NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN TRONG GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG – PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. NGUYỄN BÌNH MINH & TS. HÀ CÔNG ANH BẢO – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Đặt vấn đề

Quan điểm về nghĩa vụ tiền hợp đồng[1] nói chung và nghĩa vụ cung cấp thông tin[2] trong giai đoạn tiền hợp đồng nói riêng ở mỗi nước là khác nhau. Quan điểm về không tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn này được thể hiện rõ nét trong hệ thống pháp luật Anh Quốc[3]; ngược lại, Pháp[4] và Đức đều thừa nhận và có quy định về nghĩa vụ này.

Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng không được quy định như là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng dân sự. BLDS năm 2005 chỉ có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với một số hợp đồng chuyên biệt như: việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng bảo hiểm,…[5] Sau mười năm triển khai trên thực tế, BLDS năm 2005 đã bộc lộ một số bất cập trong các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. BLDS năm 2015 ra đời trên cơ sở bổ sung, hoàn thiện và phòng tránh những bất cập mà BLDS cũ tồn tại. Trong phạm vi bài viết này, sau khi phân tích những quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong một số hợp đồng chuyên biệt và BLDS 2005, chúng tôi sẽ làm rõ những điểm mới của BLDS năm 2015 để đánh giá xem liệu những quy định mới đã thực sự cụ thể, rõ ràng và phù hợp với điều kiện thực tiễn hay chưa.

1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng trong một số loại hợp đồng chuyên biệt

1.1. Hợp đồng bảo hiểm

Nghĩa vụ cung cấp thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ luật hàng hải (BLHH) năm 1990 và được áp dụng cho một loại hợp đồng chuyên biệt là hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Theo Điều 204 BLHH năm 1990, người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc quyết định của người bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết.

Continue reading

Advertisements

NHẬN BẢO ĐẢM BẰNG BẤT ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI TỪ CHỦ ĐẦU TƯ DỰ ÁN NHÀ Ở

 TS.LS. BÙI ĐỨC GIANG – Giảng viên Công ty TNHH tư vấn và đào tạo BankPro

Trong thực tế thực hiện các dự án nhà ở thương mại, việc huy động vốn từ các ngân hàng hết sức phổ biến. Do pháp luật nhà ở và kinh doanh bất động sản không có các quy định chuyên biệt giúp bảo vệ bên cho vay nên việc có các biện pháp bảo đảm hiệu quả từ chủ đầu tư là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng. Bài viết tập trung phân tích một số khía cạnh pháp lý của việc xác lập hợp đồng thế chấp bất động sản hình thành trong tương lai của chủ đầu tư dự án nhà ở cũng như việc giải chấp vốn đang đặt ra một số vướng mắc trong thực tế.

Mục đích và điều kiện thế chấp

Điều 147, Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 (Luật nhà ở) quy định “chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở được thế chấp dự án hoặc nhà ở xây dựng trong dự án tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn cho việc đầu tư dự án hoặc xây dựng nhà ở đó”. Như vậy, điều luật này cho phép chủ đầu tư có hai lựa chọn là thế chấp dự án hoặc thế chấp nhà ở tương lai thuộc dự án để vay vốn. Tuy nhiên, cần lưu ý bên nhận thế chấp chỉ có thể là các tổ chức tín dụng và mục đích thế chấp phải là để vay vốn cho việc đầu tư chính dự án hoặc xây dựng chính nhà ở đó. Nói cách khác, chủ đầu tư không thể sử dụng dự án hay nhà ở thuộc dự án này để thế chấp phục vụ cho việc vay vốn đầu tư vào một dự án khác hay nhà ở thuộc dự án đó. Nếu vi phạm, hợp đồng thế chấp có thể vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.

Điều 148, Luật nhà ở cho phép chủ đầu tư thế chấp một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng nhà ở với điều kiện phải có hồ sơ dự án, có thiết kế kỹ thuật của dự án được phê duyệt và đã có giấy chứng nhận hoặc quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp chủ đầu tư thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai xây dựng trong dự án thì ngoài các điều kiện này, nhà ở thế chấp phải thuộc diện đã xây dựng xong phần móng theo quy định của pháp luật về xây dựng và không nằm trong phần dự án hoặc toàn bộ dự án mà chủ đầu tư đã thế chấp trước đó.

Continue reading

ĐỀ XUẤT DIỄN GIẢI VÀ ÁP DỤNG ĐIỀU 420 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN

TS. NGUYỄN MINH HẰNG & THS. TRẦN THỊ GIANG THU – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội

Ngày 24/11/2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015) với nhiều điểm mới, trong đó có quy định mới về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” (tại Điều 420).

Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một điểm mới quan trọng trong pháp luật Việt Nam[1] nhưng đã tồn tại từ lâu trong thực tiễn thương mại quốc tế và trong pháp luật hợp đồng của nhiều quốc gia. Thật vậy, khái niệm “hardship” và các khái niệm tương tự như “change of circumstances”, “changement de circonstances”, “Wegfall der Geschäftsgrundlage”, “eccessiva onerosità” được thừa nhận trong nhiều hệ thống pháp luật, trong đó, thuật ngữ “hardship” được sử dụng và được chấp nhận rộng rãi nhất.

Lý thuyết về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” (lý thuyết về “hardship”) là một quy định được “du nhập” từ các hệ thống pháp luật hiện đại và khi được đưa vào Bộ luật dân sự 2015 đã nhận được nhiều ý kiến rất khác nhau từ các nhà nghiên cứu, nhà bình luận. Dự kiến việc áp dụng quy định này tại Việt Nam cũng sẽ gặp phải những khó khăn đáng kể do còn có nhiều cách hiểu và quan điểm trái chiều.

Qua việc phân tích các quy định tại Điều 420 và đối chiếu, so sánh với thực tế quy định và áp dụng quy định về hardship tại một số quốc gia và theo một số nguồn luật quốc tế, người viết đề xuất một số ý kiến về diễn giải và áp dụng Điều 420 tại Việt Nam.

1. Về nguyên tắc chung cho việc áp dụng quy định tại Điều 420 về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 152/TANDTC-PC NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG, XỬ LÝ NỢ XẤU

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân cấp cao;
– Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của một số Tòa án, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một số tổ chức tín dụng và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam về vướng mắc khi giải quyết tranh chấp nhằm xử lý tài sản bảo đảm của các hợp đồng tín dụng.

Liên quan vấn đề nêu trên, ngày 19-6-2014, Quốc hội thông qua Luật Phá sản số 51/2014/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2015; ngày 24-11-2015, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Dân sự năm 2015) và Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2016 trừ một số quy định có liên quan đến quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành các Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của các đạo luật này. Đặc biệt, ngày 21-6-2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, trong đó giao cho Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại Nghị quyết này.

Để bảo đảm giải quyết các tranh chấp hiệu quả, góp phần xử lý nợ xấu, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, các Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục triển khai thực hiện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; trong đó, lưu ý một số nội dung sau đây:

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/QH14 NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA QUỐC HỘI VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

2. Tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu).

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Continue reading

THANH LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG LUẬT DÂN SỰ PHÁP THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐẠO LUẬT NGÀY 23 THÁNG 3 NĂM 2006

Hình ảnh có liên quanPGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNTrường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không phải là vấn đề mới trong luật dân sự Pháp cũng như luật dân sự Việt Nam hay hầu hết các luật dân sự của các quốc gia khác trên thế giới. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ xuất hiện tương đối sớm trong hệ thống pháp luật La Mã cổ đại. Khái niệm này xuất hiện cũng lâu đời như khái niệm về nghĩa vụ dân sự[1]. Nhưng đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp[2] đã có rất nhiều thay đổi về hình thức lẫn nội dung các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà rõ ràng nhất là về mặt hình thức. Sự thay đổi này có rất nhiều điểm mới, tiến bộ. Tìm hiểu và so sánh để tìm ra những điểm tương đồng để có thể giải thích và vận dụng cho các vấn đề tương tự của luật Việt Nam, bài viết đề cập đến vấn đề về thanh lý thế chấp theo đạo luật ngày 23/3/2006 của Nghị viện Pháp.

1. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm đối với các biện pháp bảo đảm đối vật nói chung theo quy định của pháp luật dân sự Pháp

Trước khi đề cập trực tiếp đến các quy định của luật dân sự Pháp về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm, thiết nghĩ nên đề cập qua về tập hợp các phương thức xử lý tài sản bản đảm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của pháp luật Việt Nam được xây dựng như là một phần nhỏ trong cơ cấu chung về nghĩa vụ dân sự của BLDS. Theo quy định hiện nay chúng ta có tổng cộng 7 biện pháp bảo đảm là bảo lãnh; thế chấp; cầm cố; ký cược; ký quỹ; đặt cọc; tín chấp.

Nhà làm luật Việt Nam không có ý định phân chia một cách chi tiết các biện pháp bảo đảm nói trên theo từng nhóm riêng biệt. Tuy vậy, thực tiễn công tác nghiên cứu vẫn có xu hướng sắp xếp các biện pháp bảo đảm nói trên thành hai phân nhóm trên cơ sở sự khác biệt về các quyền của bên nhận bảo đảm nói chung. Hai phân nhóm được chấp nhận trong phân chia đó là các biện pháp bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Sự phân chia này hoàn toàn giống với cách phân chia trong luật của Pháp. Trong đó, các biện pháp bảo đảm đối vật tạo ra cho chủ nợ nhận bảo đảm quyền đối vật trên tài sản bảo đảm, bao gồm quyền được nắm giữ (nắm giữ vật chất hoặc nắm giữ tượng trưng) đối với tài sản bảo đảm và quyền được ưu tiên thanh toán theo thứ tự được xác định khi tài sản bảo đảm được bán. Trong khi đó, biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh) chỉ tạo ra cho chủ nợ quyền đối nhân, quyền được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đối với một người khác, không phải là người mắc nợ.

Continue reading

RỦI RO PHÁP LÝ KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẠI TÒA ÁN – GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

Kết quả hình ảnh cho contract disputesPGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. Dẫn nhập

Khi quan sát mô hình và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy hai điểm khá bất thường: quy mô kinh doanh nhỏ[1]và “văn hóa bia rượu”, chi phí tiếp khách trong kinh doanh khá lớn [2]. Hai đặc điểm này, theo chúng tôi, là hệ quả của việc rủi ro cao trong thực thi hợp đồng, khiến cho doanh nhân Việt gặp khó khăn khi liên kết hợp tác làm ăn quy mô lớn và cần nhiều thời gian, chi phí và các cách thức khác nhau để thẩm định đối tác.

Chúng tôi sẽ bước đầu nhận diện các rủi ro pháp lý trong thực thi hợp đồng; giải mã những tập quán kinh doanh bất thường; đưa ra các khuyến nghị chính sách loại bỏ, giảm bớt các rủi ro này, hướng tới môi trường kinh doanh ít rủi ro, cắt giảm chi phí kinh doanh không cần thiết, nâng cao độ hấp dẫn, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Hiện tượng bội tín trong kinh doanh không chỉ liên quan đến bản thân luật hợp đồng, mà còn liên quan đến một loạt các chế định như: thời hiệu khởi kiện, phạm vi bồi thường, tố tụng dân sự, thiếu chế tài hình sự cần thiết, thi hành án, phí luật sư… Bài viết này cũng trực tiếp góp ý vào Dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm cung cấp giải pháp tổng thể, góp phần khắc phục tận gốc những rủi ro trong thực thi hợp đồng.

2. Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Khi phát sinh tranh chấp, nếu các bên không thương lượng, hòa giải thành công và không có cơ hội giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại, các bên phải đưa vụ việc ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nhưng ở đó, có nhiều rủi ro pháp lý sẽ bủa vây nguyên đơn.

2.1. Rủi ro bị từ chối thụ lý đơn kiện vì lý do hết thời hiệu khởi kiện

Điều 427 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Không ít rủi ro pháp lý đã diễn ra trong thực tế liên quan đến điều khoản này, bởi các nguyên nhân sau:

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho Guarantee civil obligationsLS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Công ty Luật Basico, Trọng tài viên VIAC

Tóm tắt: Kể từ khi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định về 03 biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, đến nay pháp luật đã quy định 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và bảo đảm thực hiện hợp đồng nói riêng. Trong đó, 03 Bộ luật Dân sự đóng vai trò chủ yếu, mà hiện tại là Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, theo tác giả, vẫn còn nhiều sự chồng chéo, mâu thuẫn, vướng mắc cần được giải quyết một cách cơ bản, tổng thể và đồng bộ.

1. Các biện pháp bảo đảm theo quy định chung

1.1. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989

Pháp lệnh này chỉ quy định 3 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cầm cố, thế chấp tài sản và bảo lãnh tài sản.

Nghị định số 17-HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ) “Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế”, đã quy định: Cầm cố là việc dùng động sản và giao cho bên nhận cầm cố. Thế chấp là việc dùng động sản hoặc bất động sản và không giao cho bên nhận thế chấp. Bảo lãnh là việc dùng động sản hoặc bất động sản và để bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba.

Trước đó “Quy định về việc thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng”, ban hành kèm theo Quyết định số 156/NH-QĐ ngày 18/11/1989 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng quy định thế chấp hoặc bảo lãnh vay vốn ngân hàng có thể bằng bất động sản hoặc động sản như tiền gửi, vàng bạc, các vật dụng sinh hoạt,…

1.2. Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991

Pháp lệnh này có hiệu lực cùng với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, quy định 4 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc và bảo lãnh.

Pháp lệnh đã quy định như sau: Cầm cố là việc dùng động sản và giao cho bên nhận cầm cố. Thế chấp là việc dùng bất động sản và không giao cho bên nhận thế chấp. Đặt cọc là việc dùng tiền (chưa cho phép đặt cọc bằng các động sản khác như sau này) và giao cho bên nhận đặt cọc. Bảo lãnh là việc dùng hoặc không dùng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác.

Continue reading

%d bloggers like this: