Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VỀ THAY ĐỔI GIỚI TÍNH – GỢI MỞ PHƯƠNG HƯỚNG HÀI HÒA VỚI QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM, NGÔ THANH HƯƠNG & NGUYỄN QUANG DUY – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hoàn cảnh hình thành Luật đặc lệ về áp dụng giới tính đối với người rối loạn giới tính Lần đầu tiên Nhật Bản công bố  chứng rối loạn giới tính (RLGT), và sự tồn tại của những người RLGT vào ngày 2 tháng 7 năm 1996. Giới y học Nhật Bản đã lên tiếng yêu cầu chính phủ Nhật Bản phải xây dựng chính sách mang tính hệ thống để minh bạch hoá tiêu chuẩn trong việc chuẩn đoán và điều trị cho người RLGT. Sau đó,  Nhật Bản đã xây dựng văn bản hướng dẫn về chuẩn đoán và điều trị chứng rối loạn giới tính (28/5/1997), và ca phẫu thuật chuyển đổi giới tính đầu tiên được thực hiện vào 16/10/1998. Như vậy, thông qua việc tiếp cận y học những người RLGT ở Nhật Bản ít nhiều có thể giảm được gánh nặng tâm lý được sống với giới tính mình mong muốn1[1; 1251]. Tuy nhiên, việc không công nhận thay đổi giới tính được ghi trong hộ tịch dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề trong đời sống xã hội không được giải quyết. Một người RLGT có thể được điều trị thông qua việc tiêm hooc-môn, phẫu thuật chuyển đổi giới tính và những người này sẽ có được bề ngoài diện mạo giống với giới tính mình mong muốn. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ là giải pháp mang tính tâm lý giúp người bệnh thoát khỏi những dày vò nhưng không thể giúp những người RLGT có được cuộc sống bình ổn trong xã hội cùng với giới tính mình mong muốn. Khi mà giới tính bề ngoài khác với giới tính trong hộ tịch thì sẽ phát sinh rất nhiều mâu thuẫn trong đời sống hàng ngày. Nhiều người vì e ngại phải đưa ra bảo hiểm y tế mà từ chối việc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, một số  người khác thì không thể có được công việc ổn định, bị mất việc, bị huỷ bỏ quyết định tuyển dụng chỉ vì không đưa ra được bản chính hộ tịch. Hay có những trường hợp học sinh, sinh viên vì không chịu được sự phân hoá giới tính rõ ràng như việc dựa trên nam, hay nữ quyết định đồng phục mà cự tuyệt việc đến trường lớp.

Continue reading

Advertisements

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

PGS.TS. HOÀNG THẾ LIÊN – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp

1. Bộ luật dân sự ra đời để phục vụ cho những mục tiêu gì?

Sau 10 năm thi hành, BLDS 2005 đã bộc lộ nhiều bất cập. Những bất cập này đã được nêu cụ thể trong Tờ trình Quốc hội. Bên cạnh đó nhu cầu phát triển đất nước đòi hỏi có một khung khổ pháp lý dân sự mới và điều này được thể hiện ở hai điểm:

Thứ nhất, Chính phủ rất kỳ vọng BLDS mới sẽ là BLDS của nền kinh tế thị trường, bởi vì trong 30 năm qua đã có 3 Bộ luật Dân sự (BLDS 1995, 2005 và 2015), tức là cứ sau 10 năm là có 1 BLDS mới. Về mặt pháp điển hóa pháp luật, đây là một lỗ hổng pháp luật do sự thay đổi quá nhanh. Điều này cho thấy rằng quá trình xây dựng 3 bộ luật thực ra là Việt Nam đoạn tuyệt dần với cơ chế bao cấp và từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đến BLDS 2015, Việt Nam đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường.

Ngược lại lịch sử, năm 1981, Ban soạn thảo BLDS 1995 được thành lập, nhưng đến 1991 mới có dự thảo đầu tiên của BLDS. Trong 10 năm liền, từ năm 1981 đến 1991, chưa có dự thảo nào. Thời kỳ này, mọi nghiên cứu, trao đổi về việc xây dựng bộ luật chủ yếu xoay quanh việc xác định quan hệ dân sự là quan hệ gì. Trong cơ chế bao cấp, có thể nói chỉ ở “chợ đen” mới xuất hiện quan hệ dân sự còn tất cả đều theo cơ chế tem phiếu. Trong khi đó, cơ chế tem phiếu không phải là quan hệ dân sự. Do vậy, việc xây dựng BLDS không thể rõ ràng là nhằm để điều chỉnh quan hệ cụ thể nào. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới và công nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước và bắt đầu công nhận một số hình thức sở hữu. Do đó đã hình thành lên nền kinh tế hàng hóa và là mầm mống của quan hệ dân sự. Đến 1991, dự thảo đầu tiên ra đời. Do sự nghiệp đổi mới của Việt Nam mới chỉ bắt đầu nên ngoài việc pháp điển những thuật ngữ, các giao dịch dân sự cơ bản thì yếu tố bao cấp vẫn chi phối và sự can thiệp của Nhà nước vẫn thể hiện rõ nét trong nhiều mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

Continue reading

ÁN LỆ TRONG DÂN LUẬT PHÁP VÀ HƯỚNG ÁP DỤNG ÁN LỆ Ở VIỆT NAM

TRẦN KIÊN, PHẠM HỒ NAM, NGUYỄN LỮ QUỲNH ANH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Ghi nhận án lệ như một nguồn pháp luật vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại là một nhu cầu thiết yếu, tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình án lệ để áp dụng, cần chú ý một điều rằng giữa mô hình án lệ được lựa chọn và hệ thống pháp luật hiện tại cần tương thích và phù hợp. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay là sự pha trộn của nhiều học thuyết pháp luật của các truyền thống pháp luật lớn trên thế giới mà chủ yếu là truyền thống châu Âu lục địa và truyền thống Xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, dân luật ở Việt Nam hình thành, phát triển đầu tiên dựa trên những học thuyết, quan điểm dân luật Pháp và chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống pháp luật nước này. Trong quá trình pháp điển hóa các đạo luật, Việt Nam đã học hỏi rất nhiều từ người Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực luật tư, không chỉ ở cấu trúc bên trong của hệ thống pháp luật, mà còn ở cả quan niệm về nguồn của tư duy pháp lý, ý thức hệ và tổ chức tư pháp.

Vì vậy, việc nghiên cứu mô hình án lệ trong dân luật Pháp và rút ra những học hỏi để soi chiếu, đánh giá mô hình án lệ còn non trẻ ở Việt Nam là điều vô cùng cần thiết.

2. Phương pháp nghiên cứu và cấu trúc bài viết

Bài áp dụng chủ yếu phương pháp phân tích và hệ thống hóa nhằm làm rõ mô hình án lệ trong dân luật Pháp và mô hình án lệ ở Việt Nam. Từ đó, bài viết chỉ ra những đặc điểm quan trọng của mô hình án lệ trong dân luật Pháp và những đặc điểm cũng như bất cập trong mô hình án lệ Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó phương pháp so sánh cũng được sử dụng nhằm xác định những điểm tương đồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam và Pháp từ đó chỉ ra những đặc điểm mà Việt Nam cần học hỏi và áp dụng vào xây dựng mô hình án lệ phù hợp.

Continue reading

CUỘC CÁCH MẠNG VỀ QUYỀN RIÊNG TƯ

NGUYỄN HỒNG HẢI ĐĂNG – Đại học Melbourne, Úc

Tuy chưa hẳn là một bước ngoặt chuyển đổi lớn từ góc nhìn làm luật, Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu (General Data Protection Regulation, viết tắt GDPR) vẫn là thành quả cải cách rất quan trọng trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trên môi trường internet.

Lịch sử 20 năm của GDPR

GDPR không phải là nỗ lực làm luật bảo vệ dữ liệu đầu tiên của Liên minh châu Âu. Tiền thân của GDPR, Chỉ thị 95/46/EC về việc Bảo vệ Dữ liệu của Liên minh châu Âu, ra đời vào năm 1995 và là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc thiết lập mô hình bảo vệ quyền riêng tư đi đầu xu hướng toàn cầu.

Có ba điểm đáng lưu ý về lịch sử hình thành của GDPR. Thứ nhất, việc hình thành Luật áp dụng cho toàn thể các quốc gia trong khối Liên minh châu Âu là một sự lựa chọn công cụ luật pháp mang tính đồng bộ hoá. Khác với Chỉ thị năm 1995, Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu năm 2018 hạn chế tối đa tính “mềm dẻo” trong việc thi hành luật, vốn đã trở thành điểm yếu của Chỉ thị năm 1995. Do bản chất pháp lý của văn bản chỉ thị, các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu tiến hành việc xử phạt vi phạm xử lý dữ liệu một cách rời rạc: Tây Ban Nha xử lý phạt nặng và thường xuyên, trong khi Pháp hầu như không đưa ra hình thức xử lý phạt nào đáng kể. GDPR áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm doanh nghiệp đồng bộ cho toàn thể Liên minh châu Âu, cụ thể là tối đa 2% doanh thu hoặc 10 triệu euro cho những vi phạm nhỏ, và 4% doanh thu hoặc 20 triệu euro cho những vi phạm lớn. Thứ hai, việc cập nhật cơ sở pháp lý cho công tác quản lý dữ liệu đã trở nên vô cùng cấp bách vào thời điểm GDPR được soạn thảo. Chỉ thị năm 1995, soạn thảo vào những năm đầu thập niên 90, được hình thành vào thời điểm mà internet chỉ được sử dụng bởi 1% dân số thế giới. Các khái niệm và thiết bị đã trở nên quen thuộc trong môi trường internet hiện nay như mạng xã hội, điện toán đám mây, hay máy tính bảng và điện thoại thông minh, hoàn toàn không tồn tại vào năm 1995. Thứ ba, tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin trong hơn 20 năm vừa qua đã làm thay đổi hoàn toàn cách con người định nghĩa và bảo vệ quyền riêng tư của mình. Quyền riêng tư là yếu tố cốt lõi của các chế độ pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân: bảo vệ dữ liệu là công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền. Cơ sở hạ tầng công nghệ của internet và các thiết bị thông minh khiến việc thu thập dữ liệu cá nhân trở nên ngày càng dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả, và đặc biệt là ít tốn kém. Vụ bê bối xung quanh Facebook, Cambridge Analytica, và ban vận động tranh cử của Tổng thống Mỹ Donald Trump là một ví dụ điển hình cho xu hướng này. Hơn bao giờ hết, việc soạn ra một hệ thống pháp lý nghiêm ngặt “tiêu chuẩn vàng” nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân là vô cùng cần thiết.

Continue reading

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI ÁP DỤNG ĐIỀU 129 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH HÌNH THỨC

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

1. Những điểm mới trong nội dung Điều 129 Bộ luật dân sự

Điều 129 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Điều luật này đã coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí các bên, một biểu hiện trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung, nguyên tắc cơ bản thứ hai ghi tại khoản 2 Điều 3 của BLDS nói riêng. Như vậy, việc tôn trọng ý chí các bên không chỉ thể hiện trong thực thi mà ngày càng tiến dần đến sự nhất quán trong xây dựng các quy định cụ thể của Bộ luật. Sự sửa đổi, bổ sung này ít nhiều đã giảm sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ dân sự, nó không chỉ hợp lý (xét dưới góc độ lý thuyết) mà còn giàu tính thực tiễn, tăng sức sống cho các giao dịch, tăng tính ổn định trong quan hệ dân sự, bảo đảm sự công bằng.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA TRONG CÔNG TY CÓ NHIỀU NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

TS. NGUYỄN HỢP TOÀN – Khoa Luật, trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ Công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.” Khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2015 cũng thừa nhận một pháp nhân có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Đây là lần đầu tiên pháp luật thừa nhận Công ty TNHH và Công ty cổ phần (sau đây gọi chung là “Công ty”) có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật. Vấn đề đặt ra là trong trường hợp Công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật thì quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba được bảo đảm như thế nào khi có xung đột thẩm quyền?.

1. Ý nghĩa của việc quy định Công ty có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật

Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định mỗi Công ty có một người đại diện theo pháp luật. “Quy định này dẫn tới tình trạng, nếu người đại diện theo pháp luật vì lý do cá nhân vắng mặt ở Việt Nam nhưng không thực hiện ủy quyền, người đại diện theo pháp luật bị tạm giữ, hoặc việc thay đổi người đại diện theo pháp luật nhưng chưa hoàn tất thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật…, thì toàn bộ các giao kết sẽ bị chậm lại hoặc ách tắc. Thậm chí, có nhiều giao kết hợp đồng được ký bởi người đại diện theo pháp luật theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, nhưng vẫn bị kiện vô hiệu, do được ký trong khi DN chưa hoàn tất việc đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật cũ.”[1]

Ngoài ra, trong thực tiễn có hiện tượng mặc dù tồn tại Công ty, nhưng mỗi thành viên hoặc cổ đông độc lập phụ trách một lĩnh vực kinh doanh của Công ty. Họ chỉ lấy tư cách pháp nhân của Công ty để giao kết hợp đồng, kê khai và nộp thuế. Thông thường, mỗi người phụ trách một lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty sẽ trực tiếp nhân danh Công ty giao kết và thực hiện hợp đồng với đối tác. Trong một vụ tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty, các thành viên của Công ty TNHH ABC đều xác nhận phương thức hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty là: Mỗi thành viên được phân công hoạt động trong một lĩnh vực và phải tự lo toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Khi phát sinh doanh số thì phải nộp tiền thuế qua Công ty và phải nộp vào quỹ của Công ty 1,5% để sử dụng chi tiêu vào các hoạt động hành chính của Công ty. Lãi còn lại thành viên đó được hưởng, lỗ thì phải tự chịu. Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 và BLDS năm 2005 thì người đại diện theo pháp luật phải ủy quyền cho từng người phụ trách thì những người này mới có thẩm quyền xác lập, thực hiện và chấm dứt hợp đồng với đối tác của Công ty nếu không thì hợp đồng có nguy cơ vô hiệu.

Continue reading

ĐỒNG BỘ HÓA LUẬT TƯ HIỆN NAY TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: SỰ CẦN THIẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG

TS. NGUYỄN MẠNH THẮNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Sự cần thiết đồng bộ hóa luật tư

Nền kinh tế thị trường chỉ có thể phát triển trong một môi trường pháp lý lành mạnh và thích hợp. Đây là điều không ai có thể phủ nhận. Để có môi trường pháp lý lành mạnh và thích hợp cho việc xây dựng kinh tế thị trường, đồng bộ hóa luật tư đóng vai trò quan trọng.

Pháp luật Việt Nam hiện đang trong tình trạng bất đồng bộ tương đối lớn và phức tạp, làm ảnh hưởng không như mong muốn tới môi trường pháp lý kinh doanh và gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Trong sự bất đồng bộ lớn của luật tư, trước hết phải kể tới sự thiếu cân nhắc kỹ lưỡng và tinh tế khi thiết lập một số quy định trong khu vực luật tư mà gây khó khăn cho cả khu vực luật công. Có thể đưa ra một ví dụ điển hình sau:

Vừa qua, trong đợt xây dựng và hoàn thiện pháp luật để thi hành Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có quy định về pháp nhân thương mại như sau:

“1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan” (Điều 75). Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA BANG QUÉBEC – CANADA VỀ ĐĂNG KÝ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI ĐỘNG SẢN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ MỚI VÀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐỘNG SẢN

SUZANNE POTVIN PLAMONDO – Cục trưởng Cục Đăng ký và Chứng thực, Bộ Tư pháp Bang Quesbec, Canada

Ở Québec, quá trình sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự đã khởi động từ những năm 1950 và cho đến những năm 1990, các nội dung cải cách cuối cùng cũng được thông qua. Đây là chủ đề của rất nhiều công trình nghiên cứu.

Bang Québec nằm ngay sát nước Mỹ, các bang khác của Ca-na-đa liền kề với Québec đều áp dụng hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng của hệ thống Common law, trong khi pháp luật của Québec lại chịu ảnh hưởng của pháp luật Pháp. Từ đó đã đặt ra nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật và bảo đảm tính thống nhất của các quy phạm pháp luật. Chính vì vậy, các nguyên tắc sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự được thông qua vào năm 1994 về cơ bản đều là những nguyên tắc dựa theo hệ thống Dân luật, nhưng bên cạnh đó cũng có một số cơ chế hoặc phương thức vay mượn của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ, nhằm mục đích xây dựng được một hệ thống đơn giản, dễ tiếp cận và hiệu quả hơn.

1. Một số khía cạnh pháp lý của việc đăng ký các quyền đối với động sản

1.1. Các mục đích của việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 1994

Về mục đích sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự Québec, trước năm 1994, ở Québec không có pháp luật điều chỉnh một cách thống nhất chế độ đăng ký quyền đối với động sản, mà chỉ có quy định điều chỉnh cho từng trường hợp khi xét thấy có nhu cầu, nhằm mục đích tăng cường tín dụng giữa các doanh nghiệp. Thời kỳ này, hệ thống đăng ký quyền đối với động sản ở Québec còn gắn liền với hệ thống đăng ký đất đai (là nơi đăng ký mọi giao dịch liên quan đến các quyền cần đăng ký), với nhiều loại Sổ đăng ký khác nhau, nhiều khu vực đăng ký khác nhau và dựa trên những tiêu chí không rõ ràng như tư cách pháp lý của người có nghĩa vụ, trụ sở hoặc vị trí kinh doanh, chứ không phụ thuộc vào loại hình giao dịch. Theo đó, một giao dịch có thể phải đăng ký tại 5, 6 khu vực và vào nhiều Sổ đăng ký khác nhau, chẳng hạn như Sổ đăng ký tên, Sổ đăng ký chuyển nhượng hàng tồn kho, cầm cố tài sản trong nông nghiệp, cầm cố tài sản trong thương mại, v.v.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: