BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)
Advertisements

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ, NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/NQ-QH NGÀY 21/6/2017 CỦA QUỐC HỘI VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

TS. TRẦN VĂN HÀ –  Phó Vụ trưởng, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, Tòa án nhân dân tối cao

Thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

1. Tình hình giải quyết

Theo số liệu Báo cáo của 47/64 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về tình hình giải quyết vụ án liên quan đến nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Tòa án nhân dân các cấp nhận được 11 đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, trong đó số vụ án tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn là 05 vụ. Qua báo cáo của các Tòa án thấy rằng, số đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và số vụ án tranh chấp về nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn là rất khiêm tốn.

Nguyên nhân là do việc áp dụng thủ tục rút gọn đối với loại việc này phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Phần thứ tư của Bộ luật Tố tụng dân sự về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn. Các tranh chấp này thường liên quan hợp đồng tài chính tín dụng – một trong những lĩnh vực chuyên môn khó; khi đã khởi kiện đến Tòa án thì thường rất phức tạp, đương sự nại ra nhiều lý do để kéo dài thời gian giải quyết vụ án; việc xử lý tài sản bảo đảm gặp khó khăn chủ yếu do đương sự cố tình chống đối, các bên không thống nhất về giá tài sản, việc định giá tài sản mất thời gian, v.v. Đồng thời, trong bối cảnh, Thẩm phán, cán bộ Tòa án phải giải quyết số lượng vụ việc ngày càng lớn, gia tăng áp lực về thời gian, khối lượng công việc; chưa mạnh dạn triển khai thực hiện thủ tục rút gọn vì chưa có “tiền lệ”, tâm lý “sợ sai sót” trong quá trình xét xử đã phần nào dẫn đến số lượng vụ việc xử lý nợ xấu thông qua thủ tục rút gọn tại Tòa án chưa nhiều.

2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

2.1. Khó khăn, vướng mắc

Continue reading

Advertisements

NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ VƯỚNG MẮC CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG VÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ KHÁC TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

NGUYỄN THÀNH LONG – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Căn cứ phản ánh của các Tổ chức tín dụng (TCTD) hội viên, Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng – Hiệp hội Ngân hàng xin báo cáo những khó khăn, vướng mắc của các TCTD trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa án và kiến nghị, đề xuất như sau:

<p align="justify"><span style="color: rgb(128, 0, 0);"><b>Ph</b><b>ầ</b><b>n 1: Khó khăn, vư</b><b>ớ</b><b>ng m</b><b>ắ</b><b>c trong vi</b><b>ệ</b><b>c th</b><b>ự</b><b>c hi</b><b>ệ</b><b>n th</b><b>ủ</b><b> tục t</b><b>ố</b><b> tụng, gi</b><b>ả</b><b>i quy</b><b>ế</b><b>t tranh ch</b><b>ấ</b><b>p trong hoạt đ</b><b>ộ</b><b>ng ngân hàng và đ</b><b>ề</b><b> xu</b><b>ấ</b><b>t, ki</b><b>ế</b><b>n nghị</b></span></p>    <p align="justify"><b>I. Vư</b><b>ớ</b><b>ng m</b><b>ắ</b><b>c, b</b><b>ấ</b><b>t c</b><b>ậ</b><b>p c</b><b>ủ</b><b>a pháp lu</b><b>ậ</b><b>t </b></p>    <p align="justify"><b><i>1. </i></b><b><i>V</i></b><b><i>ề</i></b><b><i> vi</i></b><b><i>ệ</i></b><b><i>c gi</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>i quy</i></b><b><i>ế</i></b><b><i>t tranh ch</i></b><b><i>ấ</i></b><b><i>p v</i></b><b><i>ề</i></b><b><i> t</i></b><b><i>à</i></b><b><i>i s</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>n b</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>o </i></b><b><i>đ</i></b><b><i>ả</i></b><b><i>m theo th</i></b><b><i>ủ</i></b><b><i> t</i></b><b><i>ụ</i></b><b><i>c rút gọn </i></b><i></i></p>    <p align="justify">Sau gần 01 năm kể từ ngày Nghị quyết 42/NQ-QH có hiệu lực thi hành, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn. Mặc dù vậy, đến nay tại các TCTD hầu như chưa có vụ việc nào được Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn. Thực trạng nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:</p><!--more--><p align="justify">(i) Nghị quyết 42/NQ-QH (Nghị quyết 42) cũng như nội dung hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 chỉ quy định, điều chỉnh về <i>(i) t</i><i>ranh ch</i><i>ấ</i><i>p v</i><i>ề</i><i> ngh</i><i>ĩ</i><i>a vụ giao tài s</i><i>ả</i><i>n b</i><i>ả</i><i>o đ</i><i>ả</i><i>m c</i><i>ủ</i><i>a kho</i><i>ả</i><i>n n</i><i>ợ</i><i> x</i><i>ấ</i><i>u</i><i>; và (ii) t</i><i>ranh ch</i><i>ấ</i><i>p v</i><i>ề</i><i> quy</i><i>ề</i><i>n x</i><i>ử</i><i> lý tài s</i><i>ả</i><i>n b</i><i>ả</i><i>o đ</i><i>ả</i><i>m c</i><i>ủ</i><i>a kho</i><i>ả</i><i>n n</i><i>ợ</i><i> x</i><i>ấ</i><i>u</i>. Trong khi đó quan hệ cho vay – quan hệ bảo đảm có sự liên quan mật thiết, thống nhất trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, thông thường khi xảy ra tranh chấp cần được giải quyết đồng thời. Vì vậy, trường hợp phải giải quyết tranh chấp về quan hệ tín dụng thì tranh chấp này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 42 và Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP;</p>    <p align="justify">(ii) Khoản 2, Điều 8 Nghị quyết 42 quy định <i>“Vi</i><i>ệ</i><i>c gi</i><i>ả</i><i>i quy</i><i>ế</i><i>t tranh ch</i><i>ấ</i><i>p quy định tại kho</i><i>ả</i><i>n 1 Đi</i><i>ề</i><i>u này đư</i><i>ợ</i><i>c th</i><i>ự</i><i>c hi</i><i>ệ</i><i>n theo th</i><i>ủ</i><i> tục rút gọn quy định tại B</i><i>ộ</i><i> lu</i><i>ậ</i><i>t T</i><i>ố</i><i> tụng dân s</i><i>ự</i><i>”</i>. Tuy nhiên, hiện nay các trường hợp loại trừ áp dụng thủ tục rút gọn tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (quy định cụ thể tại Điều 317) là rất rộng.</p>    <p align="justify">Từ các yếu tố pháp lý nêu trên dẫn đến việc: Khách hàng vay, bên bảo đảm đưa ra ý kiến không thống nhất/từ chối nghĩa vụ nợ, nghĩa vụ được bảo đảm, giá trị định giá TSBĐ, hoặc cố tình vắng mặt khỏi nơi cư trú... nhằm tạo ra các điều kiện không đáp ứng việc áp dụng thủ tục rút gọn để trốn tránh, trì hoãn thực hiện nghĩa vụ với TCTD. Đối với những trường hợp này, Thẩm phán được phân công giải quyết tranh chấp sẽ lựa chọn giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường để tránh phát sinh trách nhiệm liên quan.</p>    <p align="justify"><span style="font-size: xx-small;">… </span></p>        <hr />        <p align="justify"><strong><span style="color: rgb(255, 0, 0);">TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ <a title="Click để tra cứu tài liệu" href="https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/wp-content/uploads/2020/03/Nguyen-Thanh-Long.pdf"><span style="color: rgb(0, 0, 255);">TẠI ĐÂY</span></a> </span></strong></p>        <hr />        <p><b>SOURCE: HỘI THẢO “THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤ[ LIẾN QUAN ĐẾN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN”, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – HIỆP HỘI NGÂN HÀNG VIỆT NAM, NGÀY 04/10/2019. HỘI AN, QUẢNG NAM.</b></p></b>

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LÀM RÕ KHI ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 LIÊN QUAN ĐẾN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Trường Đại học Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

THS. ĐỖ THỊ BÔNG – Khoa Kinh tế Luật, Đại học Tây Nguyên

Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) bao hàm những quy định tương đối sâu rộng về chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, để thực hiện chế định này, đòi hỏi BLDS năm 2015 về chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cần được cụ thể hoá bằng một văn bản hướng dẫn thi hành. Trước đây, chế độ bảo đảm nghĩa vụ theo Bộ luật dân sự năm 2005 được hướng dẫn thực hiện bằng Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/0/2012. Trong bối cảnh áp dụng BLDS năm 2015, cần thay thế các nghị định nêu trên bằng một nghị định mới.    

1. Trường hợp dùng một tài sản bảo đảm nhiều nghĩa vụ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 296 BLDS năm 2015, một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 07/2019/TT-BTP NGÀY 25/11/2019 HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn một số quy định về đăng ký, từ chối đăng ký, biểu mẫu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, pháp nhân có yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

2. Hộ gia đình là người sử dụng đất có yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật đất đai, Bộ luật dân sự.

3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi chung là Văn phòng đăng ký đất đai).

4. Chủ thể khác có yêu cầu đăng ký hoặc có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật thi hành án dân sự, Luật phá sản hoặc luật khác có liên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỚI KHÁCH HÀNG VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

VỤ PHÁP CHẾ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. V thế chp đ bo đm nghĩa vụ ca bên th ba

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba là một hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của bên vay vốn đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của loại hợp đồng này trong thực tiễn còn có nhiều ý kiến khác nhau và có thể để lại hệ quả xấu cho ngân hàng thương mại. Nội dung này trước đây khi Bộ luật Dân sự 2015 chưa ban hành, có hiệu lực, trên cơ sở thực tiễn một số bản án của TAND các cấp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam[1], Bộ Tư pháp[2] và Hiệp hội ngân hàng[3] cũng đã có ý kiến chính thức, phản ánh gửi đến TAND tối cao. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện tổng kết quy định của Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục nhận được phản ánh của một số TCTD [4]liên quan đến vấn đề này.

Theo đó, quy định về thế chấp tài sản tại Điều 317 Bộ luật dân sự 2015, Ðiều 342 Bộ luật Dân sự 2005 đã xác định bên thế chấp có quyền dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không hạn chế đó là nghĩa vụ của mình hay của người khác. Đồng thời, theo quy định tại Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015, bên bảo lãnh có thể sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, hiện nay, trong quá trình giải quyết tranh chấp của ngành Tòa án chưa có quan điểm thống nhất chấp nhận giao dịch bảo đảm dưới hình thức cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác (bên thứ ba); không chấp nhận giao dịch bảo đảm thế chấp, cầm cố mà coi là bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh. Thực tế thời gian qua một số Tòa án địa phương [5]đã có quan điểm Hợp đồng thế chấp/cầm cố tài sản của bên thứ ba là không đúng quy định của Bộ luật dân sự và tuyên hợp đồng này vô hiệu. Việc tòa án ra quyết định tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp là không phù hợp với các quy định của pháp luật về thế chấp bằng QSDÐ của bên thứ ba và gây nên sự xáo trộn rất lớn trong đời sống xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, đồng thời có thể tạo ra một hoặc nhiều hệ quả pháp lý không mong muốn như sau:

Continue reading

KINH NGHIỆM NHẬT BẢN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

LS. EDAGAWA MITSUSHI – Chuyên gia JICA

Continue reading

TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

MICHEL GRIMALDI – Giáo sư trường Đại học Paris II, Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

Trong phần giới thiệu tổng quát này, tôi muốn nhấn mạnh 3 vấn đề. Đầu tiên là lợi ích của các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự (BPBĐ) nói chung. Thứ hai là phân loại các BPBĐ và thứ ba là quá trình phát triển lịch sử của pháp luật về các BPBĐ của Pháp. Đây là ba nội dung của phần giới thiệu tổng quát này.

Vấn đề thứ nhất, lợi ích của các BPBĐ là gì? Để hiểu được lợi ích của các BPBĐ, phải xuất phát từ tình huống một chủ nợ không có bảo đảm và không được thanh toán, có nghĩa là một chủ nợ không dùng các BPBĐ và con nợ không thanh toán. Tình trạng của chủ nợ này được xác định bởi hai nguyên tắc cơ bản được quy định tại các Điều 2284 và 2285 BLDS Pháp. Nguyên tắc đầu tiên được quy định tại Điều 2284 mà theo đó chủ nợ có quyền cầm cố nói chung trên tất cả các tài sản của con nợ. Nhưng ở đây, cần phải chú ý đến các từ ngữ, khi nói rằng chủ nợ không có bảo đảm có quyền cầm cố nói chung, từ “cầm cố” không chỉ một BPBĐ mà chỉ có nghĩa đơn giản là chủ nợ không có bảo đảm có thể kê biên mọi tài sản của con nợ. Nhưng cũng cần chú ý, nếu Điều 2284 quy định rằng chủ nợ không có bảo đảm có thể kê biên mọi tài sản của con nợ thì điều đó có nghĩa rằng họ không thể kê biên những tài sản khác ngoài những tài sản thuộc về con nợ. Điều này có nghĩa rằng họ không thể kê biên các tài sản đã từng thuộc về con nợ nhưng con nợ đã chuyển nhượng hoặc bán đi. Theo ngôn ngữ chuyên ngành, người ta nói rằng chủ nợ không có bảo đảm không có quyền truy đuổi tài sản vì họ không thể được thanh toán bằng các tài sản đã từng thuộc về con nợ nhưng con nợ đã chuyển nhượng. Đó là nguyên tắc đầu tiên theo Điều 2284 BLDS.

Continue reading

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ HÌNH SỰ, DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 64/TANDTC-PC NGÀY 3 THÁNG 4 NĂM 2019 (Trích dẫn)

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 09-01-2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức buổi giải đáp trực tuyến toàn quốc về một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp vướng mắc như sau:

VỀ DÂN SỰ

1. Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Vậy giao dịch thế chấp đó có bị vô hiệu không?

Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định:

“…2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. …”

Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của Ban soạn thảo thì quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự là nhằm: …Bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự (các Bộ luật dân sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự)…”. Cho nên, cụm từ chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền sở hữu như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất… mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất.

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: