Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TÌNH HUỐNG THỰC TẾ: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau: Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH sản xuất và thương mại V (sau đây gọi tắt là Công ty V) là ông Nguyễn Duy V và người đại diện theo ủy quyềncủa ông V là bà Nguyễn Thị M trình bày: Ngày 29/10/2010 ông V đại diện cho Công ty V ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất cho bà Khuất Thị H tại Văn phòng công chứng C (viết tắt là VPCC C). Tài sản theo hợp đồng gồm:

– Nhà văn phòng: Định vị công trình như tổng mặt bằng thiết kế kèm theo giấy phép xây dựng số 103, do Sở xây dựng Bắc Ninh cấp ngày 16/6/2009; loại công trình cấp IV; chiều cao công trình 13,25m; diện tích xây dựng 155,25m2; diện tích sàn 465,75m2; kết cấu khung BTCT chịu lực mái lợp tôn, tường bao xây gạch;

– Nhà xưởng: Định vị công trình như tổng mặt bằng thiết kế kèm theo giấy phép xây dựng số 103, do Sở xây dựng Bắc Ninh cấp ngày 16/6/2009; loại công trình cấp IV; số tầng 01; diện tích xây dựng 1.850m2; tổng diện tích sàn 1.850m2; chiều cao công trình 9,3m tính từ sân đến đỉnh mái; kết cấu khung kèo thép, tường bao xây gạch, mái tôn.

Tài sản trên được xây dựng trên thửa đất số 9, tờ bản đồ số 06, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số AO 402469 do UBND tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 17/4/2009 mang tên Công ty V. Tuy nhiên khi ký hợp đồng không có các tài sản ghi trong hợp đồng, mà chỉ có nhà văn phòng xây thô năm 2009 (chưa trát, chưa có cổng cửa, chưa lát nền), không có nhà xưởng và tường bao quanh đất. Nội dung hợp đồng là ghi theo giấy phép xây dựng được cấp, đến tháng 6/2014 Công ty mới xây nhà xưởng và hoàn thiện nhà văn phòng. Ông V ký hợp đồng này do yêu cầu của bà H nhằm mục đích cho bà M (vợ ông V) vay của bà H 05 tỷ đồng. Công ty không ủy quyền cho bà M thay mặt công ty để vay tiền bà H. Khi ký hợp đồng tại VPCC C thì ông V không có bản chính GCNQSDĐ của Công ty V vì bà M đã mang thế chấp cho bà H. Giá trị tài sản ghi trong hợp đồng là 05 tỷ đồng, nhưng thực tế không có việc giao nhận tiền giữa ông V và bà H, không có việc bàn giao tài sản chuyển nhượng. Ngày 27/10/2014 Công ty V ký hợp đồng cho Công ty S thuê toàn bộ tài sản nêu trên đến tháng 8/2019, giá thuê là 9.907USD/tháng. Công ty S đã trả cho Công ty V 3.544.811.105đ tiền đặt cọc, tiền làm hệ thống phòng cháy chữa cháy, tiền thuê năm thứ nhất và một phần tiền thuê năm thứ hai. Sau khi thuê Công ty S đầu tư xây dựng các hạng mục với tổng số tiền là 3.229.742.600đ. Nay Công ty V yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/10/2010 đã ký giữa Công ty V và bà Khuất Thị H, đồng thời yêu cầu bà H trả lại GCNQSDĐ cho Công ty. Continue reading

Advertisements

TÌNH HUỐNG THỰC TẾ: TRANH CHẤP DI SẢN THỪA KẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG?

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2014 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Đào Thị Đ, ông Đào Xuân H, bà Đào Thị H, ông Đào Xuân T (ông T còn là người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Trung D và anh Hoàng Kim S) trình bày:

Cụ Đào Văn Đ, sinh năm 1917, chết ngày 28/9/1987 và cụ Lê Thị B, sinh năm 1921, chết ngày 14/9/2013. Cụ B và cụ Đ chết không để lại di chúc. Cụ Đ và cụ B sinh được 08 người con gồm: Đào Xuân T1; Đào Thị Đ; Đào Xuân T; Đào Thị L; Đào Thị N; Đào Xuân H; Đào Mạnh H; Đào Thị H. Bà Đào Thị L chết ngày 29/8/2003 có chồng là ông Hoàng Trọng D, chết ngày 23/8/1999 và ba con là: Hoàng Thị H, chết ngày 25/5/2008; Hoàng Trung D; Hoàng Kim S.

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Khoảng năm 1965 cụ Đ và cụ B có mua của ông Nguyễn Văn M 01 thửa đất ở tại thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Hưng Yên, diện tích khoảng 1.500 m2, có chiều dài phía đông dài khoảng 20m; phía tây dài khoảng 20m, phía nam dài khoảng 80m; phía bắc dài khoảng 80 m. Thửa đất này được thể hiện tại thửa 96, bản đồ số 6, bản đồ 299 năm 1987.

Năm 1987, cụ Đ chết, cụ B tiếp tục quản lý toàn bộ thửa đất đó. Bà N không đi lấy chồng nên ở với cụ B. Khoảng năm 2000, cụ B và bà N phá nhà cũ của cụ Đ và cụ B đi và xây hai gian nhà mới để hai mẹ con ở.

Năm 2004, cụ B cho vợ chồng ông T một phần đất ở. Đến năm 2006 vợ chồng ông T đã xây nhà và năm 2009 xây tường bao. Hiện nay vợ chồng ông T vẫn đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất cụ B đã cho. Ngoài việc cho vợ chồng ông T đất ở, cụ B còn cho ông H (K) một phần đất giáp đất nhà ông T, không nói rõ diện tích bao nhiêu. Khi ông H (K) đổ đất thì ông T1 không đồng ý nên anh em từ đó phát sinh mâu thuẫn.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ VẬT NUÔI TRONG TRƯỜNG HỢP VẬT NUÔI GÂY THIỆT HẠI CHO NGƯỜI KHÁC

TS. NGUYỄN VĂN QUÂN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vụ việc bé trai 07 tuổi bị đàn chó 07 con cắn chết tại tỉnh Hưng Yên vào ngày 04/3/2019 đã khiến nhiều người bàng hoàng. Vậy, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về trách nhiệm của chủ nuôi chó và các vật nuôi khác khi để chúng gây thiệt hại cho tài sản, sức khoẻ, tính mạng của người khác?.

Trách nhiệm đối với những thiệt hại do vật nuôi (súc vật) gây ra đã được quy định đầy đủ tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra). Theo đó, chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu. Đây là trách nhiệm bồi thường dân sự cho những thiệt hại về vật chất hoặc sức khoẻ do súc vật gây ra.

Còn trong trường hợp súc vật gây ra những thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng cho người khác thì chủ sở hữu súc vật có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, tuỳ theo mức độ thiệt hại. Có hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Nếu súc vật gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì áp dụng Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội “Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

Trường hợp thứ hai: Nếu súc vật làm chết người thì áp dụng Điều 128, Bộ luật hình sự năm 2015 về tội “Vô ý làm chết người”. Theo đó, (1) người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; (2) phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KHI NÀO TÒA PHẢI TÍNH CÔNG SỨC TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ?

 PHẠM HOÀI NGÂN

Thực tế giải quyết các vụ án dân sự về đòi di sản thừa kế, đòi nhà cho ở nhờ, đòi đất… hầu hết đều nảy sinh vấn đề phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn cho đương sự. Tuy nhiên, trường hợp nào được tính công sức, trường hợp nào không được tính, đang còn có nhận thức khác nhau.

Trong thực tiễn, khi giải quyết các vụ án dân sự thì yêu cầu về tính công sức của một trong các bên đương sự là yêu cầu thường được đặt ra. Có thể thấy, công sức bao gồm nhiều loại như: 1) Công sức tạo lập tài sản, phát triển tài sản; 2) Công sức giữ gìn tài sản; 3) Công sức bảo quản tài sản; 4) Công sức tôn tạo tài sản; 5) Công sức làm tăng giá trị của tài sản; 6) Công sức chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản…

Muốn tính công sức thì trước hết phải xem xét có công sức hay không. Đặc biệt cần phải phân biệt giữa công sức và các chi phí. Chi phí là khoản tiền đã bỏ ra (để nuôi dưỡng người để lại di sản như: Tiền thức ăn, tiền thuốc uống, tiền thuê người giúp việc…; để sửa lại nhà như: Trát lại tường, lăn lại sơn, lát sân nhà…). Các khoản tiền đã chi phí đều tính được và ai có yêu cầu thì phải có nghĩa vụ chứng minh (có thể bằng hóa đơn mua hàng, xác nhận của người bán hàng, người vận chuyển, người làm công…). Còn công sức là sức lực, là thời gian… mà con người bỏ ra để ra nuôi dưỡng người để lại di sản, để giữ gìn, bảo quản, duy trì tài sản nên tài sản không bị hư hỏng, mất mát hoặc để làm tăng giá trị tài sản bằng việc tôn tạo, tu bổ tài sản. Công sức không thể xác định được thông qua các hóa đơn…

Thực tế cho thấy có thể phân loại thành ba dạng công sức trong các vụ án dân sự: Công sức trong các vụ án hôn nhân và gia đình; Công sức trong các vụ án thừa kế; Công sức trong các vụ án khác (đòi tài sản, đòi nhà đất cho thuê, đòi lại nhà đất cho ở nhờ…)[1].

Continue reading

TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ XE

  BÁO PHÁP LUẬT TP.HCM điện tử 

1. Kiện chủ quán cà phê vì mất xe

TÂN SƠN – TAND tỉnh Kiên Giang vừa xử phúc thẩm vụ tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản theo hợp đồng gửi giữ tài sản giữa ông DNH với bà DKS (chủ quán cà phê) do bà S. có kháng cáo.

Đến uống cà phê, bị mất xe

Trong đơn khởi kiện, ông H. trình bày: Khoảng 19 giờ 30 ngày 16-1-2017, ông chạy xe máy hiệu Exciter chở một người bạn vào uống cà phê tại quán cà phê của bà S. Khi vào quán, ông đậu xe máy trong quán ngay tầm nhìn của bảo vệ quán để bảo vệ dễ quan sát, lúc đó có bảo vệ trông thấy.

Tại đây, ông H. cùng bạn uống cà phê đến khoảng 21 giờ thì có thêm hai người bạn khác đến ngồi chung. Bốn người uống cà phê đến 21 giờ 55 thì ra về.

Khi ra về, không thấy xe của mình đâu, ông H. và bạn tìm bảo vệ để hỏi thì không thấy bảo vệ đâu. Khoảng năm phút sau, một người bảo vệ mới tới quán. Khi ông H. hỏi thì người bảo vệ này nói mới nhận ca nên không biết. Ông H. hỏi về số điện thoại bên công ty bảo vệ để trình bày sự việc, nhờ bạn đi trình báo công an phường, còn ông ngồi ở quán đợi chủ quán.

Đến 22 giờ 15, tổ trưởng bên công ty bảo vệ có đến quán gặp ông H. để nắm sự việc. Gần 22 giờ 20, bạn ông H. chạy về quán nói công an phường yêu cầu chủ xe qua phường trình bày. Ông H. và bạn đến công an phường trình bày sự việc và công an phường có ghi nhận.

Continue reading

TÀI SẢN BẢO ĐẢM CHƯA CHẮC ĐÃ LÀ “ĐẢM BẢO” – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

TRANG HÀ – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng là hoạt động mang tính rủi ro, ngoài ngành nghề kinh doanh quy định trong Điều lệ được pháp luật cho phép thì hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động huy động và cho vay; hoạt động cho vay luôn tiền ẩn rủi ro, khách hàng vay vốn vì nhiều lý do không trả được nợ (bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi) dẫn đến Ngân hàng phải “gồng mình” vừa bù đắp cho khoản vay mà khách hàng không trả được theo Hợp đồng tín dụng đã ký, vừa phải trả lãi tiền huy động từ tổ chức và người dân dẫn đến hoạt động của Ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Cho vay vừa bảo toàn được nguồn vốn, vừa bảo vệ được nghề nghiệp luôn là yếu tố sống còn không chỉ với ngân hàng mà còn đối với cán bộ tín dụng tại Ngân hàng. Người ta thường nói, nghề tín dụng ngân hàng luôn là nghề khắc nghiệt, ranh giới giữa “anh hùng” và “tội phạm” là rất mong manh. Hiểu nghề, hiểu được những rủi ro trong nghề nghiệp của mình và biết cách vượt qua luôn là điều mà mọi cán bộ tín dụng mong hướng đến.

Có vay thì phải có trả, tuy nhiên, cũng vì nhiều lý do, hoàn cảnh, mà khách hàng vay đã không thể trả được nợ cho Ngân hàng dẫn đến các tranh chấp phát sinh mà không bên nào mong muốn, nhưng khi khách hàng đã không còn khả năng trả nợ thì Ngân hàng biết trông vào gì để thu hồi nợ từ khoản vay của khách hàng, đến đây thì mọi việc thu nợ đều trông chờ vào tài sản bảo đảm của khách hàng, cũng có thể tài sản bảo đảm là của bên thứ ba hoặc của chính khách hàng và chúng ta có thể khẳng định tài sản bảo đảm được coi là cứu tinh duy nhất cho khoản vay có nguy cơ mất vốn của khách hàng tại Ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tài sản bảo đảm đã được thế chấp tại Ngân hàng cũng có thể xử lý được theo đúng quy định, có những trường hợp, có những vụ việc Ngân hàng nhận thế chấp, đã đăng ký giao dịch bảo đảm, người đứng tên trên Giấy nhận quyền sử dụng đất đồng ý giao tài sản cho Ngân hàng để Ngân hàng xử lý phát mại nhưng Ngân hàng vẫn không xử lý được vì tài sản lại liên quan đến một vụ án hình sự hoặc liên quan đến một án dân sự của bên thứ ba nào đó và vì thế đang từ khoản vay có tài sản bảo đảm trở thành khoản vay không “đảm bảo”.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: BỊ “LỆCH GIỚI” KHI LÀM GIẤY TỜ TÙY THÂN

 DUY NHÂN – Báo Người Lao động

Do không biết chữ, nhà lại nghèo nên hàng chục năm trời anh Lâm Văn Châu không biết các giấy tờ tùy thân của mình từ đàn ông bị ghi sai thành Lâm Thị Mỹ Châu, giới tính là nữ.

Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau vừa có văn bản chỉ đạo Chủ tịch UBND huyện Cái Nước nghiêm túc rút kinh nghiệm vụ công dân Lâm Thị Mỹ Châu xin được điều chỉnh giấy tờ đúng với tên thật và giới tính thật.

Nam 100% nhưng giấy tờ là nữ

Đó là trường hợp của anh Lâm Văn Châu (SN 1983; ngụ xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau). Điều lạ là từ khi anh Châu làm giấy CMND cũng không ai phát hiện ra người “phụ nữ” này là đàn ông. Do không biết chữ, nhà lại nghèo nên anh Châu cứ đinh ninh tên trong CMND Lâm Thị Mỹ Châu là đúng tên mình, cứ vậy mà sử dụng hàng chục năm. Các giấy tờ hộ tịch liên quan đến anh Châu như: Hộ khẩu, giấy khai sinh đều ghi tên Lâm Thị Mỹ Châu, giới tính (nữ) dù rằng anh đàn ông 100%.

Chỉ đến khi anh Châu đưa giấy CMND cho người cháu vợ tên Phan Văn Sơn nhờ đi làm lại giùm thì sự việc trái khoáy này mới được phát hiện. “Biết tôi định làm lại giấy CMND nên dượng Châu đưa giấy CMND nhờ tôi làm lại giùm. Thấy giấy CMND của dượng Châu ghi là Lâm Thị Mỹ Châu, giới tính là nữ ai cũng cười. Bởi ai cũng biết dượng Châu là đàn ông 100%, chồng của cô tôi mà. Tìm hiểu thêm thì biết hộ khẩu cũng ghi giống như vậy”, anh Sơn cho biết.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: KIỆN CHỦ RUỘNG KẾ BÊN VÌ … MẤT MÙA LÚA

MINH KHÁNH – Báo Pháp luật TP.HCM

Lúa mất mùa, nguyên đơn đổ thừa cho chủ ruộng kế bên cố tình thả nước tràn vào gây ngập úng và đòi bồi thường 30 triệu đồng nhưng bị tòa bác.

Ông N. có thửa đất rộng hơn 10.000 m2, tọa lạc tại ấp 2, xã Mỹ Tân, huyện Cái Bè, Tiền Giang. Giáp ranh với phần đất của ông N. là thửa đất ruộng của ông V. Hai gia đình canh tác trồng lúa nhiều năm trước không xảy ra xích mích, cãi cọ gì.

Nhưng đến ngày 6-10-2015 âm lịch, ông N. sạ vụ lúa mới trên ruộng của mình trong khi ruộng của ông V. sạ trước đó bốn ngày. Lần gieo trồng này lúa của ông N. không đạt năng suất như ông mong muốn và ước tính. Sau một thời gian nghiên cứu nguyên nhân mất mùa, ông N. cho rằng lúa năng suất thấp là do ông V. làm ảnh hưởng tới. Từ đó ông N. đâm đơn ra TAND huyện Cái Bè khởi kiện yêu cầu ông V. phải bồi thường thiệt hại. Lý do ông V. đã thả nước tràn qua ruộng của ông khiến lúa ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển, kéo theo là giảm năng suất đáng kể.

Trong đơn khởi kiện và trình bày của mình, ông N. cho rằng thời điểm đó ông V. có hỏi ông để khơi nước qua ruộng nhưng ông không đồng ý. Vào đêm 8 và 9-10-2015 âm lịch, ông V. đã thả nước vào ruộng của mình rồi tự ý đào ranh giáp với đất của ông N. Mục đích của việc này là để cho nước tràn qua ruộng của ông N. Đến hôm sau có người cùng ấp báo thì ông N. mới biết ruộng lúa của mình ngập băng nước. Ông N. lập tức đến xả nước ra để cứu lúa, thấy cây lúa yếu ông còn phải xịt thuốc, rải phân để phục hồi lại.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: