Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

PHÁP ĐIỂN HÓA

BERNARD PIGNEROL Thẩm phán, Tham chính viện Cộng hòa Pháp

Gérard Cornu đã định nghĩa: pháp điển hóa là “việc tập hợp và sắp xếp lại một cách có hệ thống tất cả các qui định pháp luật về một lĩnh vực, một ngành thành một bộ pháp điển và theo nghĩa rộng là kết quả của hoạt động đó“[1]. Nghĩa ban đầu của thuật ngữ “pháp điển hóa” là hoạt động hay nghệ thuật[2] xây dựng một bộ luật (codicem facere trong tiếng La tinh). Thật khó có thể tách biệt rõ ràng giữa quá trình pháp điển hóa và kết quả của quá trình đó, tức nghĩa là tách biệt cái gì thuộc về Bộ luật và cái gì thuộc về quá trình pháp điển hóa. Khó khăn này xuất phát từ bản chất của bộ luật[3]- đây là kết quả của một hệ thống ký hiệu bằng hình ảnh, âm thanh và chữ viết có hiệu lực trên phạm vi rộng và mang tính bắt buộc. Do đó, định nghĩa về Bộ luật vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng4.

Bộ luật là một tập hợp các quy định thành văn có quan hệ phụ thuộc nhau được sắp xếp theo một trật tự nào đó (theo số thứ tự hoặc theo chủ đề) cho phép tra cứu dưới nhiều góc độ như: bố cục, mục lục, từ, .v.v.. Bộ luật còn là công cụ để phổ biến kiến thức và quản lý trong lĩnh vực pháp luật. Các vấn đề xung quanh phương pháp pháp điển hóa sẽ ít được đề cập mà chúng ta sẽ tập trung hơn vào các phương diện lịch sử, chính trị hay pháp lý. Các phương pháp pháp điển hóa sẽ làm sáng tỏ mục đích của các dự án pháp điển hóa được thực hiện trong nhiều thế kỷ.

1. Pháp điển hóa trong lịch sử và điểm những hạn chế

1.1. Hoạt động pháp điển hóa cho đến trước năm 1804

Nếu chúng ta xem xét những dự án pháp điển hóa thời kỳ trước của một số nhà nước như Hammourabi, Justinien, Théodose hay Napoléon, chúng ta có thể thấy một số điểm chung cũng như những điểm khác biệt gắn liền với nền văn hóa đặc thù của mỗi nước hoặc mỗi thời kỳ.

Các dự án pháp điển hóa này phản ánh sự biểu hiện quyền lực, nó tạo nên uy tín cá nhân cho mỗi vị vua[4] và cho phép duy trì lâu dài sự nghiệp chinh phục các nước[5]. Quan niệm này đã tồn tại khá lâu trong lịch sử, trải qua các thời kỳ từ Hammourabi đến Justinien, Louis XIV và cả những vị vua đã được soi rọi dưới ánh sáng triết học của thế kỷ 18 như Frédéric đại đế (Phổ) hay Vua Joseph II (Áo). Tất cả họ đều tin rằng công việc này vừa mang lại hạnh phúc cho thần dân vừa mang lại vầng hào quang cho các hoàng tử.

Continue reading

Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÚC MẮC VỀ PHÁP LUẬT THỪA KẾ

 NGUYỄN QUANG LỘC – Nguyên Thẩm phán TANDTC

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định, xin nêu để các bạn tham khảo.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). BLDS không đưa quy định và khái niệm thừa kế.

Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác, việc chuyển dịch tài sản này có thể bằng di chúc hoặc theo trình tự mà pháp luật dân sự quy định.

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân. Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa thế được pháp luật bảo hộ”. Bảo hộ quyền thừa kế tức là bảo hộ quyền sở hữu tư nhân hay chỉ khi có quyền sở hữu tư nhân thì mới có quyền thừa kế.

Về cơ bản các quy định trong 04 chương (những quy định chung, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia tài sản) của BLDS là tương đối rõ ràng, đầy đủ và đã khắc phục được một số vướng mắc, hạn chế của BLDS năm 2005. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định.

1. Về quy định tại khoản 3 Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Continue reading

ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP (ĐIỀU 688) THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

 CHU XUÂN MINH – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1.Quy định chuyển tiếp và thực tiễn vướng mắc

Trong văn bản quy phạm pháp luật, ở phần cuối của văn bản thường có quy định về Điều khoản thi hành. Điều khoản thi hành thường có Điều khoản chuyển tiếp và Điều khoản về hiệu lực thi hành. Điều khoản chuyển tiếp là quy định về trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ hay những quan hệ pháp luật được xác lập trước thời điểm pháp luật mới có hiệu lực thì khi nào áp dụng pháp luật cũ, khi nào áp dụng pháp luật mới hay còn gọi là quy định hồi tố. Việc áp dụng pháp luật chuyển tiếp phải được quy định và thực hiện thống nhất vì áp dụng pháp luật khác nhau sẽ dẫn đến những quyết định rất khác nhau. Tình trạng vướng mắc này đang xảy ra khá nhiều trong hoàn cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) mới có hiệu lực (01/01/2017).

Ví dụ 1: Ông A bán nhà cho ông B vào năm 2013, chỉ có hợp đồng viết tay, không có công chứng, chứng thực. Hai bên thỏa thuận giá 01 tỷ đồng và ông B đã trả được 800 triệu đồng vào năm 2017. Năm 2018 mới xảy ra tranh chấp. Theo pháp luật ở thời điểm giao dịch năm 2013 (BLDS năm 2005 và Luật Nhà ở 2005) thì hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu do vi phạm về hình thức; Tòa án đã ấn định thời hạn để các bên hoàn thiện về hình thức mà vẫn không thực hiện thì Tòa án vẫn phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả tuyên bố vô hiệu. Vậy Tòa án có thể áp dụng quy định mới tại BLDS năm 2015 để công nhận hợp đồng có hiệu lực do một bên đã thực hiện được trên 2/3 nghĩa vụ (800 triệu/ 01 tỷ đồng) theo quy định tại Điều 129 hay không?

Ví dụ 2: Bà M cho bà N vay 500 triệu đồng từ năm 01/5/2015 với thỏa thuận lãi suất 1,5% tháng. Năm 2018, bà M kiện đòi trả nợ. Mức lãi suất 1,5%/tháng là quá cao ở thời điểm vay (18%/năm). Việc điều chỉnh lại lãi suất nếu áp dụng theo quy định của BLDS năm 2005 thì không quá 13,5%/năm (Điều 476) nhưng nếu theo quy định của BLDS năm 2015 thì còn được tới 20%/năm (Điều 468).

Continue reading

TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 GS. DENIS MAZEAUD Đại học Paris II, Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

Pháp luật về trách nhiệm dân sự (TNDS) trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1804 được quy định tất cả chỉ trong 5 điều khoản. Pháp luật TNDS trong BLDS năm 2011 vẫn được quy định trong những điều khoản đó, những thay đổi hầu như chỉ mang tính chất bổ sung, trên thực tế không có nhiều ý nghĩa. Khoảng 20 điều khoản bổ sung này đều liên quan đến căn cứ chính để quy trách nhiệm, cơ chế để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra (trách nhiệm sản phẩm). Như vậy, trong BLDS, ngoài Luật trách nhiệm sản phẩm năm 1998, pháp luật về TNDS không thay đổi nhưng hiện đại và được phát triển nhờ hai cách sau đây:

Một mặt, tuy pháp luật của Pháp thuộc hệ thống pháp luật thành văn, các quy phạm pháp luật được pháp điển hóa nhưng điều này không hoàn toàn đúng với pháp luật về TNDS vì hệ thống pháp luật này vẫn phát triển dù bộ luật không sửa đổi. Pháp luật chung về TNDS chủ yếu được xây dựng nhờ án lệ của các Tòa án. Trong pháp luật của Pháp, chúng tôi có một tòa án tư pháp đặc biệt: đó là Tòa Phá án, tòa án cao nhất trong hệ thống tòa án tư pháp. Tòa Phá án đã đưa ra những quy định quan trọng về TNDS, chẳng hạn như tất cả các quy định liên quan đến quyền đòi bồi thường. Trong BLDS 1804 và BLDS hiện nay, quý vị sẽ không tìm thấy bất cứ quy định nào về quyền đòi bồi thường, nguyên tắc bồi thường toàn bộ hay ảnh hưởng của lỗi do người bị thiệt hại gây ra đối với thiệt hại của chính người đó cũng như các quy định về các hình thức bồi thường thiệt hại bằng tiền, trợ cấp, bằng hiện vật tương đương v.v… Như vậy, để có thể nắm rõ được pháp luật về TNDS của Pháp, cần phải hiểu rằng chính các thẩm phán đã cải cách và phát triển pháp luật về TNDS từ thế kỷ 19.

Mặt khác, từ khoảng 3 thập kỷ cuối của thế kỷ 20, có sự khôi phục lại ảnh hưởng của nhà lập pháp vốn trước đây không can thiệp nhiều vào lĩnh vực TNDS. Các nhà lập pháp đã thông qua những văn bản chính về TNDS quy định các cơ chế bồi thường thiệt hại. Từ năm 1985, ở Pháp, nhiều luật liên quan đến bồi thường thiệt hại đã được thông qua và tạo nên những thay đổi lớn trong lĩnh vực TNDS; trong đó có ba luật quan trọng sau đây:

– Luật Bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông năm 1985

– Luật Bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật năm 1998

– Luật Bồi thường thiệt hại do dịch vụ y tế năm 200t.

Continue reading

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG CỦA CỘNG HÒA PHÁP

GS. YVES-MARIE LAITHIER  – Đại học Cergy-Pontoise, Cộng hòa Pháp

I. Các nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng

1. Pháp luật thực định của Pháp

Trước hết, chúng ta sẽ bắt đầu từ những quy định hiện hành của Pháp. Tôi sẽ nhận xét về cấu trúc của pháp luật hợp đồng của Pháp, sau đó tôi xin đưa ra một số khuyến nghị.

Cầu trúc của pháp luật hợp đồng được quy định trong BLDS Pháp năm 1804 tại Điều 1107: “Mọi hợp đồng dù có hay không có tên gọi riêng đều phải tuân thủ các quy định chung tại Thiên này”. Đoạn 2 Điều này quy định: “Một số hợp đồng được quy định tại các Thiên dành cho từng loại hợp đồng đó”. Như vậy, ở đây có thể rút ra hai nhận xét.

Thứ nhất, có sự phân biệt không chỉ riêng của Pháp mà bắt nguồn từ luật La Mã. Đó là sự phân biệt giữa hợp đồng có tên và hợp đồng không có tên, nghĩa là hợp đồng không được đặt tên cụ thể, ví dụ như hợp đồng theo một yêu cầu cụ thể của một bên hay của hai bên. Sự phân biệt này được thừa nhận trong BLDS nhưng đồng thời cũng mang tính tương đối do mọi loại hợp đồng đều được điều chỉnh bởi các quy định của luật chung.

Thứ hai, có sự phân biệt giữa các quy định chung và quy định đặc thù (chuyên ngành). Các hợp đồng có tên gọi vừa phải tuân thủ các quy định chung vừa phải tuân thủ các quy định riêng. Tất nhiên, các quy định chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng khi có sự xung đột giữa quy định chung và quy định chuyên ngành. Đôi khi, quy định chuyên ngành chỉ nhắc lại quy định chung, nhưng nếu hai quy định trái nhau thì sẽ áp dụng quy định chuyên ngành. Cần bổ sung thêm rằng các quy định chuyên ngành rất phát triển. Ví dụ về mua bán, ngoài các quy định chung còn có các quy định đặc thù tùy thuộc vào loại hợp đồng, chẳng hạn như hợp đồng mua bán trên mạng, mua bán quốc tế, mua bán mất động sản… Các loại hợp đồng đó phải tuân thủ các quy định đặc thù riêng. Các vị có thể thấy điều này không làm thay đổi cấu trúc cơ bản của pháp luật hợp đồng.

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

 SORAYA AMRANI MEKKIGiáo sư trường Đại học Paris Ouest – Nanterre La défense Trung tâm Pháp luật hình sự và Tội phạm học

1. Thời xưa Portalis đã khuyên nhủ chúng ta rằng « khi làm luật nên biết “run” “một chút”. Sự cẩn trọng này đặc biệt cần thiết trong bảo vệ người tiêu dùng vì lĩnh vực này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật được ban hành với những mục đích khác nhau tùy thuộc đó là văn bản pháp luật quốc gia hay văn bản pháp luật cộng đồng châu Âu[1]. Pháp luật quốc gia hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì mối tương quan lực lượng ở đây không cân bằng, người tiêu dùng là bên yếu thế nên cần phải được bảo vệ. Trái lại, trong pháp luật cộng đồng châu Âu, bảo vệ người tiêu dùng, bản thân nó, không phải là một mục đích mà chỉ là phương tiện để đạt được một mục đích khác. Trên thực tế, bảo vệ người tiêu dùng là nhằm làm cho người tiêu dùng yên tâm, tin tưởng để khuyến khích họ tiêu thụ nhiều hơn. Bảo vệ người tiêu dùng góp phần vào việc bảo vệ thị trường. Hai mục đích này dễ dàng được nhận thấy trong các hợp đồng tiêu dùng được ký kết từ xa qua mạng điện tử và thông qua hàng loạt các quy định phức tạp, khó hiểu và không phải lúc nào cũng hiệu quả.

2. Tính đặc thù của các hợp đồng ký kết từ xa qua mạng điện tử là khi ký kết hợp đồng, bên này không ký với sự có mặt của bên kia, loại hợp đồng này trước đây gọi là hợp đồng giữa các bên vắng mặt[2]. Trong loại hợp đồng này, người tiêu dùng là một bên ở vị thế đặc biệt mong manh. Họ không được tiếp xúc trực tiếp, không thể đánh giá cụ thể sản phẩm, do đó đòi hỏi phải có những quy định bảo vệ phù hợp[3]. Cần phải đảm bảo mức độ bảo vệ tương tự cho người tiêu dùng trong các giao dịch từ xa hoặc qua mạng điện tử, đây chính là mục tiêu ưu tiên mà Tham Chính viện đã đặt ra ngay từ năm 1998[4]. Mặt khác, do các hợp đồng được ký kết từ xa qua mạng điện tử thúc đẩy sự phát triển trao đổi thương mại quốc tế nên cần phải phòng ngừa nguy cơ giảm mức độ bảo hộ trong nước[5].

Continue reading

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CÁC NGUYÊN TẮC PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG ASEAN (HOẶC CHÂU Á)

TS. ROLAND AMOUSSOU-GÚENOUS – Chuyên viên hợp tác pháp luật khu vực ASEAN,  Đại sứ quán Pháp tại Thái Lan, giảng viên Viện Công nghệ Châu á  (AIT), Băng Cốc, Thái Lan

 

Phần mở đầu

Sự phát triển của các quốc gia Đông Nam Á với vai trò là những tác nhân quan trọng của quá trình toàn cầu hoá và là động lực phát triển nền kinh tế thế giới, dường như kéo theo sự chuyển dịch nhu cầu đàm phán hợp đồng quốc tế sang khu vực này của thế giới.  Trong sự phát triển năng động của khu vực, tình hình này đặt ra một vấn đề hoàn toàn mới, đó là xây dựng “Các nguyên tắc pháp luật hợp đồng ASEAN (hoặc Châu Á)” dựa trên mô hình “Các nguyên tắc pháp luật hợp đồng Châu Âu” cũng vừa mới ra đời.

Như chúng ta biết, hợp đồng vừa là công cụ pháp lý cơ bản để thực hiện giao dịch, vừa là công cụ quan trọng để tạo thuận lợi phát triển thương mại quốc tế. Nếu quan niệm về hợp đồng với tư cách là khuôn khổ điều chỉnh các quan hệ về quyền và nghĩa vụ, có tính trung lập và toàn cầu, thì môi trường pháp lý quy định về việc giao kết và thực hiện hợp đồng cũng như triết lý bên trong của các quy định này có thể kéo theo những hậu quả có tính quyết định.

Thách thức này không thể bị xem nhẹ. Chính vì vậy, nắm chắc pháp luật hợp đồng của một nước hoặc một khu vực, đối với các nước muốn xuất khẩu pháp luật, có thể là một yếu tố tạo dựng ảnh hưởng, và đối với các chủ thể kinh tế, có thể là một yếu tố quan trọng trong đàm phán hợp đồng thương mại quốc tế.

Hiểu rõ hơn về “Các nguyên tắc pháp luật hợp đồng ASEAN (hoặc Châu Á)” sẽ cho phép hiểu rõ hơn các khía cạnh liên quan đến các nguyên tắc này, nếu có, và làm rõ nội dung và xác định hệ quả của các nguyên tắc đó.

Continue reading

NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

THS. LS. LÊ VĂN SUA

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH.

Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể. Bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba Bộ luật này về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của bên gây thiệt hại phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải BTTH tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH.

Theo khoản 1 Điều 584 BLDS 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại. Qua nghiên cứu có thể thấy, BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho bên bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện:

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: