THANH LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐẠO LUẬT NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2006

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNTrường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không phải là vấn đề mới trong luật dân sự Pháp cũng như luật dân sự Việt Nam hay hầu hết các luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất hiện tương đối sớm trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Khái niệm này xuất hiện cũng lâu đời như khái niệm về nghĩa vụ dân sự[1]. Nhưng đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp[2] đã có rất nhiều thay đổi về hình thức lẫn nội dung các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà rõ ràng nhất là về mặt hình thức. Sự thay đổi này có rất nhiều điểm mới, tiến bộ. Tìm hiểu và so sánh để tìm ra những điểm tương đồng để có thể giải thích và vận dụng cho các vấn đề tương tự của luật Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề về thanh lý thế chấp theo đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp.

1. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đối với các biện pháp bảo đảm đối vật nói chung theo quy định của pháp luật dân sự Pháp

Trước khi đề cập trực tiếp đến các quy định của luật dân sự Pháp về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, thiết nghĩ nên đề cập qua về tập hợp các phương thức xử lý tài sản bản đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của pháp luật Việt Nam được xây dựng như là một phần nhỏ trong cơ cấu chung về nghĩa vụ dân sự của BLDS. Theo quy định hiện nay chúng ta có tổng cộng 7 biện pháp bảo đảm là bảo lãnh; thế chấp; cầm cố; ký cược; ký quỹ; đặt cọc; tín chấp.

Nhà làm luật Việt Nam không có ý định phân chia một cách chi tiết các biện pháp bảo đảm nói trên theo từng nhóm riêng biệt. Tuy vậy, thực tiễn công tác nghiên cứu vẫn có xu hướng sắp xếp các biện pháp bảo đảm nói trên thành hai phân nhóm trên cơ sở sự khác biệt về các quyền của bên nhận bảo đảm nói chung. Hai phân nhóm được chấp nhận trong phân chia đó là các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Sự phân chia này hoàn toàn giống với cách phân chia trong luật của Pháp. Trong đó, các biện pháp bảo đảm đối vật tạo ra cho chủ nợ nhận bảo đảm quyền đối vật trên tài sản bảo đảm, bao gồm quyền được nắm giữ (nắm giữ vật chất hoặc nắm giữ tượng trưng) đối với tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán theo thứ tự được xác định khi tài sản bảo đảm được bán. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh) chỉ tạo ra cho chủ nợ quyền đối nhân, quyền được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với một người khác, không phải là người mắc nợ.

Continue reading

Advertisements

RỦI RO PHÁP LÝ KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẠI TÒA ÁN – GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

Kết quả hình ảnh cho contract disputesPGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. Dẫn nhập

Khi quan sát mô hình và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy hai điểm khá bất thường: quy mô kinh doanh nhỏ[1]và “văn hóa bia rượu”, chi phí tiếp khách trong kinh doanh khá lớn [2]. Hai đặc điểm này, theo chúng tôi, là hệ quả của việc rủi ro cao trong thực thi hợp đồng, khiến cho doanh nhân Việt gặp khó khăn khi liên kết hợp tác làm ăn quy mô lớn và cần nhiều thời gian, chi phí và các cách thức khác nhau để thẩm định đối tác.

Chúng tôi sẽ bước đầu nhận diện các rủi ro pháp lý trong thực thi hợp đồng; giải mã những tập quán kinh doanh bất thường; đưa ra các khuyến nghị chính sách loại bỏ, giảm bớt các rủi ro này, hướng tới môi trường kinh doanh ít rủi ro, cắt giảm chi phí kinh doanh không cần thiết, nâng cao độ hấp dẫn, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Hiện tượng bội tín trong kinh doanh không chỉ liên quan đến bản thân luật hợp đồng, mà còn liên quan đến một loạt các chế định như: thời hiệu khởi kiện, phạm vi bồi thường, tố tụng dân sự, thiếu chế tài hình sự cần thiết, thi hành án, phí luật sư… Bài viết này cũng trực tiếp góp ý vào Dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm cung cấp giải pháp tổng thể, góp phần khắc phục tận gốc những rủi ro trong thực thi hợp đồng.

2. Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Khi phát sinh tranh chấp, nếu các bên không thương lượng, hòa giải thành công và không có cơ hội giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại, các bên phải đưa vụ việc ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nhưng ở đó, có nhiều rủi ro pháp lý sẽ bủa vây nguyên đơn.

2.1. Rủi ro bị từ chối thụ lý đơn kiện vì lý do hết thời hiệu khởi kiện

Điều 427 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Không ít rủi ro pháp lý đã diễn ra trong thực tế liên quan đến điều khoản này, bởi các nguyên nhân sau:

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho Guarantee civil obligationsLS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Công ty Luật Basico, Trọng tài viên VIAC

Tóm tắt: Kể từ khi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định về 03 biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, đến nay pháp luật đã quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và bảo đảm thực hiện hợp đồng nói riêng. Trong đó, 03 Bộ luật Dân sự đóng vai trò chủ yếu, mà hiện tại là Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, theo tác giả, vẫn còn nhiều sự chồng chéo, mâu thuẫn, vướng mắc cần được giải quyết một cách cơ bản, tổng thể và đồng bộ.

1. Các biện pháp bảo đảm theo quy định chung

1.1. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989

Pháp lệnh này chỉ quy định 3 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cầm cố, thế chấp tài sản và bảo lãnh tài sản.

Nghị định số 17-HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) “Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế”, đã quy định: Cầm cố là việc dùng động sản và giao cho bên nhận cầm cố. Thế chấp là việc dùng động sản hoặc bất động sản và không giao cho bên nhận thế chấp. Bảo lãnh là việc dùng động sản hoặc bất động sản và để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba.

Trước đó “Quy định về việc thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng”, ban hành kèm theo Quyết định số 156/NH-QĐ ngày 18/11/1989 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng quy định thế chấp hoặc bảo lãnh vay vốn ngân hàng có thể bằng bất động sản hoặc động sản như tiền gửi, vàng bạc, các vật dụng sinh hoạt,…

1.2. Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991

Pháp lệnh này có hiệu lực cùng với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, quy định 4 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc và bảo lãnh.

Pháp lệnh đã quy định như sau: Cầm cố là việc dùng động sản và giao cho bên nhận cầm cố. Thế chấp là việc dùng bất động sản và không giao cho bên nhận thế chấp. Đặt cọc là việc dùng tiền (chưa cho phép đặt cọc bằng các động sản khác như sau này) và giao cho bên nhận đặt cọc. Bảo lãnh là việc dùng hoặc không dùng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Kết quả hình ảnh cho LAW ON HOUSING IN THE FUTURETHS. HUỲNH ANH – Giảng viên Đại học An Giang

Trong giao dịch bảo đảm, nhà ở hình thành trong tương lai là một dạng tài sản bảo đảm có tính chất đặc thù, đòi hỏi phải có những cơ chế pháp lý riêng biệt, cụ thể để điều chỉnh, nhằm đảm bảo an toàn cho các giao dịch dân sự, thương mại nói chung, giao dịch thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng, cũng như bảo đảm an toàn cho các thiết chế tài chính. Thời gian qua, những quy định về giao dịch thế chấp liên quan đến loại tài sản này chủ yếu dựa vào các quy định chung, nên có quá nhiều bất cập chưa giải quyết được khi áp dụng, thêm vào đó là những vấn đề mới tiếp tục phát sinh. Trong đó, vấn đề nhận diện nhà ở hình thành trong tương lai, vấn đề xác lập giao dịch và đăng ký thế chấp đang là những vấn đề đáng quan tâm.

1. Nhận diện nhà ở hình thành trong tương lai là đối tượng của hợp đồng thế chấp

Lần đầu tiên, thuật ngữ “nhà ở hình thành trong tương lai” xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật như là đối tượng của giao dịch bảo đảm được nhắc đến trong Nghị định số 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (Nghị định số 71/2010/NĐ-CP). Tuy nhiên, thuật ngữ này không được giải thích trong Nghị định[1].

Trước đó, ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Nhà ở, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006. Luật không đưa ra khái niệm về nhà ở hình thành trong tương lai, do đó các giao dịch liên quan đến nhà ở hình thành trong tương lai chủ yếu dựa vào luật chung – Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành[2]. BLDS năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này cũng không đề cập đến thuật ngữ “nhà ở hình thành trong tương lai”, thay vào đó là những quy định chung về “tài sản hình thành trong tương lai”, nhưng cũng không có mô tả cụ thể về khái niệm tài sản hình thành trong tương lai[3]. Tuy nhiên, Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) có quy định “…Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”. Với quy định “tài sản đã được hình thành” nhưng chưa thuộc sở hữu của bên bảo đảm cũng được xem là tài sản hình thành trong tương lai mà không có giải thích gì thêm nên khi vận dụng vào thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai đã gây nhầm lẫn với một số dạng nhà ở khác[4], dường như không còn đúng nghĩa nhà ở “tương lai”. Vì thế trong quá trình áp dụng quy định chung này đối với thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai cũng đã gặp những vấn đề vướng mắc, cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Continue reading

KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho compensation liability of the stateBỘ TƯ PHÁP

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan nghiên cứu tiến hành nhiều hoạt động để tiếp cận với pháp luật nước ngoài về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN), trong đó, đã sưu tầm và dịch ra tiếng Việt Luật của khoảng 30 quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN, tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học về kinh nghiệm pháp luật của nước ngoài có sự tham gia của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước.

Trên cơ sở kết quả các công việc đã được tiến hành như nêu trên, Ban soạn thảo Dự án Luật TNBTCNN (sửa đổi) xin báo cáo về một số nội dung cơ bản của pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN để phục vụ cho việc soạn thảo Dự án Luật này.

1. Về nguồn của pháp luật về TNBTCNN

Về vấn đề này, giữa các nước có sự khác biệt rõ ràng, trong đó, đa số các nước có đạo luật riêng điều chỉnh TNBTCNN và ngược lại, ở một số ít các nước, pháp luật về TNBTCNN lại tản mát, không có tính hệ thống, không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt.

1.1. Một số nước có Luật điều chỉnh riêng TNBTCNN

Ở Châu Mĩ và Caribe, Canada và Hoa Kỳ là những quốc gia ở Bắc Mĩ có luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN. Canada có luật về TNBTCNN từ rất sớm – Luật về Trách nhiệm Hoàng gia năm 1953 (Crow Liability Act). Đến năm 1985, Luật về Trách nhiệm Hoàng gia được sửa đổi thành Luật Thủ tục và trách nhiệm của Hoàng gia (Crow Liability and Proceedings Act 1985). Trên cơ sở các quy định chung của liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng để áp dụng trong phạm vi bang, như Bang Manibota (Crown proceedings Act 1990), Bang Ontario (Crown proceedings Act 1990 – được sửa đổi các năm 1994, 1997, 2004), Bang Nova Scotia (Crown proceedings Act 1989)… Đối với Hoa Kỳ, TNBTCNN tại Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang ban hành năm 1946 (Federal Tort Claims Act 1946). Ở khu vực Nam Mĩ thì một số quốc gia cũng có ban hành Luật riêng về TNBTCNN, điển hình là Guyana (State liability and proceedings Act 1998). Một số quốc gia ở khu vực Caribe cũng ban hành một luật riêng về TNBTCNN như Jamaica (Crown proceedings Act 1962).

Continue reading

“CONSIDERATION” THEO PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG HOA KỲ

Kết quả hình ảnh cho contract consideration definitionTHS.LS. PHẠM QUANG HUY  – Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

1. Bản chất pháp lí của “consideration”

1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ

Trước khi tìm hiểu “consideration” như là một thành tố của hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ, cần tìm hiểu khái niệm hợp đồng theo quan điểm của các luật gia Hoa Kỳ. Theo đó, nếu “tại Hoa Kỳ, luật hợp đồng là thuật ngữ thường được sử dụng để miêu tả tập hợp các quy định áp dụng việc hình thành, thực thi và kết thúc các thoả thuận được sự nhất trí của các bên tư nhân([1]) thì luật sư Hoa Kỳ Steven.H. Gifis định nghĩa ngắn gọn hợp đồng (contract) là “một lời hứa có quy định biện pháp khắc phục (remedy); hoặc thực hiện các nghĩa vụ được pháp luật công nhận; một giao dịch bao gồm 2 hay nhiều cá nhân có quyền đối ứng yêu cầu bên còn lại thực hiện lời hứa”.([2])

Mục §1-201(12) Bộ luật thương mại mẫu hay còn gọi là Bộ luật thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code – UCC) định nghĩa: “Hợp đồng, để phân biệt với “thoả thuận”, có nghĩa là tổng nghĩa vụ pháp lí mà kết quả từ thoả thuận của các bên được quy định bởi [UCC] cũng như bổ sung bởi bất kì luật áp dụng khác”.([3]) Nói chung, pháp luật Hoa Kỳ nhìn nhận hợp đồng là một thoả thuận giữa hai bên hoặc nhiều bên có thẩm quyền, dựa trên những lời hứa lẫn nhau, để làm hoặc không làm một việc cụ thể hợp pháp và có thể thực hiện.([4]) Kết quả thoả thuận là nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ có thể được thi hành tại toà án.

Gordon W. Brown và Paul A. Sukys chỉ ra sáu (06) thành tố của hợp đồng gồm có: 1) Đề nghị (giao kết hợp đồng); 2) Chấp thuận (đề nghị giao kết hợp đồng); 3) Đồng thuận; 4) Năng lực; 5) Consideration và 6) Tính hợp pháp.([5])

Về quyền tự do hợp đồng, J. Peter Byrne nhìn nhận là “quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lí của nền kinh tế thị trường”([6]) và “luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lí khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó”.([7]) Dễ hiểu hơn nữa, luật gia Hoa Kỳ J. Peter Byrne nhận định “Luật hợp đồng đề cập tất cả các khía cạnh của việc hứa hẹn, giữ lời và không giữ lời”.([8]) Theo các luật gia Hoa Kỳ, hợp đồng và việc giữ lời hứa không có nhiều sự phân biệt.

Continue reading

LÃI SUẤT THEO ĐIỀU 468 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015: ĐỐI TƯỢNG CHỊU SỰ ĐIỀU CHỈNH?

Kết quả hình ảnh cho interest rateTHS.LS. LÊ VĂN SUA

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực từ thi hành từ ngày 01/01/2017, có một số quy định thay đổi rất đáng chú ý so với Bộ luật Dân sự năm 2005 về bốn loại lãi suất, đó là lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả nợ gốc, lãi suất chậm trả nợ lãi và lãi suất chậm trả khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468[1] BLDS năm 2015 về lãi suất, mức lãi suất vay tiền cũng theo thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 20%/năm (nếu thỏa thuận không rõ thì sẽ là 10%/năm). Như vậy, từ năm 2017, trần lãi suất cho vay được nới thêm tới 6,5% (từ 13,5% lên 20%/năm). Tuy nhiên, vẫn chưa rõ, các tổ chức tín dụng (TCTD) thì có được cho vay vượt mức lãi suất 20%/năm hay không với quy định mở rộng “trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

Như vậy, các ngân hàng, tổ chức tín dụng sẽ chịu sự điều chỉnh của BLDS năm 2015 hay Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010?

Có thể thấy, hợp đồng vay tài sản nói chung, hợp đồng tín dụng nói riêng là một loại giao dịch dân sự. Do đó, việc điều chỉnh quan hệ này phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các nguyên tắc về giới hạn thực hiện quyền dân sự được quy định trong BLDS. Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản là một trong những điển hình của việc cụ thể hóa nguyên tắc giới hạn thực hiện quyền dân sự, theo đó các bên trong hợp đồng vay có thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn luật định. Việc quy định trần lãi suất giúp Nhà nước có thể điều tiết thị trường vay trong trường hợp cần có sự ổn định của kinh tế – xã hội, định hướng chuẩn mực ứng xử trong các quan hệ cho vay, thực hiện chính sách cấm hoặc hạn chế việc cho vay nặng lãi. Nhưng để bảo đảm không biến lãi suất trần trở thành công cụ pháp lý để hành chính hóa quan hệ dân sự, bảo đảm tính linh hoạt phù hợp với các quan hệ vay tài sản đa dạng, có thể được sửa đổi, bổ sung kịp thời để đáp ứng yêu cầu của những biến động về kinh tế – xã hội.

Continue reading

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG BẰNG BIỆN PHÁP BẢO LÃNH TỪ NHỮNG NGUYÊN LÝ TRÁI QUYỀN

Kết quả hình ảnh cho bank guarantees THS. PHẠM VĂN ĐÀM – Văn phòng Công chứng Đống Đa

Trái quyền còn gọi là quyền đối nhân, là quyền cho phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác – gọi là người thụ trái, thực hiện một việc . Trong ngôn ngữ thông dụng, trái quyền còn được gọi là quyền đòi nợ. Điều đó có nghĩa rằng, để quan hệ trái quyền vận hành hoàn hảo, nhất thiết phải có sự hợp tác của cả trái chủ và thụ trái, chứ một mình trái chủ thực hiện thì khó đạt hiệu quả. Về mặt cấu trúc kỹ thuật, trái quyền được hình thành từ ba yếu tố:  Trái chủ (chủ thể có), người thụ trái (chủ thể nợ) và đối tượng. Cũng như đối với vật quyền, trong khoa học pháp lý, có nhiều cách phân loại trái quyền. Với cách phổ biến nhất, người ta chia các trái quyền thành hai nhóm: (i) Trái quyền có đối tượng là làm hoặc không làm một việc và (ii) Trái quyền có đối tượng là chuyển giao một vật quyền.

Trái quyền có đối tượng làm một việc là một quan hệ nghĩa vụ trong đó người thụ trái cam kết thực hiện một công việc vì lợi ích của trái chủ, ví dụ: Người chủ ga-ra cam kết sửa chữa hoàn chỉnh một chiếc ô tô; kiến trúc sư cam kết hoàn thành đồ án xây dựng một căn nhà… Trái quyền có đối tượng không làm một việc là loại quan hệ nghĩa vụ trong đó, người thụ trái cam kết giữ thái độ thụ động về một phương diện nào đó, vì lợi ích của trái chủ. Chẳng hạn: Người bán một sản nghiệp thương mại cam kết không mở một cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề trong khu vực lân cận trong một khoảng thời gian nào đó để tránh không là đối thủ cạnh tranh của người mua sản nghiệp…

Trái quyền có đối tượng là chuyển giao một vật quyền là một quan hệ nghĩa vụ trong đó thụ trái cam kết trao cho trái chủ một vật quyền vốn thuộc về mình, đặc biệt là quyền sở hữu đối với một tài sản. Ví dụ, trong một vụ mua bán vật cùng loại với một số lượng nào đó, người mua muốn nhận được tài sản, thì cần có sự hợp tác của người bán, thể hiện qua việc người bán tiến hành cá thể hoá đối tượng mua bán bằng cách tách đối tượng này ra khỏi khối các vật cùng loại, rồi đóng gói để sẵn sàng giao cho người mua.

Về chế độ pháp lý, trái quyền không phải là quan hệ pháp lý giữa chủ thể và vật, mà là quan hệ pháp lý giữa các chủ thể. Các quy tắc chi phối quan hệ ấy đặc trưng bằng việc chỉ định hành vi ứng xử trong giao tiếp giữa hai bên. Để quan hệ trái quyền vận hành suôn sẻ, sự hợp tác tích cực của trái chủ và người thụ trái là điều kiện cần thiết. Quá trình diễn tiến quan hệ trái quyền có thể được mô tả như sau: Người có trái quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ; người thụ trái thực hiện và người có trái quyền tiếp nhận việc thực hiện.

Continue reading

LÃI SUẤT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ KIẾN NGHỊ

Kết quả hình ảnh cho loan contract PHẠM THỊ HỒNG ĐÀO

Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/0/1/2017 để thay thế cho Bộ luật dân sự năm 2005. So với trước đây, Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 có rất nhiều nội dung mới, trong đó có thể kể đến một trong những quy định hết sức quan trọng liên quan đến vấn đề lãi suất trong hợp đồng cho vay, bao gồm các điều 357, 466, 467, 468, 469, 470 của Bộ luật này.

Trước đây, tại Điều 476 BLDS năm 2005 quy định các bên trong hợp đồng cho vay có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 150%  của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng và trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Nay, BLDS năm 2015 quy định hạn mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận đã được hạ xuống, đồng thời pháp luật đã mở rộng quyền thỏa thuận cho các bên trong trường hợp hợp đồng cho vay có tính lãi nhưng không xác định lãi cụ thể. Điều 468 của Bộ luật này quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Continue reading

QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Kết quả hình ảnh cho MortgageTS. PHẠM PHƯƠNG NAM – Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Với những sửa đổi, bổ sung cơ bản, Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT sẽ góp phần tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn đăng ký thế chấp (ĐKTC) QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện thủ tục đăng ký, qua đó góp phần thúc đẩy nhanh quá trình giải ngân của tổ chức tín dụng cũng như cơ hội tiếp cận vốn vay của người dân.

Ngày 23/6/2016, Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT với 3 chương, 40 điều hướng dẫn về thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục ĐKTC QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/8/2016. Thông tư này thay thế Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và bãi bỏ Thông tư liên tịch số của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ TN&MT hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định tại khoản 2 Điều 61 của Nghị định số quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

Thông tư áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cá nhân, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ĐKTC QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; cơ quan có thẩm quyền ĐKTC QSDĐ, tài sản gắn liền với đất; tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc đăng ký thế chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Thông tư cũng đã đưa ra một số quy định như: Tài sản gắn liền với đất gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng; tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai gồm nhà ở hình thành trong tương lai, công trình xây dựng khác hình thành trong tương lai đang trong quá trình đầu tư xây dựng, chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng; rừng sản xuất là rừng trồng hình thành trong tương lai; cây lâu năm hình thành trong tương lai; ĐKTC tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là việc cơ quan có thẩm quyền đăng ký ghi nhận các thông tin về thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai vào sổ địa chính hoặc sổ ĐKTC tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai và Đơn yêu cầu ĐKTC; chuyển tiếp ĐKTC quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở là việc cơ quan có thẩm quyền xác nhận chuyển tiếp ĐKTC vào sổ địa chính, GCN QSDĐ và đơn yêu cầu chuyển tiếp ĐKTC trong các trường hợp đã ĐKTC quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở có yêu cầu chuyển tiếp sang ĐKTC nhà ở hình thành trong tương lai hoặc sang ĐKTC nhà ở mà đến thời điểm chuyển tiếp các bên chưa xoá ĐKTC quyền tài sản đó.

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG: VAI TRÒ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VÀ NỀN KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho creditors' rights ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước

Các bất cập của hệ thống pháp luật và các vướng mắc nảy sinh trong việc thi hành các quy định pháp luật làm cho cơ chế bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD hoạt động kém hiệu quả…

Trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung và hệ thống pháp luật về ngân hàng nói riêng của Việt Nam đã và đang được xây dựng, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn của Việt Nam. Hệ thống pháp luật ngân hàng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quan trọng cho hoạt động ngân hàng và đã góp phần tích cực làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn thành vai trò là trung gian tài chính, huy động, cung cấp vốn và các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển năng động của nền kinh tế và quá trình hội nhập cũng làm cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong thời gian vừa qua, mặc dù được sửa đổi, bổ sung thường xuyên, nhưng hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về kinh tế nói riêng bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là các quy định về bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng (TCTD). Các bất cập của hệ thống pháp luật và các vướng mắc nảy sinh trong việc thi hành các quy định pháp luật làm cho cơ chế bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD hoạt động kém hiệu quả, hệ thống cưỡng chế thi hành các thỏa thuận, hợp đồng không được xây dựng, vận hành có hiệu quả, chưa là chỗ dựa tin cậy cho các bên liên quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới [1], thời gian bình quân để giải quyết tranh chấp tại Việt Nam theo con đường Tòa án là 400 ngày, với chi phí 29% giá trị khoản nợ và Chỉ số Chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18. Đồng thời, số lượng vụ việc thi hành án dân sự liên quan tín dụng ngân hàng còn tồn đọng chưa được thi hành 2016 là 15.949 việc với giá tiền tồn đọng, chưa được thi hành là 58.997 tỷ đồng [2].

Thực tế này cũng tạo điều kiện cho kỷ luật hợp đồng không được các bên liên quan tuân thủ, các quyền hợp pháp của chủ nợ (bao gồm cả các TCTD) không được bảo đảm, dẫn đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn và các ngân hàng vẫn phải cho vay chủ yếu dựa nhiều vào tài sản bảo đảm. Đây cũng là một nguyên nhân làm cho nợ xấu của hệ thống ngân hàng còn ở mức cao đe dọa sự ổn định, an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD. Do vậy, để xây dựng và thực thi có hiệu quả hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD, việc tăng cường nhận thức về vai trò của hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ của các bên liên quan đặc biệt là cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật là rất cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được đề cập vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD đối với doanh nghiệp và nền kinh tế và các yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền chủ nợ hiệu quả.

Continue reading

%d bloggers like this: