Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

VƯỚNG MẮC VỀ LÃI SUẤT, PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

 NGỌC TRÂM

Trong thời gian qua, do chưa có sự nhận thức thống nhất về các quy định pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng, dẫn đến tình trạng trong thực tiễn xét xử, cùng loại tranh chấp hợp đồng tín dụng, trong đó các bên thỏa thuận về lãi suất, thỏa thuận phạt vi phạm nhưng có Tòa án xử chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm; có Tòa án xử chỉ chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn mà không chấp nhận phạt vi phạm vì cho rằng tính lãi suất quá hạn đồng thời phạt vi phạm là “lãi chồng lãi”, “phạt chồng phạt”.

I. Một số hạn chế, vướng mắc

Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng trong thời gian qua có một số hạn chế, vướng mắc sau: Hợp đồng tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc do các bên thỏa thuận. Theo nguyên tắc này thì lãi suất, lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận; phạt vi phạm cũng do các bên thỏa thuận.

Lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm được quy định trong các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật.

1. Về lãi suất, phạt vi phạm hợp đồng

Có thể thấy, lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm đều được quy định trong các bộ luật dân sự:

– BLDS năm 1995 (Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 313); phạt vi phạm (Điều 377); mức phạt vi phạm (Điều 378); quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (Điều 379); nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Điều 471); lãi suất Điều 473).

Continue reading

Advertisements

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA – DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH

THS. VŨ THỊ LAN HƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Lao động – Xã hội

Ngay từ thời La Mã cổ đại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra đã được các học giả La Mã đề cập đến thông qua quy định về tố quyền cautio damni infecti (tố quyền để bảo vệ sự thiệt hại viễn ảnh[1]). Theo đó, trong trường hợp một tòa nhà có nguy cơ bị sụp đổ, tạo ra một mối đe dọa cho những người láng giềng thì những người này có quyền yêu cầu các Pháp quan buộc chủ sở hữu của tòa nhà phải nộp một số tài sản bảo đảm với mục đích nếu thiệt hại thực sự xảy ra thì người bị thiệt hại sẽ luôn được bồi thường. Cùng với tố quyền cautio damni infecti, Luật La Mã cũng quy định trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi các vật bị ném ra hoặc rơi ra khỏi tòa nhà (actio effusis et dejectis).

Kế thừa các quy định trong Luật La Mã, sau này, pháp luật dân sự của các quốc gia đều có quy định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Tuy nhiên, do được xây dựng dựa trên nền tảng những học thuyết khác nhau nên bản chất và nội dung của trách nhiệm này ở các quốc gia cũng được quy định khác nhau.

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật của Anh

Ở Anh không có quy định riêng về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Trách nhiệm này nằm trong trách nhiệm BTTH trên tài sản (Liability for harm occurring on premises) được quy định trong Luật về Trách nhiệm của người chiếm hữu năm 1957 và 1984 (Occupiers’ Liability Act 1957, 1984)[2]. Khái niệm “premises” (tài sản) trong trường hợp này được hiểu là “bất kỳ một cấu trúc cố định hoặc di động nào bao gồm cả tàu, xe hoặc máy bay”[3]. Trách nhiệm BTTH trên tài sản của Anh được xây dựng dựa trên học thuyết về sự cẩu thả (the tort of negligence[4]). Theo Baron Alderson trong Blyth v Birmingham Waterworks Company (1856) 11 Ex Ch 781, “sự cẩu thả” (negligence) là “việc bỏ qua không thực hiện những điều mà một người bình thường… sẽ làm hoặc làm những việc mà những người thận trọng bình thường sẽ không làm”[5].

Continue reading

QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Đại học Luật TPHCM, Trọng tài viên VIAC

BLDS năm 2015 ghi nhận thêm một loại quyền đối với tài sản: quyền hưởng dụng. Đây là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định (Điều 257)[1].

Với quy định trên, trong quan hệ hưởng dụng đối với một tài sản, có hai chủ thể là chủ sở hữu và người có quyền hưởng dụng. Trong quan hệ BTTH, có thể xảy ra hai trường hợp: trường hợp thứ nhất, tài sản có quyền hưởng dụng gây thiệt hại (như nhà bị sập gây thiệt hại); trường hợp thứ hai, tài sản có quyền hưởng dụng bị xâm phạm (như nhà bị thiệt hại). Câu hỏi đặt ra là: đối với trường hợp thứ nhất, ai chịu trách nhiệm BTTH và đối với trường hợp thứ hai, ai được BTTH? Bài viết tập trung luận giải hướng xử lý cho hai câu hỏi này.

1. Trường hợp tài sản có quyền hưởng dụng gây thiệt hại

– Tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật gây thiệt hại

Pháp luật dân sự ở nước ta hiện nay quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra. Theo đó, người chiếm hữu, sử dụng tài sản chịu trách nhiệm bồi thường nếu tài sản gây thiệt hại ở thời điểm người này đang chiếm hữu, sử dụng tài sản. Trong trường hợp tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, “nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường” (khoản 2 Điều 601 BLDS). Tương tự, theo quy định tại khoản 1 Điều 603 BLDS “người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải BTTH trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật”.

Continue reading

RỦI RO PHÁP LÝ KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẠI TÒA ÁN – GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

Kết quả hình ảnh cho contract disputesPGS.TS. VÕ TRÍ HẢO – Đại học Kinh tế TP.HCM

1. Dẫn nhập

Khi quan sát mô hình và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy hai điểm khá bất thường: quy mô kinh doanh nhỏ[1]và “văn hóa bia rượu”, chi phí tiếp khách trong kinh doanh khá lớn [2]. Hai đặc điểm này, theo chúng tôi, là hệ quả của việc rủi ro cao trong thực thi hợp đồng, khiến cho doanh nhân Việt gặp khó khăn khi liên kết hợp tác làm ăn quy mô lớn và cần nhiều thời gian, chi phí và các cách thức khác nhau để thẩm định đối tác.

Chúng tôi sẽ bước đầu nhận diện các rủi ro pháp lý trong thực thi hợp đồng; giải mã những tập quán kinh doanh bất thường; đưa ra các khuyến nghị chính sách loại bỏ, giảm bớt các rủi ro này, hướng tới môi trường kinh doanh ít rủi ro, cắt giảm chi phí kinh doanh không cần thiết, nâng cao độ hấp dẫn, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Hiện tượng bội tín trong kinh doanh không chỉ liên quan đến bản thân luật hợp đồng, mà còn liên quan đến một loạt các chế định như: thời hiệu khởi kiện, phạm vi bồi thường, tố tụng dân sự, thiếu chế tài hình sự cần thiết, thi hành án, phí luật sư… Bài viết này cũng trực tiếp góp ý vào Dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm cung cấp giải pháp tổng thể, góp phần khắc phục tận gốc những rủi ro trong thực thi hợp đồng.

2. Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Khi phát sinh tranh chấp, nếu các bên không thương lượng, hòa giải thành công và không có cơ hội giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại, các bên phải đưa vụ việc ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nhưng ở đó, có nhiều rủi ro pháp lý sẽ bủa vây nguyên đơn.

2.1. Rủi ro bị từ chối thụ lý đơn kiện vì lý do hết thời hiệu khởi kiện

Điều 427 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Không ít rủi ro pháp lý đã diễn ra trong thực tế liên quan đến điều khoản này, bởi các nguyên nhân sau:

Continue reading

BÀN VỀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN LỖI TẠI ĐIỀU 584 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Hình ảnh có liên quan THS.LS. LÊ VĂN SUA

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua với rất nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung theo hướng vì con người, đề cao các giá trị phổ biến về quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Trong đó, có nhiều sự thay đổi cơ bản liên quan đến chế định trách niệm dân sự bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng, đây là một trong những chế định pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong đời sống dân sự nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra. Là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự về BTTH ngoài hợp đồng.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến một số vấn đề xoay quanh quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015, đó là, “sự kiện bất khả kháng”; lỗi trong trách nhiệm dân sự BTTH ngoài hợp đồng được xác định dựa trên nguyên tắc suy đoàn lỗi hay nhà làm luật đã xác định sẳn. Thiết nghĩ, mấy vấn đề này cần được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần kịp thời ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thống nhất về nhận thức và áp dụng trong thực tiễn.

Điều 584 BLDS năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

So với Điều 604[1] BLDS năm 2005, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng hợp lý hơn với thực tế phát sinh tranh chấp. Theo quy định tại khoản 5 Điều 275 BLDS năm 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng.

Continue reading

KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Kết quả hình ảnh cho compensation liability of the stateBỘ TƯ PHÁP

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan nghiên cứu tiến hành nhiều hoạt động để tiếp cận với pháp luật nước ngoài về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN), trong đó, đã sưu tầm và dịch ra tiếng Việt Luật của khoảng 30 quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN, tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học về kinh nghiệm pháp luật của nước ngoài có sự tham gia của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước.

Trên cơ sở kết quả các công việc đã được tiến hành như nêu trên, Ban soạn thảo Dự án Luật TNBTCNN (sửa đổi) xin báo cáo về một số nội dung cơ bản của pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ về TNBTCNN để phục vụ cho việc soạn thảo Dự án Luật này.

1. Về nguồn của pháp luật về TNBTCNN

Về vấn đề này, giữa các nước có sự khác biệt rõ ràng, trong đó, đa số các nước có đạo luật riêng điều chỉnh TNBTCNN và ngược lại, ở một số ít các nước, pháp luật về TNBTCNN lại tản mát, không có tính hệ thống, không được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng biệt.

1.1. Một số nước có Luật điều chỉnh riêng TNBTCNN

Ở Châu Mĩ và Caribe, Canada và Hoa Kỳ là những quốc gia ở Bắc Mĩ có luật điều chỉnh riêng về TNBTCNN. Canada có luật về TNBTCNN từ rất sớm – Luật về Trách nhiệm Hoàng gia năm 1953 (Crow Liability Act). Đến năm 1985, Luật về Trách nhiệm Hoàng gia được sửa đổi thành Luật Thủ tục và trách nhiệm của Hoàng gia (Crow Liability and Proceedings Act 1985). Trên cơ sở các quy định chung của liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng để áp dụng trong phạm vi bang, như Bang Manibota (Crown proceedings Act 1990), Bang Ontario (Crown proceedings Act 1990 – được sửa đổi các năm 1994, 1997, 2004), Bang Nova Scotia (Crown proceedings Act 1989)… Đối với Hoa Kỳ, TNBTCNN tại Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang ban hành năm 1946 (Federal Tort Claims Act 1946). Ở khu vực Nam Mĩ thì một số quốc gia cũng có ban hành Luật riêng về TNBTCNN, điển hình là Guyana (State liability and proceedings Act 1998). Một số quốc gia ở khu vực Caribe cũng ban hành một luật riêng về TNBTCNN như Jamaica (Crown proceedings Act 1962).

Continue reading

MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHẾ TÀI CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005 CẦN ĐƯỢC HOÀN THIỆN

Kết quả hình ảnh cho commercial law LS. LÊ VĂN SUA

Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, Luật này ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang đàm phán gia nhập WTO (viết tắc từ tiếng Anh World Trade Organization), nó có vai trò là sứ mệnh lịch sử đưa Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới. Sau hơn 10 năm thi hành đã đạt được những kết quả đáng kể, nhưng cũng đã bộc lộ những bất cập cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình và bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Chẳng hạn, trong quan hệ giữa các thương nhân, pháp luật thương mại có những quy định nhằm duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm phải chịu chế tài, bao gồm các chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại mà bên bị vi phạm có quyền được lựa chọn áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng chế tài. Đó là các biện pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối với chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thương mại. Nếu một bên vi phạm hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lí (bất lợi) nhất định do hành vi vi phạm đó gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng thương mại trong thời gian qua vẫn còn một số vấn đề gây tranh cãi, một số quy định của Luật Thương mại năm 2005 gây “khó khăn” cho các cơ quan giải quyết tranh chấp và các bên trong việc xác định hình thức xử lý đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ sự bất cập của các quy định về chế tài trong thương mại. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ đi sâu phân tích về một số bất cập của chế tài trong thương mại cần được nghiên cứu sửa đổi để đạt được hiệu quả cao hơn trong quá trình điều chỉnh các vấn đề trong hoạt động thương mại.

Theo Điều 292 Luật Thương mại năm 2005, chế tài trong thương mại bao gồm các loại sau:

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG LUẬT HỒNG ĐỨC

Hình ảnh có liên quan BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ  Wikipedia

Chế định trách nhiệm dân sự trong Luật Hồng Đức là tổng thể các quy định của Luật Hồng Đức (Hay còn được gọi là Quốc Triều Hình Luật) quy định các vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự của cá nhân trong thời đại phong kiến nhà Lê.

 Khái yếu

Luật Hồng Đức là một trong những bộ luật phong kiến tiến bộ nhất và đặc sắc nhất trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Bộ luật đánh dấu thời kỳ hoàng kim nhất, rực rỡ nhất của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều đại Lê sơ, đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông. Luật Hồng Đức được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao về tư tưởng và trình độ lập pháp, vượt xa so với khuôn mẫu tư duy của thời đại phong kiến và để lại những dấu ấn sâu đậm cho đến tận ngày nay,[1] và một trong những nội dung đó là trách nhiệm dân sự.

Chế định trách nhiệm dân sự là nét đặc sắc, độc đáo đáng quan tâm trong Luật Hồng Đức. Mặc dù về tính chất, đây là bộ luật hình sự (Quốc triều hình luật), nhưng Luật Hồng Đức chứa đựng trong đó những yếu tố khá tiến bộ trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự, quy định, dự liệu phong phú các trường hợp về tổn thất, thiệt hại trong thực tế cả về vật chất lẫn tinh thần từ đó xác định trách nhiệm hình sự và dân sự.

Chế định trách nhiệm dân sự trong Luật Hồng Đức đưa tầm vóc của bộ luật lên tầm cao hơn so với tư duy lập pháp phong kiến. Sự dự liệu sinh động, đầy tính thực tiễn của nó vẫn còn dư âm mạnh mẽ cho đến ngày nay, có ý nghĩa lớn trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật dân sự hiện đại.[2]

Trong Luật Hồng Đức không có quy định riêng hoặc gọi đích danh về chế định này, tuy nhiên qua đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành, qua phân tích dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể phân chia những nội dung về trách nhiệm dân sự như sau:[3][4] Tổn thất trên thực tế; Lỗi; Trường hợp đặc biệt phát sinh trách nhiệm; Nguyên tắc bồi thường; Phương thức bồi thường thiệt hại; Các trường hợp giảm nhẹ và miễn trách nhiệm.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: