BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (Dự thảo 1)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở về bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm; tài sản bảo đảm; xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và xử lý tài sản bảo đảm.

Continue reading

TRÌNH TỰ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP tại các tổ chức tín dụng

 LẠI HIỆP PHONG – TAND thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Thực tiễn xử lý tài sản thế chấp tại các tổ chức tín dụng (TCTD) khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong trường hợp bảo lãnh bằng việc thế chấp tài sản của bên thứ ba đảm bảo cho khoản vay tại các TCTD đang còn có nhiều quan điểm khác nhau.

Nhiều quan điểm khác nhau

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ VẤN ĐỀ: Ngân hàng nhận thế chấp đối với tài sản có bảo lưu quyền sở hữu

THS. PHẠM THỊ THÚY – Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Ngày 15/9, Tạp chí có bài “Ngân hàng có được nhận thế chấp đối với tài sản có bảo lưu quyền sở hữu không?” đặt ra vấn đề rất thiết thực hiện nay, chúng tôi đồng tình với các tác giả và xin được trao đổi thêm.

Chúng tôi đồng tình với nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào và Nguyễn Đức Tĩnh về vấn đề ngân hàng nhận thế chấp đối với tài sản bảo lưu quyền sở hữu khi cho rằng: “Ngân hàng hoàn toàn không phải là bên nhận thế chấp ngay tình mà Ngân hàng buộc phải biết tài sản thế chấp có bảo lưu quyền sở hữu thông qua việc kiểm tra và xem xét hợp đồng mua bán. Do đó, hợp đồng thế chấp đối với tài sản có bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp này cần phải xem xét và tuyên vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của luật”.

Continue reading

QUẢN LÝ RỦI RO PHÁP LÝ khi nhận bảo đảm bằng tiền gửi và số dư tài khoản thanh toán

TS. BÙI ĐỨC GIANG

Bảo đảm bằng tiền gửi là một biện pháp bảo đảm khá phổ biến trong nghiệp vụ cấp tín dụng, nhất là, trong trường hợp cấp tín dụng cho cá nhân. Tính ưu việt của biện pháp bảo đảm này nằm ở chỗ, về nguyên tắc, nó có thể được xử lý một cách khá dễ dàng. Bên gửi tiền có thể sử dụng tiền gửi để bảo đảm cho nghĩa vụ của một bên khác hoặc khách hàng yêu cầu tổ chức tín dụng (TCTD) cấp bảo lãnh có thể sử dụng tiền gửi làm tài sản bảo đảm. Continue reading

TÀI SẢN CÓ BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU: Ngân hàng có được nhận thế chấp không?

TS. NGUYỄN NGỌC ANH ĐÀO – Đại học Ngân hàng TP.HCM & ThS. NGUYỄN ĐỨC TĨNH – Thẩm phán TAND Quận 1, TP.HCM

Trong bài viết này chúng tôi trao đổi trên cơ sở bài viết “Biện pháp khẩn cấp tạm thời “cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định”” của tác giả Đặng Thanh Hoa và Nguyễn Ngọc Quỳnh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân online ngày 25/8/2020 và mở rộng vấn đề liên quan đến việc Ngân hàng nhận thế chấp tài sản có bảo lưu quyền sở hữu là không hợp pháp. Continue reading

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

 LÊ THỊ HƯƠNG GIANG – BSH

PHẠM THỊ THÚY HẰNG – PTI

Trong Hợp đồng bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng thường có điều khoản loại trừ bảo hiểm. Bài viết dưới đây xin được nêu lên một số ý kiến về thực tiễn áp dụng, một số bất cập trong quy định pháp luật và các tranh chấp thường xảy ra liên quan đến điều khoản loại trừ bảo hiểm. Đồng thời cũng xin đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ. Continue reading

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA BÊN THUÊ VÀ BÊN NHẬN THẾ CHẤP TÀI SẢN: Góc nhìn từ thực tiễn

THS. NGUYỄN THÙY DƯƠNG & TS. BÙI ĐỨC GIANG

Trong thực tế cấp tín dụng, việc bên thế chấp cho thuê tài sản thế chấp là một cách thức khai thác giá trị tài sản thế chấp khá phổ biến. Pháp luật hiện hành còn chưa xác lập được hành lang pháp lý hoàn chỉnh giải quyết mối quan hệ giữa bên thuê tài sản và bên nhận thế chấp chính tài sản đó. Chính vì lý do đó, vẫn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro pháp lý đối với ngân hàng là bên nhận thế chấp trong trường hợp này.

Hợp đồng thế chấp được xác lập trước hợp đồng thuê

Khoản 6 Điều 321 Bộ luật dân sự quy định bên thế chấp “được cho thuê […] tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê […] biết về việc tài sản cho thuê […] đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết”. Đây là trường hợp tài sản được thế chấp cho ngân hàng trước và sau đó, bên thế chấp (là chủ sở hữu của tài sản) cho một bên khác thuê tài sản.

Theo điều luật nêu trên thì tài sản thế chấp có thể cho thuê nhưng bên thế chấp phải thông báo cho bên thuê và bên nhận thế chấp. Việc thông báo này là cần thiết vì bên thuê cần được biết việc bên nhận thế chấp đã xác lập quyền đối với tài sản thuê và bên nhận thế chấp cũng cần biết được việc bên thế chấp đang khai thác tài sản thông qua việc cho thuê để thuận tiện cho việc quản lý tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm. Từ góc độ của bên nhận thế chấp, nghĩa vụ thông báo này cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 320 Bộ luật dân sự, theo đó bên thế chấp có nghĩa vụ “cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp”.

Continue reading

BẢO ĐẢM TÍNH AN TOÀN CHO HỢP ĐỒNG, CHO BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CHO GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995 CỦA VIỆT NAM

 MICHEL CORDIER – Chủ tịch danh dự Hội đồng Công chứng tối cao, Cộng hòa Pháp

1. S an toàn trong hp đồng

Cũng giống như Bộ luật Dân sự Pháp[1], Bộ luật Dân sự Việt Nam (1995) có định nghĩa về hợp đồng dân sự[2], nhưng lại không quy định về các loại chứng cứ chứng minh nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Trong khi đó, để chứng minh cho các bên có liên quan và cho tòa án về sự tồn tại, về nội dung và phạm vi của một cam kết, thì nhất thiết phải có một cơ sở pháp lý. Bộ luật Dân sự Pháp[3] quy định các loại chứng cứ, bao gồm: “chng c viết, nhân chng, suy đoán, li thú nhn ca đương s và li th”. Và cũng như các nước theo “lut thành văn[4], Bộ luật Dân sự Pháp cũng xác định trật tự các loại chứng cứ, theo đó chứng cứ viết là có giá trị cao nhất, và công chứng thư có giá trị cao hơn tư chứng thư do các bên ký. Công chứng thư do một “nhân viên công quyn” (công chứng viên là người được uỷ quyền thực hiện quyền lực nhà nước) lập, nên bảo đảm hoàn toàn giá trị của hợp đồng được chứng nhận[5].

Nhất thiết Bộ luật Dân sự phải khẳng định những nguyên tắc nêu trên, vì Bộ luật Dân sự là nền tảng của hệ thống luật dân sự của mỗi quốc gia. Những nguyên tắc này có thể được đưa vào Phần III của Bộ luật Dân sự Việt Nam, phần về “Nghĩa v dân s và hp đồng dân s”.

Continue reading

VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC TẠI TÒA ÁN

THS. HÀ THÁI THƠ – TAND huyện Vị Thủy- Hậu Giang

THS. HUỲNH XUÂN TÌNH TAND huyện Vị Thanh- Hậu Giang

Tranh chấp hợp đồng đặt cọc là vấn đề phức tạp nhưng lại có tính thời sự, thực tiễn cấp bách mà không phải ai cũng nhận biết rõ và áp dụng đúng trên thực tế. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số vấn đề cơ bản còn vướng mắc và chưa được áp dụng thống nhất trong thực tiễn xét xử.

Có thể nói, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc đang dần trở nên phổ biến trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nhất là việc xác định hợp đồng đặt cọc có hiệu lực hay vô hiệu, cũng như xác định lỗi để xem xét có phạt cọc hay không. Để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì cần phải hiểu và áp dụng đúng quy định của pháp luật khi giải quyết vụ án.

I. Quy định của pháp luật hiện hành về đặt cọc

Điều 328 Bộ luật dân sự (BLDS) quy định về Đặt cọc như sau:

“1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Continue reading

BẤT KHẢ KHÁNG VÀ NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ TÀI SẢN

PGS.TS. NGÔ QUỐC CHIẾN – Trường Đại học Ngoại thương

Nghĩa vụ trả lại tài sản, có thể có các tên gọi khác nhau trong các hợp đồng khác nhau, nhưng có chung một bản chất là khi hết hạn hợp đồng thì một bên đã nhận tài sản từ bên kia có nghĩa vụ trả lại tài sản cho bên kia. Đó có thể là nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài sản, nghĩa vụ trả lại tài sản thuê khoán trong hợp đồng thuê khoán tài sản hay nghĩa vụ trả lại tài sản mượn trong hợp đồng mượn tài sản[1]. Trong thực tế, có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ trả lại tài sản rơi vào hoàn cảnh bất khả kháng và câu hỏi đặt ra là bất khả kháng có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm hay không ? Do các hợp đồng nêu trên đều là các hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự nên cần nghiên cứu bất khả kháng với ý nghĩa là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự nói chung (1). Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, chúng tôi sẽ nghiên cứu bất khả kháng và nghĩa vụ hoàn trả (2).

1. Bất khả kháng – căn cứ miễn trách nhiệm dân sự

Khi một nghĩa vụ được phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc trên cơ sở luật định thì chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đó dù đã áp dụng mọi biện pháp hợp lý. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước đều có quy định về các căn cứ miễn trách nhiệm, và một trong số đó là bất khả kháng. Quy định về bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự, hoãn thực hiện nghĩa vụ, điều chỉnh nghĩa vụ… được quy định cả trong Bộ luật dân sự (BLDS) với ý nghĩa là một đạo luật nền tảng điều chỉnh các quan hệ tư, và trong nhiều đạo luật chuyên ngành, như Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Hàng không dân dụng năm 2014…

Continue reading

TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN HOẶC ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN MÀ KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hải ngoại Pháp

1. Giới hạn vấn đề

Tình huống dự kiến trong thực tiễn là một người tiếp nhận một tài sản, nói chung, một lợi ích trong khi căn cứ pháp lý của việc tiếp nhận lại không tồn tại. Các nguyên nhân của tình huống rất đa dạng: có một vụ trộm hoặc cướp và tài sản nằm trong tay kẻ trộm, cướp; một người nhặt được tài sản rơi vãi mà không tiến hành thủ tục khai trình tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thông báo công khai theo quy định của pháp luật[1]; một người nhận hàng được giao theo một hợp đồng mua bán do người bán ghi nhầm địa chỉ nhận hàng, nhưng giữ luôn không giao trả;…

BLDS phân biệt nghĩa vụ hoàn trả tuỳ theo nghĩa vụ được xác lập trong trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật gây thiệt hại cho người khác. 

“Điều 579. Nghĩa vụ hoàn trả

1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ BẢO LÃNH THẾ CHẤP

clip_image002Khi ký một hợp đồng cho vay, tổ chức tín dụng thường đòi hỏi sự bảo đảm đối với người đi vay. Trong số những hình thức bảo đảm, chúng ta thấy hình thức bảo lãnh thế chấp.

Khái niệm: Khi cá nhân hay pháp nhân đem một (hay nhiều) tài sản bất động sản làm vật bảo đảm cho một khoản vay, tài sản đó trở thành tài sản bị thế chấp. Đó chính là việc sử dụng một tài sản làm vật bảo lãnh cho một khoản nợ của người khác.

Khi nào cần tới bảo lãnh thế chấp?

– Khi khoản vay có mức độ rủi ro lớn.

– Khi người vay không có bất kỳ bất động sản nào và hoàn cảnh lúc đi vay của người này đòi hỏi phải có bảo lãnh thế chấp.

– Khi người vay là chủ sở hữu một tài sản bất động sản không thể phân chia và những chủ sở hữu khác không chấp thuận việc đem thế chấp tài sản đó.

1. Vic t chc bo lãnh thế chp

1.1. Nhng điu kin v mt hình thc

Ngoài những điều kiện liên quan đến hợp đồng, còn có những điều kiện đặc biệt khác liên quan đến việc tổ chức bảo lãnh thế chấp:

Continue reading

CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ TRONG XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (Thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm)

A. Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ

Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ tháng 4 năm 2020 quyết nghị: Thống nhất thông qua Đề nghị xây dựng Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhằm kịp thời hướng dẫn áp dụng cơ chế pháp lý thi hành quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật khác liên quan về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; khắc phục kịp thời những vướng mắc, bất cập phát sinh trong quy định của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; tạo điều kiện thuận lợi, giảm thiểu rủi ro pháp lý, chi phí cho các bên tham gia quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và các chủ thể khác có liên quan.

Giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trình Chính phủ tháng 12 năm 2020.

B. Các chính sách xây dựng Nghị định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại Tờ trình Chính phủ số 20/TTr-BTP ngày 09/4/2020 của Bộ Tư pháp đã được Chính phủ Quyết nghị thông qua

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

Trải qua hơn 13 năm thi hành, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012) quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) đã góp phần tích cực trong tạo lập, hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, làm tăng cơ hội tiếp cận cho người dân trong tham gia quan hệ nghĩa vụ, trong tìm kiếm các nguồn vốn và thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế – xã hội liên quan.

Continue reading

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG QUYỀN TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

TS. BÙI ĐỨC GIANG & THS. NGUYỄN HOÀNG LONG

Ngày nay, các tài sản vô hình (quyền tài sản) có xu hướng chiếm một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản vô hình để bảo đảm nghĩa vụ có rất nhiều ưu điểm so với tài sản hữu hình bởi vì giúp tránh được nguy cơ tài sản bị mất, bị phá hủy hay giảm giá trị.

Hơn nữa, tài sản vô hình có thể được lưu trữ và chuyển giao bằng các phương tiện điện tử mà không chịu hạn chế về mặt kích thước hay không cần phải chuyển giao về mặt vật chất. Chỉ bằng một cái nhấn chuột máy tính, tài sản vô hình có thể vượt qua biên giới một nước. Chính vì thế, đây là một loại tài sản khá lý tưởng để bảo đảm khoản vay[1]. Tuy vậy, ở Việt Nam, việc cho vay theo tài sản vô hình chưa thực sự phổ biến. Ngoài tâm lý “chuộng” tài sản hữu hình quy định pháp luật hiện hành vừa thiếu vừa ít tính khả thi đang là rào cản lớn cho việc xác lập và xử lý các giao dịch bảo đảm bằng tài sản vô hình.

1. Khái niệm quyền tài sản và giao dịch bảo đảm với quyền tài sản

Khác với pháp luật của nhiều nước, tài sản vô hình ở Việt Nam được pháp luật ghi nhận thông qua khái niệm “quyền tài sản”. Quyền tài sản là một loại tài sản đã được quy định trong các bộ luật dân sự của Việt Nam [2].

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: