Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

HỆ THỐNG ÁN LỆ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 TRẦN ĐỨC SƠN – Nhà Pháp luật Việt – Pháp

Án lệ thường được tiếp cận dưới góc độ xác định nguồn luật trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế. Xét dưới góc độ này, hệ thống án lệ của Cộng hoà Pháp có những đặc điểm đáng chú ý cho thấy có sự kết hợp giữa hai thái cực xuất phát từ hai trường phái pháp luật cổ điển: Trường phái luật Anh – Mỹ (Case Law) coi án lệ là nguồn chủ yếu của pháp luật và trường phái luật thành văn (Civil Law) không công nhận hoặc công nhận hạn chế án lệ là nguồn luật. Pháp luật Pháp không tuyệt đối hoá vai trò là nguồn luật của án lệ nhưng cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò này. Án lệ của Cộng hoà Pháp không đương nhiên được thừa nhận là nguồn của pháp luật, muốn trở thành nguồn luật, nó phải đáp ứng một số điều kiện về hình thức và nội dung.

Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, án lệ cũng không phải là một nguồn luật đầy đủ như các nguồn luật chính thống. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, án lệ của Cộng hoà Pháp không phải là một nguồn luật chính thức nhưng tồn tại như một thực tế khách quan. Nó không có hiệu lực cưỡng chế mang tính pháp lý như các nguồn luật chính thống, nhưng lại có hiệu lực ràng buộc mang tính tâm lý đối với các cơ quan áp dụng pháp luật đặc biệt là Thẩm phán (khi xét xử một vụ việc, Thẩm phán thường có xu hướng lựa chọn cách giải quyết đã từng áp dụng cho các vụ việc tương tự trước đây) và cũng là nguồn hình thành các quy tắc ứng xử trong xã hội. Nhìn chung, hiện nay giới luật gia của Pháp vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về quy chế nguồn luật của án lệ. Điều này xuất phát từ hai lý do. Thứ nhất, khái niệm án lệ (Jurisprudence) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Mỗi người đều xuất phát từ cách hiểu riêng của mình về khái niệm này khi tiếp cận vấn đề quy chế nguồn luật của án lệ. Thứ hai, các văn bản pháp luật chính thức của Cộng hoà Pháp không xác định một cách rõ ràng việc án lệ có phải là một nguồn luật hay không. Hiến pháp năm 1958 không có một quy định nào về vấn đề này. Bộ luật Dân sự 1804 có những điều khoản có vẻ như công nhận quy chế nguồn luật của án lệ (Điều 4), nhưng lại có những điều khoản quy định theo hướng phủ nhận quy chế này (Điều 5 và Điều 1351).

Continue reading

Advertisements

ÁN LỆ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHÍNH SÁCH TRONG XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

1. Bối cảnh

(i) Tiền đề về chính trị – pháp lý

Việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005[1] nói chung và việc nghiên cứu quy định án lệ trong BLDS nói riêng về cơ bản đã có những tiền đề chính trị – pháp lý thuận lợi. Dự án Luật được tiến hành trong giai đoạn lịch sử lập hiến, lập pháp của Việt Nam ở thời kỳ phát triển mới, trọng tâm vào công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; vào xây dựng, hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền sở hữu, quyền của các chủ thể liên quan, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp không phụ thuộc vào hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; vào thực hiện chiến lược cải cách tư pháp nhất là bảo đảm vị trí, vai trò của TAND trong bảo vệ công lý và thực hiện quyền tư pháp,[2]

Trong đời sống chính trị – pháp lý ở Việt Nam, việc phát triển và áp dụng án lệ cũng không phải là vấn đề mới. Trước năm 1945 (ở miền Bắc) và trước năm 1975 (ở miền Nam) việc nghiên cứu và áp dụng áp lệ đã khá phổ biến trong hệ thống Tòa án dưới các chế độ cũ. Trong những năm 1950-1960, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã từng ghi nhận việc áp dụng án lệ theo hướng: Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành, áp dụng đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, áp dụng án lệ của các tòa án, của Tòa án tối cao; Tòa án nhân dân phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các tòa án nhân dân cấp dưới thông qua án lệ của mình[3]. Trong suốt thời gian sau đó, mặc dù không có ghi nhận chính thức, nhưng thông qua hoạt động tổng kết công tác xét xử cho thấy việc áp dụng án lệ của ngành Tòa án vẫn được “ẩn” trong các hướng dẫn công tác xét xử của TANDTC.

Continue reading

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÁC BỘ LUẬT DÂN SỰ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

 THS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

CN. LÊ NGUYỄN GIA PHÚC

Trong hệ thống các luật thành văn, bộ luật dân sự – BLDS (gọi tắt là Bộ dân luật – BDL) đóng vai trò nền tảng, định hướng và xác lập một khung pháp lý điều chỉnh toàn bộ đời sống dân sự. Khi soạn thảo một BDL, các nhà lập pháp luôn chú trọng đến việc chế định các nguyên tắc[1] của BDL đó, bởi lẽ các nguyên tắc này là những tư tưởng, quan điểm pháp lý cơ bản mang tính chỉ đạo mà một BDL cần phải có để bao quát, định hướng tất cả các điều khoản, các chế định nằm trong chính BDL.

Ngoài ra, khi cơ quan tài phán giải thích một điều luật không rõ nghĩa hoặc có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau mà không thể tìm thấy đáp án thích hợp ở chính điều luật đó hoặc ở chế định bao hàm điều luật đó thì cơ quan tài phán có thể viện dẫn các tục lệ và các nguyên tắc căn bản của BDL để giải thích điều luật.

1. Sự tồn tại các nguyên tắc của Bộ dân luật

Cần phải khẳng định rằng, không phải mọi BDL đều quy định một cách rõ ràng, tách bạch về các nguyên tắc chung; hay nói khác đi là trong tiến trình lập pháp, có hai quan điểm đối lập nhau về sự xuất hiện của các nguyên tắc chung, có BDL không chế định hẳn một phần dành cho các nguyên tắc chung, cũng có BDL quy định theo hướng ngược lại.

Continue reading

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

TS. DƯƠNG QUỲNH HOA – Viện Nhà nước&Pháp luật, Viện HLKHXH Việt Nam

1. Khái niệm về áp dụng pháp luật dân sự

Khái niệm áp dụng pháp luật (ADPL) đã được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu[1]. Tuy các công trình đó định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng tựu trung lại, ADPL được hiểu là một hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể[2]. Trong các hình thức thực hiện pháp luật, ADPL được xem là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền.

ADPL được thực hiện ở tất cả các lĩnh vực pháp luật. Trong lĩnh vực pháp luật dân sự, nhờ có ADPL mà các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự được xác định một cách rõ ràng[3].

Theo nguyên lý chung, ADPL dân sự là hoạt động của những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật dân sự vào những trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể hoặc nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên hoặc của người thứ ba có liên quan khi giải quyết các tranh chấp dân sự[4]. Như vậy, thông qua hoạt động ADPL của các chủ thể có thẩm quyền, các quy phạm pháp luật dân sự mới điều chỉnh các quan hệ xã hội, thực hiện sự tác động lên hành vi của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự và thông qua đó, tác động lên các quan hệ xã hội. ADPL dân sự là một giai đoạn quan trọng trong quá trình biến các quy phạm pháp luật dân sự thành thực tế[5].

2. Áp dụng Bộ luật Dân sự

Với tính chất là một đạo luật quan trọng, BLDS năm 2015 đã xác định một cách nhất quán tư tưởng chỉ đạo của các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 và khẳng định: “Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự”. Với nguyên tắc này, BLDS sẽ điều chỉnh toàn bộ các quan hệ tài sản giữa các chủ thể trong xã hội mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi vật chất, trong đó các chủ thể tham gia bình đẳng về mặt pháp lý, tự chịu trách nhiệm về tài sản[6]. Hay nói cách khác, BLDS sẽ điều chỉnh tất cả những vấn đề thuộc “pháp luật dân sự”, tức là những ứng xử, quan hệ được điều chỉnh bởi luật khác nhưng thuộc trong lĩnh vực “pháp luật dân sự”[7].

Continue reading

TẬP QUÁN VÀ NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TẬP QUÁN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

THS. ĐINH THỊ TÂM – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Khái quát về tập quán

Tập quán là một loại quy phạm xã hội tồn tại song hành cùng nhiều loại quy phạm xã hội khác như pháp luật, đạo đức, tín điều tôn giáo… nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội. Với tư cách là một loại quy phạm xã hội, tập quán luôn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ dân sự nói riêng.

Tập quán là một thuật ngữ có thể được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ ngôn ngữ tập quán được hiểu là “thói quen được hình thành đã lâu trong đời sống, được mọi người tuân theo[2], là “những quy tắc xử sự được hình thành một cách tự phát lâu ngày thành thói quen trong đời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhân như là quy tắc xử sự chung[3]. Dưới góc độ pháp lý, tập quán là “thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng[4]. Trong BLDS 2015 thuật ngữ “tập quán” được định nghĩa tại khoản 1 Điều 5, theo đó: “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”.

Như vậy, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau về tập quán nhưng các quan điểm đều thống nhất thừa nhận tập quán là thói quen được hình thành và tồn tại lâu dài trong đời sống xã hội. Một quy tắc xử sự để được thừa nhận là tập quán thì quy tắc đó phải được một cộng đồng người gắn với một phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc một lĩnh vực hoạt động xã hội thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong đời sống. Tập quán bao gồm nhiều loại, có thể là tập quán của một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, tập quán cũng có thể là tập quán trong nước hoặc tập quán quốc tế.

Continue reading

HIỂU THẾ NÀO VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP?

LS. TRẦN MINH HẢI – Công ty Luật BASICO

Doanh nghiệp là dạng khách hàng vay vốn chủ yếu trong cơ sở khách hàng của mỗi ngân hàng. Khi xét cấp một khoản tín dụng cho khách hàng, yêu cầu muôn thủa đối với ngân hàng và cán bộ ngân hàng là phải bảo đảm khách hàng vay vốn sử dụng đúng mục đích. Đúng mục đích, trước tiên được hiểu là mục đích vay vốn đúng với ngành nghề kinh doanh mà khách hàng được phép triển khai.

Vậy nên, hiểu các doanh nghiệp được hoàn toàn tự do kinh doanh những ngành nghề mà luật không cấm hay chỉ được kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật cho phép?

Câu hỏi này không hề mới. Tại khoản 1, Điều 7 của Luật Doanh nghiệp hiện hành, có nội dung xác định một trong những quyền năng cơ bản của doanh nghiệp là “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”. Tuy nhiên, để bảo đảm gắn kết với việc thẩm định mục đích vay vốn của doanh nghiệp, cán bộ ngân hàng nên có nhận thức thận trọng về phạm vi tự do kinh doanh của khách hàng.

Trước hết, ngân hàng phải loại trừ các trường hợp pháp luật cấm kinh doanh đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng doanh nghiệp. Có 7 trường hợp cấm kinh doanh cụ thể được nêu tại Điều 6 của Luật Đầu tư (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2016) như kinh doanh mại dâm, mua bán người, kinh doanh chất ma túy…

Loại trừ các trường hợp cấm kinh doanh, cơ chế quản lý Nhà nước về doanh nghiệp hiện nay là cơ chế đăng ký kinh doanh. Theo đó, doanh nghiệp được quyền lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, phương thức để tiến hành hoạt động kinh doanh. Pháp luật về doanh nghiệp chỉ đặt ra một số giới hạn là những ngưỡng chặn nhất định. Nếu vượt qua những ngưỡng chặn đó, quyền tự do kinh doanh thuộc về doanh nghiệp.

Continue reading

VẤN ĐỀ THỂ CHẾ HÓA QUYỀN TÀI SẢN TRONG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN

 PGS.TS. NGUYỄN VŨ HOÀNG – Tap chí Cộng sản 

Quyền tài sản là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người. Quyền tài sản có vai trò ngày càng quan trọng và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của một doanh nghiệp hoặc tổ chức trong nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại. Vì vậy, thể chế hóa quyền tài sản không chỉ nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, mà còn bảo đảm cho hình thành đầy đủ, đồng bộ các chủ thể của kinh tế thị trường, các yếu tố của thị trường vận hành thông suốt. Trên ý nghĩa đó, Đại hội XII của Đảng trong khi chỉ rõ định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã nhấn mạnh đến yêu cầu bức thiết của việc thể chế hóa quyền tài sản.

Quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về thể chế hóa quyền tài sản trong xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Sau hơn 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền KTTT đầy đủ hơn thông qua việc thừa nhận sở hữu tư nhân và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển; cải thiện quyền tự do giao dịch, lao động; tự do tiền tệ; tự do đầu tư; giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, chuyển đổi, cho hoặc tặng, góp vốn để kinh doanh; nỗ lực hình thành đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế…

Vấn đề thể chế hóa quyền tài sản có nội hàm rộng, bao gồm cả việc xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền tài sản. Ví dụ, về thời điểm xác lập quyền sở hữu và các quyền tài sản khác, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: 1- Việc xác lập quyền sở hữu và vật quyền khác có hiệu lực kể từ thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản, trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng có quy định khác; 2- Trường hợp tài sản đã được chuyển giao trước thời điểm hợp đồng được giao kết thì quyền sở hữu và vật quyền khác được xác lập kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng có quy định khác; 3- Trường hợp luật quy định việc chuyển giao vật phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì thời điểm xác lập quyền sở hữu và vật quyền khác có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký, trừ trường hợp luật khác có quy định khác.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC LA HỦ Ở LAI CHÂU

TS. NGUYỄN VĂN TRỌNG – Ủy ban Dân tộc

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc La Hủ ở nước ta có dân số 9.651 người (thuộc nhóm những dân tộc rất ít người ở nước ta), cư trú tại 16/63 tỉnh, thành phố. Đại đa số người La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (9.600 người, chiếm 99,47 % tổng số người La Hủ tại Việt Nam), ngoài ra còn có ở Thái Nguyên (20 người), các tỉnh còn lại có không nhiều hơn 10 người. 

Do địa bàn cư trú chủ yếu ở những khu vực núi non hiểm trở, cuộc sống dựa vào thiên nhiên, sản xuất mang tính tự cung tự cấp, hạn chế giao lưu hàng hóa với bên ngoài… nên đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tỷ lệ đói nghèo lên tới 85 – 90% (theo tiêu chí cũ).

Kết quả khảo sát tại 20 hộ gia đình ở xã Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu cho thấy phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc La Hủ nói riêng hiện nay tuy ít nhiều có sự thay đổi nhưng do được thụ hưởng những chính sách bảo tồn và phát triển nên đã có tác động nhất định đến kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số nói riêng và của cả nước nói chung. Cụ thể:

Về kinh tế, trước kia, người La Hủ sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy và săn bắn, hái lượm với công cụ lao động là con dao, chiếc cuốc. Vài chục năm trở lại đây, người La Hủ đã dùng trâu cày kéo và phát triển cây lúa nước, lúa nương làm nguồn lương thực chính. Đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia,… bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: