Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ: ỦY QUYỀN CỦA CÔNG TY, GHI THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

LS. KIỀU ANH VŨ

Cùng một vấn đề pháp lý, các thẩm phán, tòa án có thể có những quan điểm pháp lý khác nhau.

Từ một tình huống thực tiễn…

Công ty A làm giấy ủy quyền cho ông X để ông X đại diện cho công ty A khởi kiện, tham gia tố tụng trong một vụ án kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ. Giấy ủy quyền ghi rõ các thông tin của công ty A theo thứ tự người ủy quyền là công ty A, mã số doanh nghiệp, địa chỉ của của công ty A và thông tin về người đại diện theo pháp luật của công ty A; ngoài ra còn có các nội dung về người được ủy quyền, nội dung ủy quyền, thời hạn ủy quyền. Giấy ủy quyền này do chính người đại diện theo pháp luật của công ty A ký tên và được đóng dấu công ty A.

Tuy vậy, khi nhận giấy ủy quyền này kèm theo đơn khởi kiện, tòa án nhân dân thành phố B đã ban hành thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, yêu cầu công ty A “bổ sung làm lại giấy ủy quyền cá nhân đại diện theo pháp luật của công ty ủy quyền”. Theo tòa án, giấy ủy quyền phải là giấy ủy quyền của cá nhân người đại diện theo pháp luật của công ty A, nghĩa là trong phần người ủy quyền phải ghi là ông Nguyễn Văn Y – đại diện theo pháp luật của công ty A ủy quyền cho ông X.

Yêu cầu này của tòa án đặt ra một vấn đề pháp lý là việc ủy quyền của công ty ghi thế nào cho đúng? Chính công ty là người ủy quyền hay cá nhân người đại diện theo pháp luật của công ty là người ủy quyền?

Đến quy định của pháp luật

Continue reading

Advertisements

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ MÀ MỘT BÊN LÀ NHẠC SỸ HOÀI AN: TRÁI PHÁP LỆNH NHƯNG KHÔNG TRÁI LUẬT, CÓ VÔ HIỆU?

CIVILLAWINFOR Tổng hợp

1. Nội dung vụ việc (1)

TAND TP.HCM tuyên thỏa thuận giữa nhạc sĩ Hoài An và ông Lê Văn Năm vô hiệu, buộc nhạc sĩ Hoài An phải trả lại số tiền đã nhận để làm album cho con ông Năm.

Ngày 24-8, TAND TP.HCM đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt hợp đồng của nguyên đơn, buộc nhạc sỹ Hoài An hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 10.000 USD đã nhận, tương đương 227 triệu đồng.

Đây là vụ tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa nguyên đơn là ông Lê Văn Năm (54 tuổi, ngụ Bình Thạnh) và bị đơn là ông Võ Đại Hoài An (nhạc sĩ Hoài An).

Theo đơn khởi kiện, năm 2012 do muốn con trai mình là Lê Hoàng Dũng trở thành ca sĩ nên ông Năm gặp nhạc sĩ Hoài An.

Hai bên ký hợp đồng kinh tế với nội dung nhạc sĩ Hoài An sẽ thực hiện cho con trai ông một album gồm 9 bài hát gồm nhiều thể loại, phải đảm bảo chất lượng và quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thời gian thực hiện hợp đồng là hai năm kể từ ngày ký.

Phía ông Năm sẽ được sở hữu album và có trách nhiệm đảm bảo lịch thu âm, luyện tập, cung cấp đầy đủ thông tin, hình ảnh.

Chi phí sáng tác là 1.000 USD/bài, hoà âm 100 – 150 USD/bài, phí quản lý, thực hiện 2.000 USD/tháng…

Continue reading

TRANH CHẤP BẢO HIỂM TẠI BẢO MINH: TRANH CÃI VỀ HIỆU LỰC HỢP ĐỒNG

 HÀ LINH – Đầu Tư Chứng Khoán

Liên quan đến vụ tranh chấp hợp đồng với Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị (bên mua bảo hiểm) cho rằng, hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực vì chưa đóng phí, chưa xác nhận nợ.

Được biết, ngày 19/5/2012, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị mua gói bảo hiểm rủi ro xây dựng công trình, trị giá 124 triệu đồng với Bảo Minh. Do khách hàng không đóng phí bảo hiểm, Bảo Minh nộp đơn khởi kiện ra Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). 

Ngày 12/4/2016, VIAC ra phán quyết tuyên buộc Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho Bảo Minh số tiền 124 triệu đồng. Không đồng tình, Trường đã kháng án lên Hội đồng xét đơn – Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị hủy phán quyết trên. Bên mua bảo hiểm cho rằng, phán quyết trên vi phạm pháp luật Việt Nam.

Cụ thể, viện dẫn Điều 15, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi năm 2010, Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị cho rằng, hợp đồng chỉ có giá trị khi đã đóng phí, trừ trường hợp thỏa thuận xác nhận nợ. Trường chưa nhận được văn bản xác nhận nợ nên hợp đồng chưa có hiệu lực. Do đó, bị đơn không thuộc các trường hợp luật đã quy định như trên nên không nợ phí bảo hiểm.

Bị đơn còn đưa ra 2 lý lẽ khác. Thứ nhất, văn bản thu phí của Bảo Minh có nội dung “hợp đồng không có hiệu lực khi không đóng đủ phí theo quy định”.

Thứ hai, trong hợp đồng có điều khoản thể hiện, phí bảo hiểm được thanh toán bằng tiền VND, đưa trực tiếp hoặc chuyển khoản cho Bảo Minh trong vòng 30 ngày kể từ ngày Trường được cấp phát vốn. Theo Trường trung cấp nghề tỉnh Quảng Trị, điều khoản này chỉ là phương thức thanh toán giữa các bên, không phải là xác nhận nợ.

Continue reading

GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 01/2017/GĐ-TANDTC NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (TRÍCH DẪN)

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Trong thời gian chuẩn bị và tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2017 (từ ngày 12 đến ngày 14-01-2017) các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đề nghị Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề vướng mắc về nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao:

VỀ DÂN SỰ

1. Trường hợp Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp dân sự mà các bên viện dẫn các tập quán khác nhau thì giải quyết như thế nào?

Khi xem xét, quyết định áp dụng tập quán thì Tòa án căn cứ Điều 3, Điều 5 và các quy định khác của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tùy từng trường hợp cụ thể giải quyết như sau:

Tập quán có giá trị áp dụng là tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp có nhiều tập quán thì áp dụng tập quán do các bên thỏa thuận; nếu các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

2. Tòa án giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Trường hợp này, Tòa án có phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu không?

Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN XUNG QUANH VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT DO CHA MẸ ĐỂ LẠI

Kết quả hình ảnh cho case studyTS. NGUYỄN HẢI AN – TÒA DÂN SỰ, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc do cha mẹ để lại nhưng đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế xảy ra nhưng có những quan điểm giải quyết khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày về một trường hợp tranh chấp cụ thể và những ý kiến xung quanh việc giải quyết; cụ thể như sau:

Nhà trên 381m2 đất tại xã K, huyện G, thành phố H có nguồn gốc của vợ chồng cụ Minh và Bình. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết 1998 đều không để lại di chúc. Cụ Minh, cụ Bình có 03 người con là: ông Hùng, bà Yến (bị câm, điếc bẩm sinh) và bà Liên. Cụ Minh chết năm 1997, cụ Bình chết năm 1998. Sau khi cụ Minh, cụ Bình chết, nhà đất đang tranh chấp do vợ chồng ông Hùng và bà Yến quản lý, sử dụng; bà Liên lấy chồng từ 1978 ở nơi khác. Năm 2003, ông Hùng kê khai, đăng ký và được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình ông Hùng, do ông Hùng là chủ hộ đứng tên; hộ khẩu của bà Yến cùng chung với gia đình ông Hùng. Năm 2009, vợ chồng ông Hùng chuyển nhượng 73,2 m2 trong thửa đất trên cho vợ chồng chị Lan. Bà Yến, bà Liên không đồng ý việc chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hùng nên bà Liên đã làm đơn khởi kiện đề nghị huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hùng với vợ chồng chị Lan. Bà Liên cho rằng toàn bộ 381m2 đất vẫn là di sản thừa kế của bố, mẹ bà chưa chia: bà và bà Yến có quyền thừa kế đối với diện tích đất của bố mẹ để lại, vợ chồng ông Hùng không được quyền tự ý chuyển nhượng. Vì bà Yến bị câm, điếc bẩm sinh, có nhược điểm về thể chất, ít tiếp xúc với bên ngoài, giao tiếp rất hạn chế; kể cả khi mời giáo viên trường câm điếc, chuyên gia về giao tiếp bằng ký hiệu cũng không giúp cho bà Yến hiểu để bày tỏ ý chí, mà chỉ có ông Hùng, bà Liên hiểu được các dấu hiệu của bà Yến, nên cả hai người là ông Hùng và bà Liên đều nhận là đại diện cho bà Yến.

Xung quanh trường hợp nêu trên, có các quan điểm sau đây:

Quan điểm thứ nhất: Vì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ Minh và cụ Bình đều đã hết và không có văn bản thỏa thuận chuyển di sản thuộc sở hữu chung, nên nếu đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án phải căn cứ khoản 2 Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 168, điểm c khoản 1 Điều 192, các khoản 3 và 4 Điều 193 BLTTDS để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Ông Hùng là người quản lý tài sản và đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có quyền sử dụng và chuyển nhượng; bà Liên không có quyền khởi kiện và không đủ tư cách đại diện cho bà Yến để khởi kiện.

Continue reading

CÔNG KHAI ẢNH NGHI PHẠM: CÁI SAI NỐI TIẾP CÁI SAI

Hình ảnh có liên quan PHƯƠNG DUNG – Báo Pháp luật TPHCM

Diễn đàn “Đăng ảnh nghi phạm ấu dâm: Bạn nghĩ sao?” (từ ngày 14-3 trên báo Pháp luật TP.HCM) về việc nên hay không nên đăng ảnh của nghi can ấu dâm thu hút sự quan tâm, góp ý của đông đảo bạn đọc. Không chỉ các chuyên gia xã hội học, tâm lý, bác sĩ, nhà báo mà nhiều giới khác đều quan tâm sâu sắc vấn đề này.

Đây là một dấu hiệu đáng mừng song nhìn trên tổng thể, cách lựa chọn ứng xử của đám đông lại đưa đến một mối lo ngại khác.

Đa số lựa chọn: “Đăng!”

Ngoại trừ những chuyên gia, người hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em và những bạn đọc khác, đa số ý kiến bạn đọc đều khẳng định “đăng!”. Độc giả Manh Hung nhấn mạnh: “Phải đăng để xã hội đề phòng, đăng thật nhiều trên mọi kênh thông tin”.

Đây cũng là lý do để hàng ngàn người liên tục phát tán chân dung nghi phạm với lý lẽ “mọi người đều có quyền được biết ai là kẻ bệnh hoạn, có nguy cơ cao để phòng tránh”. Thậm chí có bạn đọc còn tuyên bố mạnh mẽ như QuaSQ: “Riêng tội này dù pháp luật không cho phép tôi cũng ủng hộ đăng ảnh nghi phạm” (!?).

Nhiều người cho biết họ có tâm lý sốt ruột khi thấy vụ việc tố cáo thủ phạm ấu dâm bị chậm đưa ra ánh sáng, dù nguyên nhân có thể từ khâu thu thập chứng cứ ban đầu của nạn nhân hay sự vào cuộc chậm chạp của cơ quan chức năng. Điều đó đã thôi thúc họ tự đi tìm công lý.

Cách phản ứng này vẫn đang nhận được nhiều ý kiến ủng hộ. Những bạn đọc Minh Nhân, Linh, Quốc Bảo, Trần Hoàng Dơn… cũng đồng tình “đăng ảnh nghi phạm sẽ gây sức ép, thúc đẩy cơ quan điều tra, tiếp sức gia đình nạn nhân để vụ việc không bị chìm xuồng”.

Đăng là vi phạm pháp luật

Continue reading

CHIA TÀI SẢN CHUNG HAY BẮT ĐẦU LẠI THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN THỪA KẾ

  TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

Vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được quy định tại BLDS năm 1995, khi BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 thì vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vẫn tiếp tục được quy định, nhưng trên thực tế các cấp Tòa án hầu như không áp dụng quy định này trong các vụ án thừa kế. Vì sao lại có hiện tượng đó? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu ra một trường hợp tranh chấp thừa kế tài sản và chia tài sản chung để bạn đọc cùng trao đổi phải áp dụng pháp luật như thế nào mới đúng, nhằm góp phần làm cho nhận thức và áp dụng pháp luật ngày càng chính xác và thống nhất.

Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2008, ngày 21/11/2008 và quá trình tố tụng, các nguyên đơn bao gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên đã khởi kiện đối với các bị đơn là các ông: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và ông Nguyễn Ngọc Tân yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ.

Các nguyên đơn trình bày: cụ Nguyễn Văn Triệu (chết tháng 9/2001) và cụ Đinh Thị My (chết tháng 1/1995) có 09 người con chung là các ông, bà: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Thị An, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Tám và Nguyễn Ngọc Tân. Sinh thời, cha mẹ các ông bà có 3 khối tài sản gồm: nhà, đất tại số 74, 99 và 33/3 phố Ng.Q, thị xã ST, thành phố HN, cụ thể:

– Nhà đất tại số 74 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 3 gian nhà ngang cấp 4; 1 gian bếp, chuồng lợn trên diện tích đất 70m2; hiện do vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tân và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Tám quản lý, sử dụng. Vợ chồng ông Tân đã phá bỏ nhà ngang, bếp, chuồng lợn và xây mới bếp, nhà vệ sinh.

– Nhà đất tại số 99 Ng.Q gồm: 3 gian nhà cấp 4; 1 gian nhà bếp; 1 chuồng lợn và công trình vệ sinh trên diện tích đất 92,5m2; hiện do 2 gia đình là vợ chồng ông Thắng và vợ chồng ông Sơn quản lý sử dụng. Năm 2001 vợ chồng ông Sơn đã phá bỏ 1 gian nhà cấp 4 và xây mới 1 nhà 3 tầng. Năm 2006, vợ chồng ông Thắng phá bỏ bếp cũ xây bếp mới và công trình phụ (tài sản cũ còn 2 gian nhà cấp 4).

Continue reading

THỎA THUẬN NHẰM TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ NÊN THỎA THUẬN KHÔNG HỢP PHÁP

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án NDTC

Trong tố tụng dân sự quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt là một quyền rất quan trọng của đương sự. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của đương sự không phải là một quyền tuyệt đối. Sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự chỉ hợp pháp khi nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Do không nhận thức rõ vấn đề này nên có nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ vẫn được Tòa án công nhận. Dưới đây là một ví dụ:

Vụ án “chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn là anh Ngô Văn Hợi (sinh năm 1973) và bị đơn là chị Lê Thị Thúy ( sinh năm 1977) cùng trú tại: Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Tuyết Nhung.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy kết hôn năm 1996. Trong quá trình chung sống anh Hợi và chị Thúy không có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do chị Thúy có nghĩa vụ trả tiền đối với các chị Trần Thị Lợi, Quảng Thị Thái theo các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS và 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 6/9/2011 của TAND thành phố KT (theo các quyết định này thì chị Thúy phải trả cho chị Trần Thị Lợi số tiền gốc và lãi là 60.600.000 đồng cùng 05 chỉ vàng SJC; trả cho chị Quảng Thị Thái tiền gốc và lãi là 59.150.000 đồng; tất cả trả một lần vào ngày 30/9/2011) nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Thông báo số 56/TB-CCTHA ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chia tài sản chung giữa chị Thúy và anh Hợi. Do đó, ngày 12/3/2012, anh Hợi khởi kiện ra TAND thành phố KT yêu cầu chia tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: