm” là rất mong manh. Hiểu nghề, hiểu được những rủi ro trong nghề nghiệp của mình và biết cách vượt qua luôn là điều mà mọi cán bộ tín dụng mong hướng đến.

Có vay thì phải có trả, tuy nhiên, cũng vì nhiều lý do, hoàn cảnh, mà khách hàng vay đã không thể trả được nợ cho Ngân hàng dẫn đến các tranh chấp phát sinh mà không bên nào mong muốn, nhưng khi khách hàng đã không còn khả năng trả nợ thì Ngân hàng biết trông vào gì để thu hồi nợ từ khoản vay của khách hàng, đến đây thì mọi việc thu nợ đều trông chờ vào tài sản bảo đảm của khách hàng, cũng có thể tài sản bảo đảm là của bên thứ ba hoặc của chính khách hàng và chúng ta có thể khẳng định tài sản bảo đảm được coi là cứu tinh duy nhất cho khoản vay có nguy cơ mất vốn của khách hàng tại Ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tài sản bảo đảm đã được thế chấp tại Ngân hàng cũng có thể xử lý được theo đúng quy định, có những trường hợp, có những vụ việc Ngân hàng nhận thế chấp, đã đăng ký giao dịch bảo đảm, người đứng tên trên Giấy nhận quyền sử dụng đất đồng ý giao tài sản cho Ngân hàng để Ngân hàng xử lý phát mại nhưng Ngân hàng vẫn không xử lý được vì tài sản lại liên quan đến một vụ án hình sự hoặc liên quan đến một án dân sự của bên thứ ba nào đó và vì thế đang từ khoản vay có tài sản bảo đảm trở thành khoản vay không “đảm bảo”.

Continue reading

TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

 ĐINH HẢI SƠN – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhưng lại mang nhiều rủi ro, có những rủi ro có thể thấy trước, nhưng cũng có rủi ro tiềm ẩn. Có những rủi ro xuất phát từ mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn, tăng trưởng dư nợ mà những người đứng đầu ngân hàng phải thực hiện để đạt chỉ tiêu kế hoạch được giao nhưng cũng có rủi ro liên quan đến pháp lý mà khi thực hiện ngân hàng không biết, chỉ đến khi vụ việc được cơ quan pháp luật thụ lý, giải quyết ngân hàng mới biết những sai phạm pháp lý xuất phát từ đâu, từ thời điểm nào.

Hàng ngày, hàng giờ những cán bộ tín dụng, những giao dịch viên tại ngân hàng phải thực hiện rất nhiều các giao dịch tiền gửi, giao dịch tiền vay với khách hàng. Có nhiều đối tượng khách hàng và cũng có nhiều loại giao dịch. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin chia sẻ những kinh nghiệm thực tế phát sinh khi ngân hàng thực hiện giao dịch tiền gửi, tiền vay liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.

Tình huống thực tế 1

Bà D là người đại diện theo pháp luật của Công ty X. Do Công ty X mở rộng kinh doanh nên cần vốn huy động từ những người trong công ty, bản thân bà D cũng đóng góp căn nhà thuộc sở hữu của mình (bà D là người duy nhất đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà) thế chấp vào Ngân hàng M để Công ty X vay vốn. Việc vay vốn đối với Công ty X được cán bộ tín dụng thẩm định và nhận thấy không có vấn đề gì bất ổn, tài sản thế chấp là ngôi nhà đứng tên sở hữu là bà D có giá trị và tính thanh khoản rất cao nếu Công ty X không trả được nợ việc xử lý tài sản thế chấp thu hồi vốn vay sẽ thuận lợi vì bà D đã cam kết giao tài sản cho Ngân hàng M xử lý nếu Công ty X không trả được nợ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

 NGUYỄN THỊ LƯƠNG TRÀ

Trong thời gian qua, một số khó khăn, vướng mắc đã phát sinh khi thực hiện các giao dịch liên quan tới tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng như: cơ sở cụ thể để xác định một tài sản là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng; việc xác định tư cách đại diện của một bên vợ, chồng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch có liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng… Điều này khiến cho các bên trong giao dịch có thể gặp rủi ro như hợp đồng, giao dịch bị tuyên vô hiệu hoặc các giao dịch bảo đảm bị tuyên vô hiệu dẫn tới các khoản nợ có bảo đảm thành nợ không có bảo đảm.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về chế độ tài sản vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, qua đó giải quyết được một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số thay đổi cơ bản có tác động tới hoạt động ngân hàng trong quy định về chế độ tài sản vợ chồng tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật (Civillawinfor: Tác giả viết bài này tại thời điểm BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 chưa được ban hành).

1. Về việc công nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, chế độ tài sản vợ chồng thực hiện theo luật định bao gồm việc xác định tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng vợ chồng… Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 công nhận việc vợ chồng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác1.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO VIỆT – PHÁP NĂM 2011 VỀ SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ

Thời gian qua có một số ý kiến băn khoăn về một số nội dung mới trong Bộ luật dân sự năm 2015 chưa được thảo luận một cách thấu đáo. Civillawinfor trân trọng giới thiệu Kỷ yếu Hội thảo Việt – Pháp về “Sửa đổi Bộ luật dân sự”  tại Nhà Pháp luật Việt – Pháp (năm 2011) để các bạn có thêm thông tin.

Trích

Bình luận của Ông Alain LACOUR về Bộ luật dân sự (BLDS) Pháp :

Như Giáo sư GRIMALDI đã nói, BLDS Pháp là một bộ luật thống nhất, do những người trực tiếp thực thi pháp luật là các thẩm phán Tòa phá án biên soạn nhằm 2 mục đích : kế thừa truyền thống pháp luật phong kiến và tiếp thu những thành tựu của Cách mạng Pháp. Do đó, bộ luật này vừa giữ lại những khái niệm và học thuyết của pháp luật La Mã (phần nghĩa vụ và sở hữu), đồng thời thiết lập những quy định nghiêm ngặt để gìn giữ những thành tựu cách mạng (quyền bình đẳng giữa các chủ thể, hạn chế các quy định mang màu sắc phong kiến…). Chẳng hạn, khi hai bên giao kết hợp đồng mà hợp đồng đó không nêu rõ thời hạn thực hiện, mỗi bên hoàn toàn có thể rút lui khỏi hợp đồng vì đó không phải là cam kết vĩnh viễn. Tương tự, các quy định về dịch quyền cũng hết sức nghiêm ngặt, dịch quyền chỉ áp dụng đối với một thửa đất, vì lợi ích của một thửa đất khác chứ không phải của một chủ thể khác. 

BLDS Pháp là bộ luật nền tảng, bộ luật gốc và là bộ luật duy nhất trong số 4 bộ luật lớn của Pháp đã tồn tại qua hơn hai thế kỷ. Khi biên soạn BLDS, có thể cân nhắc giữa 2 phương thức sau đây : hoặc chỉ đề ra những nguyên tắc cơ bản và không đi sâu vào từng chi tiết, tình huống, để có thể thích ứng dễ dàng với những thay đổi trong đời sống xã hội; hoặc dự kiến tối đa các tình huống có thể xảy ra và phương án giải quyết. Dĩ nhiên các tình huống đưa ra phải hết sức cụ thể, tuy nhiên, với phương thức này, các thẩm phán có thể lúng túng trước những tình huống mới nảy sinh.  Vì vậy, chúng tôi nghiêng về phương thức thứ nhất, đó là BLDS nên chỉ đưa ra những nguyên tắc chung, tổng quát làm kim chỉ nam cho các thẩm phán để họ linh hoạt áp dụng vào từng vụ việc cụ thể.

Continue reading

ĐÀM PHÁN VỚI MÃ LỆNH: HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ DIỆU THẢO

Hợp đồng thông minh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, do đó việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hoặc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Xung đột pháp luật – Câu đố chưa có lời giải

Có thể thấy rằng, việc xác định biên giới mạng, phạm vi lãnh thổ quốc gia trên môi trường mạng đang là một câu hỏi hóc búa. Hơn nữa, Hợp đồng thông minh hoạt động thông qua các nút mạng phi tập trung (decentralized node) có thể được phân bổ trên khắp thế giới, do đó, rất khó để xác định luật áp dụng hiện hành và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này cũng làm tăng rủi ro cho các bên khi giải quyết những tranh chấp phái sinh từ hợp đồng thông minh.

Đứng trước vấn đề trên, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế đã đưa ra đề xuất xây dựng một bộ quy tắc riêng để điều chỉnh hợp đồng thông minh. Theo đó, Incochains có thể ra đời, giữ vai trò tương tự như các bản Incotermsđang được sử dụng hiện nay [1].Và trong tương lai không xa, Lex Cryptographia (tương đương với Lex Mercatoria – tập hợp các tập quán thương mại quốc tế dùng giữa các thương nhân) có thể được xây dựng với kỳ vọng là không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh hợp đồng thông minh mà còn có thể điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tự trị phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization- DAO)[2].

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: