Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KHÁNH HÀNG LÀ CHỦ THỂ KINH DOANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

NGUYỄN HỒNG HẢI

Sau khi Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) được ban hành, nhất là sau thời điểm Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (Thông tư số 39) đã có những ý kiến khác nhau về địa vị pháp lý của chủ thể trong giao dịch nói chung, trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng nói riêng. Từ thực tế đó, tôi xin trao đổi thêm một vài ý kiến cá nhân về vấn đề này trên cơ sở quy định của BLDS năm 2015 và Thông tư số 39.

So với với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã có sự sửa đổi khá cơ bản về phạm vi điều chỉnh và chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, theo đó, thay vì xác định phạm vi điều chỉnh theo nhóm các quan hệ như BLDS năm 2005 (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động) thì Bộ luật mới  lại xác định phạm vi điều chỉnh theo bản chất pháp lý của quan hệ dân sự  là các quan hệ xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (Điều 1).[1] Trên cơ sở đó, BLDS quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự dựa trên các tiêu chí: (i) Xác định cụ thể; (ii) Độc lập về tài sản; (iii) Có năng lực tố tụng và (iv) Tự chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình. Theo đó, chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm có cá nhân (con người tự nhiên) và pháp nhân (con người pháp luật, thành lập, hoạt động và chấm dứt theo quy định). Đối với hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân khác, BLDS không phủ nhận mà vẫn tôn trọng sự tồn tại và việc tham gia vào các quan hệ dân sự, giao dịch dân sự của các thực thể thực tế này.  Tuy nhiên, trường hợp chúng tham gia vào quan hệ dân sự nói chung, giao dịch nói riêng thì các thành viên của chúng (cá nhân hoặc pháp nhân) mới là chủ thể giao dịch dân sự.[2] Thông tư số 39 của NHNN cũng xác định chủ thể vay vốn theo tinh thần này. Việc xác định chủ thể trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ vay vốn tại tổ chức tín dụng nói riêng theo cá nhân và pháp nhân cũng là phù hợp với thông lệ quốc tế.  [3]

Continue reading

Advertisements

CÔNG VĂN SỐ 01/2018/GĐ-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 1 NĂM 2018 GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về một số vướng mắc về nghiệp vụ. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

I. VỀ DÂN SỰ

Trường hợp người để lại di sản thừa kế chết trước năm 1987 mà hiện nay Tòa án mới thụ lý, giải quyết tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được xác định như thế nào?

Kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính thì từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 1002/BC-UBTVQH13 NGÀY 22 THÁNG 11 NĂM 2015 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

Thời gian qua, đã có những tranh luận khá thú vị về một số nội dung trong quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, nhất là về Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự và Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Để có thêm thông tin tham chiếu, Civillawinfor xin giới thiệu toàn văn Báo cáo số 1002/BC-UBTVQH13 ngày 22 tháng 11 năm 2015 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) tại Phiên họp Quốc hội thông qua Bộ luật .

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,

Ngày 24 tháng 10 năm 2015, Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi) (BLDS). Ngay sau phiên họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với Cơ quan soạn thảo và các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và gửi phiếu xin ý kiến các vị đại biểu Quốc hội về một số nội dung lớn còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Bộ luật.

Ủy ban thường vụ Quốc hội kính trình Quốc hội Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo BLDS như sau:

1. Về phạm vi điều chỉnh và chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (Điều 1 và Điều 101)

Nhiều ý kiến tán thành với Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của dự thảo BLDS bao gồm cá nhân và pháp nhân. Hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được quy định tại Điều 101 của Dự thảo theo hướng: đây không phải là chủ thể của quan hệ dân sự, mà tùy thuộc vào từng quan hệ dân sự, việc tham gia của các chủ thể này được thực hiện thông qua các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc thông qua người đại diện.

Continue reading

CẦN CÓ CÁCH HIỂU THỐNG NHẤT QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU THỪA KẾ ĐỐI VỚI DI SẢN LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

 KIM QUỲNH

Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đều có những quy định mới về thời hiệu. Tuy nhiên, đối với vấn đề này, hiện nay văn bản hướng dẫn chưa nhiều, nên trong thực tiễn xét xử nhiều Thẩm phán còn khá lúng túng khi giải quyết các vụ án dân sự, đặt biệt là các vụ án chia thừa kế mà di sản thừa kế là bất động sản.

1. Thời hiệu thừa kế theo quy định của BLDS 2015

Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được quy định tại các điều 184, 185 BLTTDS 2015, theo đó, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của BLDS và Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc[1]. Đồng thời, BLDS 2015 cũng quy định rõ việc áp dụng quy định của BLDS 2015 về thời hiệu, theo đó các quy định của BLDS 2015 về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự[2].

BLDS năm 2015 quy định về thời hiệu thừa kế đối với bất động sản tại Điều 623[3], theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: (1) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236[4] của BLDS 2015; (2) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 (không có người người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp BLDS 2015, luật khác có liên quan quy định khác). Đây là quy định mới về thời hiệu thừa kế so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây (Pháp lệnh Thừa kế, BLDS 1995, BLDS 2005 đều quy định thời hạn thừa kế đối với bất động sản là 10 năm).

Continue reading

LÃI CHẬM TRẢ TIỀN TRONG ÁN LỆ NĂM 2016

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Pháp luật dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Trong 10 án lệ được công bố, có án lệ liên quan đến lãi do chậm thanh toán (chậm trả) một khoản tiền. Đó là Án lệ số 08/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) và án lệ số 09/2016/AL (được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Xoay quanh hai án lệ này, chúng ta có một số câu hỏi đáng lưu ý sau: Thứ nhất, khoản tiền nào có thể làm phát sinh lãi chậm trả? Thứ hai, thời gian tính lãi chậm trả là bao lâu? Thứ ba, mức lãi để tính lãi chậm trả là bao nhiêu?

I. Về khoản tiền làm phát sinh lãi chậm trả

1) Khoản tiền được án lệ cho phát sinh lãi chậm trả

* Tiền hoàn trả từ hợp đồng vay

Hiện nay, chúng ta có hai loại vay là vay tín dụng[1] và vay dân sự thông thường[2]. Cả hai loại vay này đều làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả tài sản vay (thông thường là một khoản tiền) và trong trường hợp bên vay không hoàn trả tài sản vay đúng thời hạn thì bên vay phải chịu lãi chậm trả.

Trong Án lệ số 08/2016/AL, Nội dung án lệ được lựa chọn đã khẳng định: “…Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán”.

Nội dung trên cho thấy, việc chậm trả khoản tiền vay tín dụng làm phát sinh lãi chậm trả và điều này cũng hoàn toàn đúng với các khoản vay dân sự thông thường.

Continue reading

BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ CHO NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN HỒNG HẢI

Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hai cách tiếp cận: (1) Bảo đảm nghĩa vụ theo luật định[1] và Bảo đảm nghĩa vụ theo thỏa thuận[2]; (2) Bảo đảm nghĩa vụ không bằng tài sản[3] và Bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản[4]. Tuy nhiên, dù dưới cách tiếp cận nào thì một trong những vấn đề được các chủ thể trong giao lưu dân sự đặc biệt quan tâm là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác có được công nhận hay không? Nội dung pháp lý của vấn đề này như thế nào. Bài viết xin đề cập về vấn đề này.[5]

1. Khái niệm và sự cần thiết

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác là trường hợp người thứ ba[6] thỏa thuận với bên có quyền (chủ nợ) hoặc thỏa thuận với cả chủ nợ và bên có nghĩa vụ (bên nợ) về việc người thứ ba cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm có tính chất đối nhân (bảo lãnh hoặc tín chấp[7]) hoặc thực hiện biện pháp bảo đảm có tính chất đối vật – bằng tài sản (thế chấp, cầm cố[8]) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho bên nợ. Quan hệ bảo đảm nghĩa vụ này gồm có ba chủ thể: Bên nhận bảo đảm (chủ nợ) – Bên bảo đảm (người thứ ba) – Bên được bảo đảm (bên nợ).

Continue reading

QUYỀN BỀ MẶT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015

 BÙI AI GIÔN

Quyền bề mặt là khái niệm mới được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, nhưng đối với các nước trên thế giới thì đây là khái niệm không hề mới, được quy định từ rất lâu trong luật dân sự La Mã.

Ở luật La Mã, các quyền đối vật (vật quyền) bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền địa dịch, quyền dụng ích cá nhân, quyền bề mặt và quyền cầm cố. Quyền bề mặt có hai dạng đặc biệt là: quyền của người thuê trường kỳ đất canh tác và quyền xây dựng các công trình trên đất của người khác[1]. Các vật quyền này được chia thành hai loại: vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc. Trong đó, quyền bề mặt là vật quyền phụ thuộc, là vật quyền được xác lập đối với tài sản của người khác, là quyền của chủ thể không phải là chủ sở hữu của tài sản nhưng có quyền sử dụng và hưởng những lợi ích mà tài sản đó đem lại. Vật quyền phụ phải phát sinh trên cơ sở vật quyền chính (vật quyền chính luôn có trước), tác động hạn chế lên vật, không xâm phạm lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu vật, nên vật quyền phụ còn được gọi là vật quyền hạn chế. Quyền bề mặt được pháp luật các quốc gia quy định là vật quyền phụ thuộc hay vật quyền hạn chế.

Theo luật La Mã, quyền bề mặt được định nghĩa là quyền sử dụng bề mặt đất để tạo lập các tài sản gắn liền với đất và quyền bề mặt ở đây chỉ được sử dụng với mục đích duy nhất là xây dựng công trình. Mỗi công trình xây dựng đều được coi là một phần của đất mà nó được đặt trên. Còn khi bề mặt được sử dụng để trồng trọt thì đó lại là quyền canh tác trường kỳ. Như vậy, quyền bề mặt, giống như quyền canh tác, là vô thời hạn hoặc trong một thời gian dài. Quyền bề mặt được xác lập, chuyển dịch và chấm dứt cũng như quyền canh tác. Quyền bề mặt cũng có thể để thừa kế và chấm dứt khi hết thời hạn thuê, hoặc không trả tiền thuê trong một khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra, ở La Mã, nếu một người nhận được giấy phép xây dựng trên một vị trí thì bằng cách đó, anh ta có quyền bề mặt.

Continue reading

ÁN LỆ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHÍNH SÁCH TRONG XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

  NGUYỄN HỒNG HẢI

1. Bối cảnh

(i) Tiền đề về chính trị – pháp lý

Việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005[1] nói chung và việc nghiên cứu quy định án lệ trong BLDS nói riêng về cơ bản đã có những tiền đề chính trị – pháp lý thuận lợi. Dự án Luật được tiến hành trong giai đoạn lịch sử lập hiến, lập pháp của Việt Nam ở thời kỳ phát triển mới, trọng tâm vào công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; vào xây dựng, hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền sở hữu, quyền của các chủ thể liên quan, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp không phụ thuộc vào hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; vào thực hiện chiến lược cải cách tư pháp nhất là bảo đảm vị trí, vai trò của TAND trong bảo vệ công lý và thực hiện quyền tư pháp,[2]

Trong đời sống chính trị – pháp lý ở Việt Nam, việc phát triển và áp dụng án lệ cũng không phải là vấn đề mới. Trước năm 1945 (ở miền Bắc) và trước năm 1975 (ở miền Nam) việc nghiên cứu và áp dụng áp lệ đã khá phổ biến trong hệ thống Tòa án dưới các chế độ cũ. Trong những năm 1950-1960, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã từng ghi nhận việc áp dụng án lệ theo hướng: Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành, áp dụng đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, áp dụng án lệ của các tòa án, của Tòa án tối cao; Tòa án nhân dân phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các tòa án nhân dân cấp dưới thông qua án lệ của mình[3]. Trong suốt thời gian sau đó, mặc dù không có ghi nhận chính thức, nhưng thông qua hoạt động tổng kết công tác xét xử cho thấy việc áp dụng án lệ của ngành Tòa án vẫn được “ẩn” trong các hướng dẫn công tác xét xử của TANDTC.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: