MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

Kết quả hình ảnh cho Confidential customer information  NGUYỄN THỊ KIM THOA – Trường Đại học Ngân hàng tp. HCM

Đảm bảo bí mật thông tin khách hàng là một trong các vấn đề mang tính “sống còn” trong kế hoạch phát triển kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD). Trên thực tế, việc rò rỉ thông tin khách hàng đã khiến một số TCTD mất đi nhiều khách hàng tiềm năng, khách hàng trung thành mà họ đã phải mất một khoảng thời gian dài để xây dựng mối quan hệ ấy1. Về phía khách hàng của các TCTD, việc rò rỉ thông tin sẽ khiến họ phải gánh chịu nhiều hệ lụy trong cuộc sống cũng như hoạt động kinh doanh của họ.

Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của của khoa học công nghệ và truyền thông, các TCTD cũng đã triển khai nhiều dịch vụ thanh toán mới phù hợp với xu thế thanh toán của các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển các dịch vụ đó là các hành vi khai thác thông tin cũng tinh vi hơn, việc xâm phạm bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng càng trở nên phổ biến hơn, vì vậy, việc đảm bảo bí mật những thông tin và dữ liệu của khách hàng là điều vô cùng cần thiết.

1. Khuôn khổ pháp luật về đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng sẽ giúp cho các TCTD tối thiểu hóa được các thiệt hại khi có rủi ro xảy ra, đồng thời, tối đa được các lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh. Bảo đảm các bí mật thông tin của khách hàng cũng chính là bảo vệ sự phát triển liên tục và bền vững của các TCTD. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong sự phát triển của các TCTD và của nền kinh tế, khuôn khổ pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng không ngừng được củng cố và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.

Nội dung của đảm bảo bí mật thông tin khách hàng được ghi nhận ở nhiều cấp độ văn bản khác nhau. Hiến pháp Việt Nam hiện hành đã có quy định về quyền được đảm bảo bí mật thông tin của cá nhân: “mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”2. Mặc dù quy định này chỉ ghi nhận quyền của cá nhân đối với bí mật thư tín, điện thoại, điện tín nhưng nó có ý nghĩa cho phép các nhà làm luật trên cơ sở này xây dựng những quy định về đảm bảo bí mật thông tin trong nhiều lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực ngân hàng.

Continue reading

Advertisements

BÀN VỀ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ KIẾN NGHỊ

Kết quả hình ảnh cho Right to imageTHS. LS. LÊ VĂN SUAĐoàn luật sư tỉnh Tiền Giang

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân,… bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên… Đây là Bộ luật được đánh giá có tính đột phá, thể hiện được đầy đủ vai trò là luật chung của hệ thống luật tư; xác lập, bảo vệ quyền dân sự, trong đó có quyền nhân thân đối với hình ảnh cá nhân.

Quyền cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân, đây là yếu tố tinh thần gắn liền với mỗi cá nhân, hình ảnh của mỗi cá nhân bị xâm phạm không chỉ ảnh hưởng về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đên danh dự, nhân phẩm…Vì vậy, việc pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ cho mỗi cá nhân quyền đối với hình ảnh đảm bảo quyền nhân thân, hạn chế một cách tối đa nhất hành vi xâm phạm. Ngoài ra, còn góp phần đảm bảo trật tự xã hội và giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người tôn trọng quyền đối với hình ảnh của cá nhân, khi có hành vi xâm phạm, tùy theo tính chất mức độ, hậu quả xảy ra mà bị xử lý theo quy định của pháp luật tương ứng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về tiêu chí phân biệt hình ảnh cá nhân với hình ảnh sinh hoạt tập thể;  quyền của cá nhân đối với hình ảnh bị giới hạn trong trường hợp xung đột với quyền lợi chung, quyền lợi của bên thứ ba hoặc với trường hợp đương sự từ bỏ quyền của mình đối với hình ảnh;… Do vậy, việc hiểu và áp dụng trong thực tiễn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến quy định về quyền của cá nhân, kể cả trẻ em đối với hình ảnh theo quy định tại Điều 32 BLDS năm 2015; Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016, trên cơ sở đó, đề xuất các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất chung về nhận thức quy định này, tránh những vướng mắc phát sinh không cần thiết.
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh, Điều 32 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

Continue reading

QUỐC TỊCH VIỆT NAM CỦA TRẺ EM – MỘT VẤN ĐỀ CẦN QUY ĐỊNH RÕ HƠN TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUỐC TỊCH

Kết quả hình ảnh cho visa from vietnamHOÀNG LAN

Quốc tịch là phạm trù chính trị – pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững giữa Nhà nước và công dân, là dấu hiệu để xác định và phân biệt công dân của nước này với nước khác, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán”. Ở Việt Nam, quyền này đã được Hiến định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013). Luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, tiếp đó là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (thay thế Luật quốc tịch năm 1988) và hiện tại là Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (thay thế Luật quốc tịch năm 1998) . Tại các Luật này đều ghi nhận: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch.

Đối với trẻ em, quyền được khai sinh và có quốc tịch là một quyền cơ bản đã được Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2016 ghi nhận: Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Với những trẻ em khi sinh ra, vì một lý do nào đó mà quyền có quốc tịch này có thể bị ảnh hưởng (do cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều là người không có quốc tịch; trẻ bị bỏ rơi…) thì pháp luật về quốc tịch cũng đã dự liệu các trường hợp này để  đảm bảo mọi trẻ em khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch.

Ngay từ Luật đầu tiên về quốc tịch (Luật quốc tịch năm 1988) đã dành 01 điều quy định về quốc tịch trẻ em (Điều 6): (1) Trẻ em có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (2) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (3) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, nếu sinh trên lãnh thổ Việt Nam hoặc khi sinh ra cha mẹ đều có nơi thường trú ở Việt Nam, thì có quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp cha mẹ nhất trí lựa chọn quốc tịch khác. Trong trường hợp trẻ em đó sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam và khi sinh cha mẹ đều không có nơi thường trú ở Việt Nam, thì quốc tịch theo sự lựa chọn của cha mẹ; (4) Trẻ em sinh trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch và có nơi thường trú ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam; (5) Trẻ em tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1288/HTQTCT-HT NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 2016 CỦA CỤC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC–BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH MỘT SỐ BIỂU MẪU HỘ TỊCH BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 15/2015/TT-BTP

Kính gửi: Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thời gian qua, cơ quan đăng ký hộ tịch trên cả nước đã triển khai thực hiện Luật hộ tịch, các văn bản quy định chi tiết thi hành, sử dụng các biểu mẫu hộ tịch ban hành kèm theo Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp  (Giấy tờ hộ tịch, phụ lục, Sổ hộ tịch, Tờ khai – Civillawinfor) đáp ứng được yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân. Tuy nhiên, theo phản ánh của địa phương, vẫn có một số biểu mẫu hộ tịch còn bị lỗi, chưa bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Trên cơ sở tổng hợp ý kiến phản ánh của địa phương và thực hiện rà soát thực tế, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thấy các biểu mẫu hộ tịch chủ yếu là bị lỗi về kỹ thuật trình bày, sai sót trong phần chú thích, hướng dẫn. Được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã chỉnh sửa các biểu mẫu này (có các biểu mẫu đã chỉnh sửa kèm theo) và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực thông báo để các Sở Tư pháp thông tin tiếp cho các cơ quan đăng ký hộ tịch tại địa phương biết, tải về để sử dụng, bảo đảm đồng bộ, thống nhất./.

DANH MỤC

CÁC BIỂU MẪU HỘ TỊCH BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 15/2015/TT-BTP ĐƯỢC CHỈNH LÝ, BỔ SUNG
(Ban hành kèm theo Công văn số 1288/HTQTCT-HT ngày 15/9/2016)

Continue reading

PHẢI QUA PHẪU THUẬT MỚI ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ NGƯỜI CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH?

Kết quả hình ảnh cho TransgenderNGUYỄN THÙY DƯƠNG*

Chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý mới và phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, quyền chuyển đổi giới tính đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015), ban hành ngày 24/11/2015. Với cộng đồng người chuyển giới Việt Nam, những ghi nhận của Bộ luật Dân sự 2015 có ý nghĩa thiêng liêng như những dòng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, ghi nhận quyền trong BLDS 2015 mới chỉ là sự khởi đầu của một quá trình thực sự công nhận người chuyển giới trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung.

Trước hết, khi BLDS 2015 ghi nhận việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật thì đồng nghĩa với việc sẽ có một luật chuyên ngành về chuyển đổi giới tính tại Việt Nam. Thực tế hiện nay Bộ Y tế đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính (Luật CĐGT), dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2018. Và một trong những nội dung có khả năng sẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật CĐGT là vấn đề xác định điều kiện để được coi là người đã chuyển đổi giới tính. Liệu có bắt buộc phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính và được cấp chứng nhận y học thì mới được coi là đã chuyển giới hay không? Hiện nay nhiều ý kiến cho rằng phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính (thông thường là phẫu thuật triệt sản và có thể là phẫu thuật tạo hình) thì mới được coi là đã chuyển giới. Tuy nhiên, về bản chất, người chuyển giới là người có giới tính mong muốn không trùng với giới tính khi sinh ra và không phụ thuộc tình trạng cơ thể đã phẫu thuật hay chưa1. Một khảo sát tại Việt Nam cũng đã chứng minh không phải tất cả người chuyển giới đều có nhu cầu phẫu thuật chuyển giới2. Sẽ là không thấu đáo nếu áp đặt suy nghĩ phải phẫu thuật (triệt sản hay tạo hình) thì mới được coi là người đã chuyển giới, chưa kể tới quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói chung và người chuyển giới nói riêng đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 và BLDS 20153.

Continue reading

VẤN ĐỀ NGƯỜI CHUYỂN GIỚI Ở VIỆT NAM: CẦN CHẤP NHẬN SỰ ĐA DẠNG

NGUYỄN THU QUỲNH

Hiện nay hệ thống pháp lý ở Việt Nam đã có những thay đổi căn bản để bảo vệ quyền của người chuyển giới, nhưng đó mới chỉ là điểm khởi đầu cho nhiều nỗ lực tiếp theo nhằm không chỉ công nhận những quyền hiển nhiên của người chuyển giới mà còn phải thay đổi nhận thức của xã hội trong ứng xử với họ.

Bị kỳ thị khi sống đúng với bản dạng giới

Từ ngoại hình, cử chỉ cho tới cách nói chuyện tự nhiên như bất kỳ người đàn ông nào khác, Phong1, một người chuyển giới nam (transgender2) không hề gợi cho chúng tôi một ý niệm nào về việc trước đây anh từng mang ngoại hình là nữ. Nhưng Phong đã và đang gặp phải rất nhiều khó khăn khi tìm việc làm và chịu đựng nhiều kỳ thị ở công sở cũng như nhiều không gian công cộng khác. “Khi em nộp hồ sơ xin việc, nhìn thấy giới tính của mình khác với giới tính được ghi trong hồ sơ, họ đặt ra câu hỏi về giới tính của em sau đó khẳng định em không phù hợp với công việc đó. Thậm chí khi em đã trúng tuyển, họ rà soát về giới tính và biết em là người chuyển giới thì lại nói rằng khách hàng của công ty không muốn tiếp xúc khi em thể hiện mình là người chuyển giới và yêu cầu em phải điều chỉnh lối ăn mặc và ngoại hình cho phù hợp với công việc thì mới nhận được. Em đã học đại học, có kinh nghiệm làm việc nhất định, nhưng họ không chấp nhận năng lực, vẫn bị từ chối khi xin việc chỉ vì em sống thật với bản thân mình”, Phong nói.
Trường hợp bị kỳ thị trong môi trường công sở như Phong không phải là hiếm. Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế, môi trường (ISEE)3, có 53% người chuyển giới nữ và 60% người chuyển giới nam bị các nhà tuyển dụng từ chối nhận vào làm việc trong khi đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực. Và ngay cả khi được nhận vào làm việc thì có tới 69% người chuyển giới nữ và 66% người chuyển giới nam thường bị kỳ thị, xa lánh ở nơi công sở. Nghiên cứu trên cũng chỉ ra, không chỉ bị phân biệt đối xử ở các không gian công cộng, người chuyển giới còn bị kỳ thị, xa lánh bởi chính người thân, ngay dưới mái nhà họ đang sinh sống. Thống kê xã hội học về kỳ thị đối xử trong gia đình của người chuyển giới cho thấy, 62% người chuyển giới nữ, 80% người chuyển giới nam bị chửi mắng, gây áp lực, 61% người chuyển giới nói chung bị ép thay đổi ngoại hình, cử chỉ, thậm chí có tới 14% trong số họ phải chịu các hành vi bạo lực như nhốt, giam giữ, đánh đập, đuổi khỏi nhà. Riêng ở phạm vi gia đình, các hành vi phân biệt đối xử với người chuyển giới còn nhắm tới việc ngăn chặn thông tin về thành viên trong gia đình là người chuyển giới bị tiết lộ ra ngoài đồng thời cố gắng thay đổi xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ bằng các biện pháp y học, tâm linh hay lối sinh hoạt và ngăn cản các mối quan hệ tình cảm của họ. Nhìn chung, các hành vi phân biệt đối xử xuất phát bởi sự định kiến và dè bỉu các bản dạng giới (gender identity)4 và xu hướng tính dục của người chuyển giới “khác” với các bản dạng giới và xu hướng tính dục được coi là “thông thường”.

Continue reading

QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT: CẦN ĐƯỢC HƯỚNG DẪN

THS. LÊ VĂN SUA

Cho đến nay, pháp luật nước ta vẫn chưa có quy định rõ ràng về “bí mật đời tư” là gì, phạm vi của “bí mật đời tư” như thế nào, mà chỉ có một số quy định về vấn đề này trong Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS); Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Luật GDĐT); Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 – BLHS). Mà theo đó:

– Điều 21 Hiến pháp năm 2013 có quy định:

“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn
2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

– Tại Điều 38 BLDS hiện hành, có quyền bí mật đời tư, như sau:

1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Continue reading

ĐẢM BẢO BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÝ

NGUYỄN THỊ KIM THOA – Giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học Ngân hàng TPHCM

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

“Điều 387. Thông tin trong giao kết hợp đồng

1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

“Điều 517. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

5. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

6. Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin”.

“Điều 565. Nghĩa vụ của bên được ủy quyền

4. Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền”

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Đặt vấn đề

Xã hội ngày càng phát triển, các yêu cầu được đảm bảo bí mật thông tin của con người ngày càng được coi trọng, đặc biệt trong các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Theo số liệu thống kê về vấn đề bảo mật thông tin của Tổ chức chứng nhận TÜVRheinland Việt Nam (trong đó, có những số liệu liên quan đến vấn đề bảo mật thông tin của các tổ chức hoạt động ngân hàng) cho biết, mỗi năm có trên 30.000 mật khẩu của các tài khoản internet bị công bố trên mạng và 30.0000 số tài khoản tín dụng cá nhân bị trộm, một số bị công bố trên Web…1, bảo mật thông tin của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên cấp thiết. Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng cần cụ thể, phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn. Để có thể hình dung về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng, bài viết sẽ tập trung làm rõ khía cạnh pháp lý của các quy định về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng; đồng thời, sẽ phân tích một số hạn chế của pháp luật về nghĩa vụ đảm bảo bí mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và có một số đề xuất liên quan đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng.

1. Khái quát về thông tin trong hoạt động ngân hàng liên quan đến khách hàng

Theo Từ điển Tiếng Việt, thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó2.

Continue reading

%d bloggers like this: