Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

CỔ PHẦN HÓA – MỘT PHƯƠNG TIỆN QUAN TRỌNG ĐỂ THỰC HIỆN SỰ ĐA DẠNG HÓA CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU

PGS.TS. VŨ VĂN VIÊN – Phó viện trưởng Viện Triết học

Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch sử. Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời nó cũng tác động trở lại đến mọi quá trình kinh tế – xã hội. Cũng chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn là mối quan tâm của các nhà triết học, chính trị, hoạt động xã hội và việc giải quyết vấn đề này như thế nào luôn là một tiêu chí phân biệt giữa các quan điểm khác nhau và có ảnh hưởng quan trọng đến cách giải quyết nhiều vấn đề khác trong việc xác định đường lối chính trị, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

Trong thời kỳ trước đổi mới, ở nước ta cũng như các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, chế độ sở hữu dường như đã được giải quyết. Đó là chúng ta đã xây dựng xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Cùng với chế độ công hữu, mô hình kế hoạch hóa tập trung ra đời và thống trị trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở công hữu, lúc đầu đã phát huy tương đối tốt trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ an ninh, chủ quyền đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của tình hình thế giới và trong nước, chế độ công hữu với mô hình cũ đã tỏ ra không còn phù hợp, gây nên sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, nên chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới.

Continue reading

Advertisements

CỔ PHẦN HÓA CHỈ LÀ MỘT VIỆC

LÊ VĂN TỨ

Cổ phần hóa chậm chủ yếu là do cách làm có tính mò mẫm trong điều kiện tư duy về quản lý doanh nghiệp nhà nước thời kinh tế thị trường chưa có những đổi mới căn bản.

Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước ở nước ta diễn ra dưới sự chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Các chính sách, biện pháp CPH được thể hiện trong các nghị định, quyết định của Chính phủ, các thông tư và văn bản hướng dẫn thi hành của các bộ ngành và địa phương liên quan. Song, thực tế cho thấy quá trình CPH không mấy suôn sẻ, vướng mắc liên tục phát sinh.

Để tháo gỡ vướng mắc, chính sách, biện pháp CPH, và do đó các văn bản liên quan, đã phải liên tục sửa đi đổi lại. Cứ mỗi lần phát sinh vướng mắc, các cơ quan nhà nước liên quan lại phải tham gia giải quyết, dù muốn dù không, cứ bị cuốn vào vòng xoáy CPH và để rồi mang tiếng “can thiệp quá sâu”(!). Cho nên CPH chậm chủ yếu là do cách làm có tính mò mẫm trong điều kiện tư duy về quản lý doanh nghiệp nhà nước thời kinh tế thị trường chưa có những đổi mới căn bản.

Vị trí và nội dung chưa được minh định

Đến nay có lẽ không phải mọi người đều đã coi CPH là một trong những biện pháp để chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp thành nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Và tương tự, không phải ai cũng coi nội dung CPH là chuyển đổi sở hữu, chuyển toàn bộ (hay một phần) doanh nghiệp của nhà nước thành của tư nhân, nói ngắn gọn là tư nhân hóa.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM: MẤY VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LÊ HỮU NGHĨA

Từ nửa cuối thế kỷ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang thống trị đã bắt đầu xuất hiện một loại hình xí nghiệp mới – xí nghiệp cổ phần hay công ty cổ phần, mà sở hữu trong đó là của các cổ đông.

Trong các trước tác của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, chúng ta có thể tìm thấy những phân tích sâu sắc về thực chất quá trình hình thành loại hình công ty cổ phần trong lòng chủ nghĩa tư bản ở Tập III của Bộ "Tư bản" (1). Tập này đã được Ph.Ăng-ghen biên tập và cho xuất bản vào năm 1894, sau khi C.Mác qua đời. Trong đó đáng lưu ý ở sự tiên đoán về hai khuynh hướng quan trọng của sự xuất hiện các công ty cổ phần trong xã hội tư sản:

Thứ nhất

, dưới chủ nghĩa tư bản, C.Mác chỉ ra rằng công ty cổ phần ra đời là sự manh nha của một hình thức sản xuất mới, sẽ đưa đến việc lập ra chế độ độc quyền và đưa đến sự can thiệp của nhà nước tư sản. Khi xuất bản tác phẩm này Ph.Ăng-ghen có bổ sung thêm một số ý như: Các-ten ra đời xóa bỏ tự do cạnh tranh. Trong một số ngành mà trình độ sản xuất cho phép làm được, người ta đã đi đến tập hợp trong toàn bộ sản xuất của ngành đó vào một công ty cổ phần lớn duy nhất có một sự lãnh đạo thống nhất (ví dụ, sản xuất a-mô-ni-ắc của cả nước Anh vào tay một hãng duy nhất, tư bản lưu động được đưa ra mời công chúng góp). Chính trong quá trình này sẽ phát sinh ra một loại ăn bám mới, – quý tộc tài chính mới và cả một hệ thống lừa đảo và bịp bợm về việc sáng lập, phát hành và buôn bán cổ phiếu. Continue reading

VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN HÓA

ĐOÀN TẤT THẮNG

Để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), ngày 16/11/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần thay thế cho Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 với nhiều sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của nước ta. Ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 126/BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/CP của Chính phủ về chuyển Công ty Nhà nước thành công ty cổ phần.

Tồn tại và vướng mắc

    Những đổi mới của Nghị định 187/CP của Chính phủ và Thông tư số 126/BTC của Bộ Tài chính đã cơ bản đưa việc CPH theo hướng nâng cao tính công khai, minh bạch, tính chuyên nghiệp và gắn với thị trường; gắn việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại và vướng mắc khi xác định giá trị doanh nghiệp theo các văn bản pháp quy trên.

Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản:

    – Đối với những tài sản cố định hữu hình:

    Việc xác định giá trị tài sản là hiện vật (tài sản hữu hình) theo Thông tư 126/BTC chỉ xác định giá những tài sản mà Công ty cổ phần tiếp tục sử dụng. Giá trị thực tế của tài sản được tính theo công thức:

GT thực tế của TS = Nguyên giá tính theo giá thị trường  x  Chất lượng còn lại của TS tại thời điểm thẩm định giá.

Continue reading

BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

(Lược ghi) – Cổ phần hoá các DNNN thời gian qua đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng việc cổ phần hoá, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thực hiện còn chậm.

Các DNNN đã cổ phần hoá, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá DNNN còn hạn chế do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá.

Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp còn dài, làm tiến độ cổ phần hoá chậm.

Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hoá đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%.

Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thông.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DỊCH VỤ CÔNG: BÀI TOÁN KHÓ GIẢI

NGUYỄN VẠN PHÚ

Bên cạnh khu vực doanh nghiệp nhà nước đã và đang được sắp xếp lại dưới các hình thức cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê… hàng chục ngàn đơn vị sự nghiệp công lập có thu cũng cần được đưa vào diện cải tổ để giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên cải tổ các đơn vị này như thế nào cho có hiệu quả là một bài toán cần được cân nhắc.

Gánh nặng cần giải quyết

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 7-2007, cả nước có trên 110.000 cơ sở sự nghiệp, tuyển dụng gần 2 triệu cán bộ, nhân viên. Trong số này bao nhiêu là có thu, bao nhiêu không có thu thì Tổng cục Thống kê không phân rõ. Đáng chú ý là so với năm năm trước đó, số cơ sở sự nghiệp tăng đến 43% và số cán bộ, nhân viên tăng 29%.

Trong số trên 110.00 cơ sở sự nghiệp này, chiếm tỷ trọng lớn nhất là các cơ sở giáo dục và đào tạo (trên 87.000), sau đó là đến y tế (13.700), thông tin và truyền thông (1.500), hoạt động chuyên môn, khoa học, công nghệ (1.500), nghệ thuật, giải trí (1.300), hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ (430).

Với những đơn vị sự nghiệp công lập có thu như các đoàn ca nhạc nhẹ, nhà hát cải lương, ban quản lý bến xe, bến cảng… đã từng có nhiều ý kiến lẽ ra phải được chuyển giao cho tư nhân từ lâu. Thử hỏi vì sao ngân sách nhà nước phải nuôi hay góp phần để nuôi các đoàn ca nhạc nhẹ của các địa phương?

Ở những thành phố lớn như TPHCM, chỉ nên có một dàn nhạc giao hưởng do ngân sách địa phương lo, còn lại những loại hình văn hóa nghệ thuật thể thao khác nên chuyển sang cho tư nhân làm. Có người sẽ bảo, một đoàn xiếc chẳng hạn, không thể tự mình nuôi sống mình nếu hoạt động dưới cơ chế thị trường. Nếu chuyển sang cho tư nhân và thất bại thì sẽ làm mai một một loại hình nghệ thuật cần duy trì.

Thiết nghĩ những “đơn vị sự nghiệp có thu” như thế, một khi đã cổ phần hóa, không có nghĩa ngân sách nhà nước hay địa phương không thể tiếp tục duy trì tài trợ nếu thấy cần thiết phải duy trì một loại hình nghệ thuật nào đó vì lợi ích chung của xã hội. Chỉ có điều, những người chủ mới sẽ phải lập dự án, thuyết minh, thuyết phục hàng năm để được cấp kinh phí nếu chứng minh được hoạt động đó là phục vụ cho cộng đồng. Nơi cấp kinh phí như thế có thể là doanh nghiệp muốn tài trợ hay các quỹ quốc gia bảo trợ giáo dục, phát triển văn hóa…

Thật ra, các “đơn vị sự nghiệp công lập” hiện có nhiều loại, có loại tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, có loại chỉ cân đối một phần. Và Bộ Tài chính cũng đã ban hành nhiều văn bản theo hướng giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị này. Thế nhưng cho dù một đơn vị có thể thu đủ bù chi, thậm chí có lãi, vẫn là gánh nặng cho ngân sách vì việc cân đối thu chi như thế không tính đến các tài sản nhà nước giao cho họ, kể cả đất đai, cơ sở vật chất.

Bản thân các đơn vị này không được tự chủ trong việc trả lương cho nhân viên nên không giữ được người giỏi và hoạt động ngày càng yếu kém. Cổ phần hóa chúng là con đường trước sau gì cũng phải thực hiện.

Continue reading

ĐỂ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÚC ĐẨY KINH TẾ

HÀ PHƯƠNG

Triển khai Chương trình hành động của Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010, năm 2007 Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ hoàn thiện khung pháp lý cho sắp xếp, đổi mới tổ chức quản lý DNNN nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN đến phê duyệt Đề án và tổ chức thực hiện sắp xếp, trọng tâm là cổ phần hoá DNNN.

Kết quả khiêm tốn

Năm 2007 đã sắp xếp được 271 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, trong đó cổ phần hoá (CPH) 150 doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp, nâng tổng số đơn vị được sắp xếp là 5.366 doanh nghiệp, trong đó CPH là 3.756 doanh nghiệp. Những doanh nghiệp thuộc diện duy trì 100% vốn nhà nước tiếp tục được chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với với kế hoạch của Chính phủ đề ra cho giai đoạn 2007-2010 là cần phải sắp xếp 1.553 doanh nghiệp, trong đó CPH 950 doanh nghiệp thì mới thấy được kết quả đạt được là khá khiêm tốn.

Hình thức sắp xếp chủ yếu vẫn là cổ phần hoá và được thực hiện ở các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Năm 2007 có 17 doanh nghiệp CPH có vốn nhà nước trên 100 tỷ đồng, trong đó có những doanh nghiệp có vốn nhà nước trên 1.000 tỷ đồng như: Công ty Phân đạm và hoá chất Dầu khí, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Công ty Tài chính Dầu khí… Tổng vốn nhà nước ở doanh nghiệp CPH năm 2007 là 29.766 tỷ đồng (bằng 42% tổng vốn nhà nước của các doanh nghiệp đã CPH).

Một số công ty lâm vào tình trạng phá sản, không còn vốn nhà nước đã được Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp cơ cấu tài chính và chuyển đổi sở hữu xong trong năm 2007 như: Mía đường Sơn La, Xây lắp I Nam Định, Kinh doanh chế biến hàng xuất khẩu Đà Nẵng, Sadico. Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp đang thực hiện cơ cấu tài chính của 13 doanh nghiệp để chuyển đổi sở hữu trong 6 tháng đầu năm 2008. Đây là giải pháp tích cực, đã làm sống lại những doanh nghiệp trên bờ vực phá sản nhưng có tiềm năng phát triển, tiếp tục đảm bảo việc làm cho người lao động.

Việc bán đấu giá cổ phần và niêm yết, đặc biệt là các tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp có quy mô lớn, đã cung cấp cho thị trường chứng khoán hàng hoá có chất lượng, tác động mạnh đến phát triển thị trường vốn, đồng thời tăng cường sự kiểm soát của xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2007, Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tổ chức đấu giá lần đầu cho 96 DNNN CPH với tổng vốn điều lệ 53.433 tỷ đồng, tổng số cổ phần chào bán trên 745 triệu cổ phần, số cổ phần bán được là trên 687 triệu, đạt 92%. Tổng giá trị thu được cho Nhà nước và doanh nghiệp qua đấu giá là trên 38.893 tỷ đồng, trong đó Nhà nước đã thu được là 32.023 tỷ đồng, bằng 4,66 lần so với số vốn Nhà nước bán ra.

Continue reading

TIẾP TỤC ĐẨY NHANH, MẠNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

PGS.TS. NGUYỄN THỊ DOAN*

Sau chiến tranh thế giới thứ II, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở hầu hết các nước trên thế giới phát triển rất nhanh chóng và chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Nhưng đến những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, khu vực DNNN ở hầu hết các quốc gia đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém, nhất là về hiệu quả kinh tế. Khu vực DNNN nắm đại bộ phận tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và công nghệ của toàn xã hội, song sức sinh lợi của đồng vốn bỏ ra luôn thấp hơn so với khu vực kinh tế khác. Trong khi đó, nhà nước lại phải chi những khoản lớn cho khu vực DNNN.

Vì vậy, chính phủ nhiều nước đã tiến hành cải cách và cơ cấu lại khu vực DNNN làm cho nó năng động và hoạt động hiệu quả hơn. Nhưng mỗi quốc gia có bước đi và mức độ thực hiện khác nhau. Chẳng hạn, như chính phủ các nước Anh và Pháp đã tiến hành tư nhân hóa đồng loạt khu vực DNNN thông qua hình thức bán DNNN cho tư nhân và cho phá sản. Cùng với quá trình tư nhân hóa thì chính phủ Tây Ban Nha lại áp dụng cả các biện pháp sáp nhập và giải thể các DNNN. Vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, thì quá trình tư nhân hóa hàng loạt DNNN cũng đã diễn ra tại các nước này. Trên thực tế, quá trình ấy chưa hẳn đã đem lại hiệu quả cao, mà ngược lại, những cú "sốc" đối với người lao động và nền kinh tế đã gây hậu quả khá nặng nề về mặt xã hội.

Đối với nước ta, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đa dạng hóa sở hữu thông qua chuyển đổi sở hữu DNNN mà trọng tâm là cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN cũng được xác định là một chủ trương lớn đã thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội. Song chúng ta có cách làm riêng, từng bước ổn định và vững chắc ; đồng thời, giải quyết thỏa đáng quyền lợi cho người lao động. Điều này nói lên bản chất ưu việt của chế độ ta, cổ phần hóa nhưng không làm tăng thêm số người thất nghiệp.

Có thể khái quát quá trình cổ phần hóa DNNN ở nước ta như sau : giai đoạn 1992 – 1995, là thời kỳ thực hiện thí điểm theo Quyết định 202/HĐBT (1992) của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về thí điểm chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần ; giai đoạn 1996 – 1998, là thời kỳ thực hiện Nghị định 28/CP (1996) về cổ phần hóa DNNN ; giai đoạn 1999 đến nay, là thời kỳ thực hiện Nghị định 44/1998 NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN và Nghị định 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán, cho thuê DNNN (Xem thêm – Civillawinfor)

Hai nghị định gần đây đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việc cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN. Về tổ chức, các ban chỉ đạo đổi mới DNNN từ trung ương đến các bộ, ngành, Tổng công ty 91 và các địa phương đã được thành lập. Nhưng quá trình cổ phần hóa DNNN diễn ra rất chậm. Từ năm 1992 đến năm 1998, cổ phần hóa được 120 doanh nghiệp. Từ chỗ tự nguyện đăng ký số doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đã trở thành chỉ tiêu pháp lệnh. Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ giao chỉ tiêu cổ phần hóa 450 doanh nghiệp cho các bộ, Tổng công ty 91 và các địa phương, nhưng chỉ thực hiện được 220 doanh nghiệp, đạt 49% kế hoạch. Năm 2000, chỉ tiêu cổ phần hóa DNNN là 508 doanh nghiệp, trong đó 337 doanh nghiệp cổ phần hóa theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP và 171 doanh nghiệp giao, bán, khoán, cho thuê theo Nghị định 103/1999/NĐ-CP, nhưng chỉ thực hiện được 196 doanh nghiệp đạt gần 38,6% kế hoạch đề ra, trong đó có 171 doanh nghiệp cổ phần hóa, đạt 50,7% kế hoạch và 25 doanh nghiệp thực hiện hình thức bán, khoán, cho thuê, đạt 14,6% kế hoạch. Mặc dù doanh nghiệp đã cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê còn ít, nhưng khả năng cạnh tranh và hiệu quả đã rõ ràng, hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa thì doanh thu, thu nhập của người lao động, lợi nhuận, vốn, nộp thuế đều tăng hơn so với trước khi cổ phần hóa. Hiệu quả đã rõ ràng, song cổ phần hóa DNNN không những không đạt chỉ tiêu Chính phủ đề ra mà còn có chiều hướng chững lại. Tình trạng này cần phải được làm rõ nguyên nhân và tìm biện pháp khắc phục để đẩy nhanh hơn nữa quá trình sắp xếp lại và cổ phần hóa DNNN.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: