Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

KINH NGHIỆM NHẬT BẢN TRONG XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM, KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

LS. EDAGAWA MITSUSHI – Chuyên gia JICA

Continue reading

Advertisements

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM VỀ LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM BẢO HIỂM – NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

THS. NGUYỄN VĂN TIẾN –  Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm thì các vụ án tranh chấp về bảo hiểm ngày càng tăng về số lượng và mức độ phức tạp đã đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc giải quyết các tranh chấp này. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án cho thấy pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nói chung cũng như quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm nói riêng cũng còn một số hạn chế, bất cập. Trong phạm vi bài tham luận này, tôi sẽ đưa ra một số vướng mắc điển hình trong quá trình giải quyết các tranh chấp về bảo hiểm tại Tòa án và nêu một vài kiến nghị để trao đổi tại buổi Hội thảo này như sau:

1. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Để bảo đảm yêu cầu như đã đề cập ở trên, đối với pháp luật về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm hiện hành phải xem xét một số quy định cụ thể mà trong đó cần có sự quan tâm đặc biệt đến những quy định tồn tại mang tính bản chất, thể hiện đặc thù của hoạt động thương mại đặc biệt này. Những quy định này mang tính cá biệt hoá nội dung pháp luật kinh doanh bảo hiểm so với nội dung pháp luật về các hoạt động thương mại khác. Nguyên tắc bình đẳng-tự do-tự nguyện cam kết, thoả thuận được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự thì nội dung của hợp đồng là hoàn toàn do các bên quyết định và phụ thuộc vào ý chí của các bên, các quy định về nội dung hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự chỉ mang tính chất khuyến nghị các bên trong quan hệ hợp đồng thoả thuận để hạn chế được phần nào những tranh chấp, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong khi đó, nội dung của hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 13 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) có quy định: …Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm…” là bắt buộc, không thể thiếu, buộc các phải ghi nhận trong hợp đồng.

Continue reading

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ HÌNH SỰ, HÀNH CHÍNH, DÂN SỰ VÀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 212/TANDTC-PC NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 2019 (Trích dẫn)

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 29-7-2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức phiên họp trực tuyến để giải đáp một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, dân sự và kinh doanh, thương mại. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp vướng mắc như sau:

1. Vướng mắc về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (quy định tại Điều 201 của Bộ luật Hình sự)

– Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi thu được từ việc cho vay hay là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”. Do đó, khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

– Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong vụ án là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay hay số tiền lãi thu được của từng người vay?

Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay, nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Continue reading

TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

MICHEL GRIMALDI – Giáo sư trường Đại học Paris II, Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

Trong phần giới thiệu tổng quát này, tôi muốn nhấn mạnh 3 vấn đề. Đầu tiên là lợi ích của các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự (BPBĐ) nói chung. Thứ hai là phân loại các BPBĐ và thứ ba là quá trình phát triển lịch sử của pháp luật về các BPBĐ của Pháp. Đây là ba nội dung của phần giới thiệu tổng quát này.

Vấn đề thứ nhất, lợi ích của các BPBĐ là gì? Để hiểu được lợi ích của các BPBĐ, phải xuất phát từ tình huống một chủ nợ không có bảo đảm và không được thanh toán, có nghĩa là một chủ nợ không dùng các BPBĐ và con nợ không thanh toán. Tình trạng của chủ nợ này được xác định bởi hai nguyên tắc cơ bản được quy định tại các Điều 2284 và 2285 BLDS Pháp. Nguyên tắc đầu tiên được quy định tại Điều 2284 mà theo đó chủ nợ có quyền cầm cố nói chung trên tất cả các tài sản của con nợ. Nhưng ở đây, cần phải chú ý đến các từ ngữ, khi nói rằng chủ nợ không có bảo đảm có quyền cầm cố nói chung, từ “cầm cố” không chỉ một BPBĐ mà chỉ có nghĩa đơn giản là chủ nợ không có bảo đảm có thể kê biên mọi tài sản của con nợ. Nhưng cũng cần chú ý, nếu Điều 2284 quy định rằng chủ nợ không có bảo đảm có thể kê biên mọi tài sản của con nợ thì điều đó có nghĩa rằng họ không thể kê biên những tài sản khác ngoài những tài sản thuộc về con nợ. Điều này có nghĩa rằng họ không thể kê biên các tài sản đã từng thuộc về con nợ nhưng con nợ đã chuyển nhượng hoặc bán đi. Theo ngôn ngữ chuyên ngành, người ta nói rằng chủ nợ không có bảo đảm không có quyền truy đuổi tài sản vì họ không thể được thanh toán bằng các tài sản đã từng thuộc về con nợ nhưng con nợ đã chuyển nhượng. Đó là nguyên tắc đầu tiên theo Điều 2284 BLDS.

Continue reading

PHÁP ĐIỂN HÓA

BERNARD PIGNEROL Thẩm phán, Tham chính viện Cộng hòa Pháp

Gérard Cornu đã định nghĩa: pháp điển hóa là “việc tập hợp và sắp xếp lại một cách có hệ thống tất cả các qui định pháp luật về một lĩnh vực, một ngành thành một bộ pháp điển và theo nghĩa rộng là kết quả của hoạt động đó“[1]. Nghĩa ban đầu của thuật ngữ “pháp điển hóa” là hoạt động hay nghệ thuật[2] xây dựng một bộ luật (codicem facere trong tiếng La tinh). Thật khó có thể tách biệt rõ ràng giữa quá trình pháp điển hóa và kết quả của quá trình đó, tức nghĩa là tách biệt cái gì thuộc về Bộ luật và cái gì thuộc về quá trình pháp điển hóa. Khó khăn này xuất phát từ bản chất của bộ luật[3]- đây là kết quả của một hệ thống ký hiệu bằng hình ảnh, âm thanh và chữ viết có hiệu lực trên phạm vi rộng và mang tính bắt buộc. Do đó, định nghĩa về Bộ luật vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng4.

Bộ luật là một tập hợp các quy định thành văn có quan hệ phụ thuộc nhau được sắp xếp theo một trật tự nào đó (theo số thứ tự hoặc theo chủ đề) cho phép tra cứu dưới nhiều góc độ như: bố cục, mục lục, từ, .v.v.. Bộ luật còn là công cụ để phổ biến kiến thức và quản lý trong lĩnh vực pháp luật. Các vấn đề xung quanh phương pháp pháp điển hóa sẽ ít được đề cập mà chúng ta sẽ tập trung hơn vào các phương diện lịch sử, chính trị hay pháp lý. Các phương pháp pháp điển hóa sẽ làm sáng tỏ mục đích của các dự án pháp điển hóa được thực hiện trong nhiều thế kỷ.

1. Pháp điển hóa trong lịch sử và điểm những hạn chế

1.1. Hoạt động pháp điển hóa cho đến trước năm 1804

Nếu chúng ta xem xét những dự án pháp điển hóa thời kỳ trước của một số nhà nước như Hammourabi, Justinien, Théodose hay Napoléon, chúng ta có thể thấy một số điểm chung cũng như những điểm khác biệt gắn liền với nền văn hóa đặc thù của mỗi nước hoặc mỗi thời kỳ.

Các dự án pháp điển hóa này phản ánh sự biểu hiện quyền lực, nó tạo nên uy tín cá nhân cho mỗi vị vua[4] và cho phép duy trì lâu dài sự nghiệp chinh phục các nước[5]. Quan niệm này đã tồn tại khá lâu trong lịch sử, trải qua các thời kỳ từ Hammourabi đến Justinien, Louis XIV và cả những vị vua đã được soi rọi dưới ánh sáng triết học của thế kỷ 18 như Frédéric đại đế (Phổ) hay Vua Joseph II (Áo). Tất cả họ đều tin rằng công việc này vừa mang lại hạnh phúc cho thần dân vừa mang lại vầng hào quang cho các hoàng tử.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÚC MẮC VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ

 NGUYỄN QUANG LỘC – Nguyên Thẩm phán TANDTC

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định, xin nêu để các bạn tham khảo.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). BLDS không đưa quy định và khái niệm thừa kế.

Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác, việc chuyển dịch tài sản này có thể bằng di chúc hoặc theo trình tự mà pháp luật dân sự quy định.

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân. Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa thế được pháp luật bảo hộ”. Bảo hộ quyền thừa kế tức là bảo hộ quyền sở hữu tư nhân hay chỉ khi có quyền sở hữu tư nhân thì mới có quyền thừa kế.

Về cơ bản các quy định trong 04 chương (những quy định chung, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia tài sản) của BLDS là tương đối rõ ràng, đầy đủ và đã khắc phục được một số vướng mắc, hạn chế của BLDS năm 2005. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định.

1. Về quy định tại khoản 3 Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Continue reading

ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP (ĐIỀU 688) THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

 CHU XUÂN MINH – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1.Quy định chuyển tiếp và thực tiễn vướng mắc

Trong văn bản quy phạm pháp luật, ở phần cuối của văn bản thường có quy định về Điều khoản thi hành. Điều khoản thi hành thường có Điều khoản chuyển tiếp và Điều khoản về hiệu lực thi hành. Điều khoản chuyển tiếp là quy định về trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ hay những quan hệ pháp luật được xác lập trước thời điểm pháp luật mới có hiệu lực thì khi nào áp dụng pháp luật cũ, khi nào áp dụng pháp luật mới hay còn gọi là quy định hồi tố. Việc áp dụng pháp luật chuyển tiếp phải được quy định và thực hiện thống nhất vì áp dụng pháp luật khác nhau sẽ dẫn đến những quyết định rất khác nhau. Tình trạng vướng mắc này đang xảy ra khá nhiều trong hoàn cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) mới có hiệu lực (01/01/2017).

Ví dụ 1: Ông A bán nhà cho ông B vào năm 2013, chỉ có hợp đồng viết tay, không có công chứng, chứng thực. Hai bên thỏa thuận giá 01 tỷ đồng và ông B đã trả được 800 triệu đồng vào năm 2017. Năm 2018 mới xảy ra tranh chấp. Theo pháp luật ở thời điểm giao dịch năm 2013 (BLDS năm 2005 và Luật Nhà ở 2005) thì hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm về hình thức; Tòa án đã ấn định thời hạn để các bên hoàn thiện về hình thức mà vẫn không thực hiện thì Tòa án vẫn phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả tuyên bố vô hiệu. Vậy Tòa án có thể áp dụng quy định mới tại BLDS năm 2015 để công nhận hợp đồng có hiệu lực do một bên đã thực hiện được trên 2/3 nghĩa vụ (800 triệu/ 01 tỷ đồng) theo quy định tại Điều 129 hay không?

Ví dụ 2: Bà M cho bà N vay 500 triệu đồng từ năm 01/5/2015 với thỏa thuận lãi suất 1,5% tháng. Năm 2018, bà M kiện đòi trả nợ. Mức lãi suất 1,5%/tháng là quá cao ở thời điểm vay (18%/năm). Việc điều chỉnh lại lãi suất nếu áp dụng theo quy định của BLDS năm 2005 thì không quá 13,5%/năm (Điều 476) nhưng nếu theo quy định của BLDS năm 2015 thì còn được tới 20%/năm (Điều 468).

Continue reading

TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 GS. DENIS MAZEAUD Đại học Paris II, Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

Pháp luật về trách nhiệm dân sự (TNDS) trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1804 được quy định tất cả chỉ trong 5 điều khoản. Pháp luật TNDS trong BLDS năm 2011 vẫn được quy định trong những điều khoản đó, những thay đổi hầu như chỉ mang tính chất bổ sung, trên thực tế không có nhiều ý nghĩa. Khoảng 20 điều khoản bổ sung này đều liên quan đến căn cứ chính để quy trách nhiệm, cơ chế để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra (trách nhiệm sản phẩm). Như vậy, trong BLDS, ngoài Luật trách nhiệm sản phẩm năm 1998, pháp luật về TNDS không thay đổi nhưng hiện đại và được phát triển nhờ hai cách sau đây:

Một mặt, tuy pháp luật của Pháp thuộc hệ thống pháp luật thành văn, các quy phạm pháp luật được pháp điển hóa nhưng điều này không hoàn toàn đúng với pháp luật về TNDS vì hệ thống pháp luật này vẫn phát triển dù bộ luật không sửa đổi. Pháp luật chung về TNDS chủ yếu được xây dựng nhờ án lệ của các Tòa án. Trong pháp luật của Pháp, chúng tôi có một tòa án tư pháp đặc biệt: đó là Tòa Phá án, tòa án cao nhất trong hệ thống tòa án tư pháp. Tòa Phá án đã đưa ra những quy định quan trọng về TNDS, chẳng hạn như tất cả các quy định liên quan đến quyền đòi bồi thường. Trong BLDS 1804 và BLDS hiện nay, quý vị sẽ không tìm thấy bất cứ quy định nào về quyền đòi bồi thường, nguyên tắc bồi thường toàn bộ hay ảnh hưởng của lỗi do người bị thiệt hại gây ra đối với thiệt hại của chính người đó cũng như các quy định về các hình thức bồi thường thiệt hại bằng tiền, trợ cấp, bằng hiện vật tương đương v.v… Như vậy, để có thể nắm rõ được pháp luật về TNDS của Pháp, cần phải hiểu rằng chính các thẩm phán đã cải cách và phát triển pháp luật về TNDS từ thế kỷ 19.

Mặt khác, từ khoảng 3 thập kỷ cuối của thế kỷ 20, có sự khôi phục lại ảnh hưởng của nhà lập pháp vốn trước đây không can thiệp nhiều vào lĩnh vực TNDS. Các nhà lập pháp đã thông qua những văn bản chính về TNDS quy định các cơ chế bồi thường thiệt hại. Từ năm 1985, ở Pháp, nhiều luật liên quan đến bồi thường thiệt hại đã được thông qua và tạo nên những thay đổi lớn trong lĩnh vực TNDS; trong đó có ba luật quan trọng sau đây:

– Luật Bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông năm 1985

– Luật Bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật năm 1998

– Luật Bồi thường thiệt hại do dịch vụ y tế năm 200t.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: