Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

ĐỒNG BỘ HÓA LUẬT TƯ HIỆN NAY TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: SỰ CẦN THIẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG

TS. NGUYỄN MẠNH THẮNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Sự cần thiết đồng bộ hóa luật tư

Nền kinh tế thị trường chỉ có thể phát triển trong một môi trường pháp lý lành mạnh và thích hợp. Đây là điều không ai có thể phủ nhận. Để có môi trường pháp lý lành mạnh và thích hợp cho việc xây dựng kinh tế thị trường, đồng bộ hóa luật tư đóng vai trò quan trọng.

Pháp luật Việt Nam hiện đang trong tình trạng bất đồng bộ tương đối lớn và phức tạp, làm ảnh hưởng không như mong muốn tới môi trường pháp lý kinh doanh và gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Trong sự bất đồng bộ lớn của luật tư, trước hết phải kể tới sự thiếu cân nhắc kỹ lưỡng và tinh tế khi thiết lập một số quy định trong khu vực luật tư mà gây khó khăn cho cả khu vực luật công. Có thể đưa ra một ví dụ điển hình sau:

Vừa qua, trong đợt xây dựng và hoàn thiện pháp luật để thi hành Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 có quy định về pháp nhân thương mại như sau:

“1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan” (Điều 75).

Các quy định này bất đồng bộ với các quy định còn lại về công ty (pháp nhân thương mại) bởi chúng không xem công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là pháp nhân thương mại, nhưng lại xem doanh nghiệp tư nhân là một pháp nhân thương mại, trong khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một pháp nhân và quy định doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân[1]. Các quy định này lại còn ấn định một mô hình các văn bản luật mà không cân nhắc tới sự hoàn thiện mô hình pháp luật. Tại đó Luật Doanh nghiệp được ấn định, ít nhất có mấy mô hình sau mà chúng ta có thể lựa chọn để pháp điển hóa luật thương mại: Thứ nhất, xây dựng một Bộ luật Thương mại tổng quát mà trong đó có chế định thương nhân bao gồm cả thương nhân thể nhân (doanh nghiệp tư nhân) và thương nhân pháp nhân (công ty); thứ hai, xây dựng một BLDS áp dụng cho cả các quan hệ dân sự và các quan hệ thương mại (giống như BLDS Bắc Kỳ năm 1931 của Việt Nam và của một số nước khác trên thế giới như Thái Lan, Hà Lan…); và thứ ba, xây dựng một đạo luật riêng cho công ty và một đạo luật riêng cho doanh nghiệp tư nhân (giống như Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 của Việt Nam). Điều đáng nói nhất ở đây là sự mâu thuẫn giữa các quy định vừa nêu trên của BLDS năm 2015 với các quy định còn lại của luật thương mại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Việc mẫu thuẫn giữa các quy định về pháp nhân thương mại gây khó khăn cho việc xác định chủ thể của tội phạm, đồng thời gây khó khăn cho luật hình sự thực hiện chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan tới pháp nhân thương mại hoặc bị tác động xấu bởi pháp nhân thương mại. Một doanh nghiệp hoặc một tổ chức kinh tế có thể không phải là pháp nhân nhưng nó vẫn có thể là thương nhân.

Continue reading

Advertisements

KINH NGHIỆM CỦA BANG QUÉBEC – CANADA VỀ ĐĂNG KÝ CÁC QUYỀN ĐỐI VỚI ĐỘNG SẢN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ MỚI VÀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐỘNG SẢN

SUZANNE POTVIN PLAMONDO – Cục trưởng Cục Đăng ký và Chứng thực, Bộ Tư pháp Bang Quesbec, Canada

Ở Québec, quá trình sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự đã khởi động từ những năm 1950 và cho đến những năm 1990, các nội dung cải cách cuối cùng cũng được thông qua. Đây là chủ đề của rất nhiều công trình nghiên cứu.

Bang Québec nằm ngay sát nước Mỹ, các bang khác của Ca-na-đa liền kề với Québec đều áp dụng hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng của hệ thống Common law, trong khi pháp luật của Québec lại chịu ảnh hưởng của pháp luật Pháp. Từ đó đã đặt ra nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật và bảo đảm tính thống nhất của các quy phạm pháp luật. Chính vì vậy, các nguyên tắc sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự được thông qua vào năm 1994 về cơ bản đều là những nguyên tắc dựa theo hệ thống Dân luật, nhưng bên cạnh đó cũng có một số cơ chế hoặc phương thức vay mượn của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ, nhằm mục đích xây dựng được một hệ thống đơn giản, dễ tiếp cận và hiệu quả hơn.

1. Một số khía cạnh pháp lý của việc đăng ký các quyền đối với động sản

1.1. Các mục đích của việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 1994

Về mục đích sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự Québec, trước năm 1994, ở Québec không có pháp luật điều chỉnh một cách thống nhất chế độ đăng ký quyền đối với động sản, mà chỉ có quy định điều chỉnh cho từng trường hợp khi xét thấy có nhu cầu, nhằm mục đích tăng cường tín dụng giữa các doanh nghiệp. Thời kỳ này, hệ thống đăng ký quyền đối với động sản ở Québec còn gắn liền với hệ thống đăng ký đất đai (là nơi đăng ký mọi giao dịch liên quan đến các quyền cần đăng ký), với nhiều loại Sổ đăng ký khác nhau, nhiều khu vực đăng ký khác nhau và dựa trên những tiêu chí không rõ ràng như tư cách pháp lý của người có nghĩa vụ, trụ sở hoặc vị trí kinh doanh, chứ không phụ thuộc vào loại hình giao dịch. Theo đó, một giao dịch có thể phải đăng ký tại 5, 6 khu vực và vào nhiều Sổ đăng ký khác nhau, chẳng hạn như Sổ đăng ký tên, Sổ đăng ký chuyển nhượng hàng tồn kho, cầm cố tài sản trong nông nghiệp, cầm cố tài sản trong thương mại, v.v.

Continue reading

BÀN VỀ KHÔNG ÁP DỤNG THỜI HIỆU ĐỐI VỚI YÊU CẦU BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

TS. ĐẶNG THANH HOA – Đại học Luật TP.HCM

Về thời hiệu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu, BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu”. Tuy nhiên, hiện các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đã không còn được quy định trong BLTTDS 2015 mà thay vào đó được dẫn chiếu áp dụng các quy định của BLDS 2015 về thời hiệu khởi kiện.

Trong bài viết này, tác giả trước hết sẽ thử lý giải về cơ sở xác định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu để từ đó so sánh đối chiếu với các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu mà chúng thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo các quy định của pháp luật trước đây để trả lời cho câu hỏi được đặt ra ở trên. Tiếp theo, tác giả phân tích về yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong mối quan hệ với một số loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án làm cơ sở để xác định tranh chấp đó có thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu hay không.

1.Thế nào là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu?

Khoản 2 Điều 169 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 163 BLDS 2015 về bảo vệ quyền sở hữu đều quy định “không ai có thể bị hạn chế, tước đoạt” quyền sở hữu. Như vậy, bất kỳ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng hoặc quyền định đoạt của chủ sở hữu không thể bị hạn chế hoặc tước đoạt trái pháp luật.

Tước đoạt quyền sở hữu là trường hợp chủ sở hữu bị mất toàn bộ, một hoặc hai trong ba quyền năng nêu trên. Khi đó, chủ sở hữu có quyền “đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt trái pháp luật” như quy định tại khoản 2 Điều 169 BLDS 2005, có quyền “đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” như quy định tại khoản 1 Điều 166 BLDS 2015.

Continue reading

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015: MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI, QUAN TRỌNG, MANG TÍNH ĐỘT PHÁ HƯỚNG TỚI PHỤC VỤ SỰ PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC

PGS.TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban soạn thảo dự án Bộ luật dân sự năm 2015

Ngày 24 tháng 11 năm 2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là BLDS năm 2015),[1] có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Mục tiêu của việc ban hành BLDS năm 2015 đã được Chính phủ xác định rõ khi trình Quốc hội và được tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội đồng tình, được nhân dân đồng thuận (qua việc lấy ý kiến nhân dân) là trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 cần xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.[2]

Thực hiện nhất quán mục tiêu cơ bản này, trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống pháp luật dân sự Việt Nam, thành tựu của các Bộ luật dân sự năm 1995 và năm 2005, đúc rút kinh nghiệm điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự qua 30 năm đất nước đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, BLDS năm 2015 được Quốc hội thông qua đã ghi nhận nhiều nội dung mới, quan trọng, mang tính đột phá cả về nhận thức và tư duy lập pháp trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ dân sự trong đời sống hàng ngày của cá nhân, pháp nhân.

Những nội dung mới này được thể hiện qua một số phương diện cơ bản sau đây: Continue reading

HÀNH VI, SỰ KIỆN GÂY THIỆT HẠI VÀ QUAN HỆ NHÂN QUẢ

GS. PIERRE DELVOLVE – Đại học Panthéon-Assas,Paris, Cộng hòa Pháp

Xác định hành vi, sự kiện gây thiệt hại và quan hệ nhân quả là một chủ đề vừa dễ lại vừa khó trình bày. Nếu chỉ dừng lại ở các nguyên tắc thì dễ, còn khó là vì trên thực tế, vấn đề này chỉ có thể được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể, tùy theo những tình tiết mà Tòa án có được. Trong quá trình xác định hành vi, sự kiện gây thiệt hại và quan hệ nhân quả, có thể sẽ có những do dự, thậm chí e ngại, song dù sao, Tòa án cũng vẫn phải giải quyết.

Hành vi, sự kiện gây thiệt hại

Như nhiều đại biểu đã nhấn mạnh, hoạt động của các cơ quan công quyền mà trước hết là của Nhà nước trung ương luôn luôn thông qua hoạt động của các cá nhân là cán bộ, công chức nhà nước; tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng xác định được trong một cơ quan nhà nước thì cán bộ, công chức nào là người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại; không phải lúc nào hành vi gây thiệt hại cũng có thể quy cho một người cụ thể, mà chính cơ quan nhà nước nói chung là chủ thể gây thiệt hại. Vì vậy, hành vi gây thiệt hại có thể là một hành vi, sự kiện không xác định rõ danh tính chủ thể.

Hành vi, sự kiện gây thiệt hại có thể xuất phát từ nhiều loại quy định và xử sự khác nhau. Ở đây, tôi xin nêu ra hai trường hợp có thể truy cứu trách nhiệm bồi thường nhà nước, theo đó, trong một số vụ việc, Nhà nước có thể bị truy cứu trách nhiệm bồi thường do văn bản pháp luật, còn trong một số vụ việc khác, trách nhiệm bồi thường nhà nước lại phát sinh từ hành vi xử sự (có thể là hành động hoặc không hành động).

Continue reading

NHẬN DẠNG LỢI ÍCH GẮN LIỀN VỚI NGHĨA VỤ TRONG QUAN HỆ KẾT ƯỚC – KINH NGHIỆM CỦA ANH VÀ PHÁP

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

1. Dẫn nhập

Trong tư thế bình đẳng và với ý thức tự nguyện, bên giao kết hợp đồng tham gia vào quan hệ kết ước trong khuôn khổ tìm kiếm một hoặc nhiều lợi ích nào đó. Việc nhận dạng, xác định bản chất của lợi ích mà bên kết ước theo đuổi được người làm luật coi là một trong những căn cứ để đánh giá chất lượng của quan hệ kết ước được xác lập, từ đó, có thái độ phù hợp trong việc điều chỉnh quan hệ ấy bằng luật. Một hợp đồng được giao kết nhằm tìm kiếm các lợi ích trái pháp luật, phi đạo đức không xứng đáng được hưởng sự bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của luật pháp, công lực.

Tuy nhiên, tìm hiểu ý chí nội tâm của bên kết ước, xem họ mong muốn gì khi xác lập một giao kèo, là việc không đơn giản, nếu không muốn nói là rất khó. Vào thời La Mã cổ đại, người làm luật cũng như thẩm phán không quan tâm đến chuyện tìm hiểu căn cơ đích thực của nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ có nguồn gốc từ hợp đồng1: chỉ cần được xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật, thì hợp đồng có hiệu lực ràng buộc; người ta không cần biết vì lý do gì hợp đồng được giao kết.

Đến thời Trung Cổ, luật giáo hội mới bắt đầu cân nhắc việc sàng lọc, phân loại các cam kết dựa theo ý chí của bên kết ước. Trong điều kiện việc xác định ý chí nội tâm gặp khó khăn, người làm luật chủ trương tìm kiếm các yếu tố được cho là sự bộc lộ, là biểu hiện bề ngoài của ý chí đó. Có hai yếu tố chính được ghi nhận: tính liên kết giữa các nghĩa vụ và động cơ xác lập nghĩa vụ. Tư tưởng chủ đạo là một mặt, một bên không phải giữ lời hứa của mình nếu bên kia không giữ lời hứa của họ; mặt khác, mục tiêu của việc xác lập quan hệ kết ước phải phù hợp với đạo đức. Nhiều quy tắc đã được xây dựng từ tư tưởng đó, cho phép vô hiệu hoá các hợp đồng bất bình đẳng hoặc được giao kết nhằm mục đích bất chính, phi đạo đức, như hợp đồng để giết người, cướp của, lừa lọc, mua bán đồ cấm,…

Continue reading

ĐIỀU KHOẢN LẠM DỤNG TRONG PHÁP LUẬT VỀ TIÊU DÙNG Ở CỘNG HÒA PHÁP VÀ CHÂU ÂU

ALEXANDRE DAVID – Thẩm phán, Ban Pháp luật tố tụng và pháp luật lao động, Vụ Dân sự và Ấn tín, Bộ Tư pháp, Cộng hòa Pháp[1]

Điều khoản lạm dụng là một quy định đặc thù trong pháp luật về tiêu dùng ở  Pháp và châu Âu. Trong khoảng một thập kỷ, từ năm 1970, ở Pháp, châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới, người ta bắt đầu xem xét lại những quy định chung về hiệu lực hợp đồng và nhận thấy rằng những quy định đó không đủ để bảo vệ người tiêu dùng khỏi bị các tổ chức, cá nhân kinh doanh lợi dụng.

Trong hợp đồng, có một số quy định bất lợi cho người tiêu dùng nhưng ngay chính bản thân họ lại không nhận thức được điều đó. Nhà làm luật cảm thấy phải quan tâm đặc biệt hơn nữa đến các điều khoản lạm dụng để có thể thiết lập một mối quan hệ bình đẳng giữa bên mua và bên bán. Với mục đích đó, đã có rất nhiều hợp đồng theo mẫu được soạn thảo và rất nhiều nước lựa chọn áp dụng các hợp đồng này như Mỹ, Thụy Điển, Anh, Đan Mạch, Đức và Pháp (năm 1978)…

Cách tiếp cận của Pháp đặc biệt ở chỗ dành nhiều ưu tiên cho việc phòng ngừa thiệt hại hơn là các giải pháp nhằm bồi thường thiệt hại. Chính vì thế, giải quyết bằng biện pháp hành chính được ưu tiên hơn là giải quyết qua con đường tài phán. Các nhà làm luật lo ngại nhiều nguy cơ phát sinh từ các giải pháp khác nhau mà tòa án có thể đưa ra cho cùng một vấn đề.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DO LỖI VÀ TRÁCH NHIỆM KHÔNG CÓ YẾU TỐ LỖI

TERRY OLSON – Thẩm phán Tham Chính Viện, Cộng hòa Pháp

Ở Pháp, nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước có hai đặc điểm đáng chú ý:

– Nguyên tắc này được khẳng định trong pháp luật Pháp sớm hơn nhiều so với các nước khác;

– Nguyên tắc này không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà hình thành từ thực tiễn xét xử của tòa án.

1. Tình hình trước năm 1873

Tại một số Quốc gia Châu Âu, trách nhiệm bồi thường nhà nước chỉ được thừa nhận trong thế kỷ thứ XX chứ không sớm hơn. Ví dụ như ở Anh Quốc, phải đến năm 1947 thì trách nhiệm bồi thường nhà nước mới được quy định trong luật.

Nước Pháp đã thực hiện bước đi đó ngay từ năm 1873. Như vậy, có thể khẳng định rằng trách nhiệm bồi thường nhà nước đã được ghi nhận tương đối sớm trong hệ thống pháp luật Pháp.

Cho đến tận giai đoạn đầu của nền Đệ tam Cộng hòa (1875 – 1940), ý tưởng buộc các cơ quan nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do hành động sai trái của họ gây ra vẫn chưa được khẳng định rõ nét. Các cơ quan nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm về hành động của họ trong hai trường hợp:

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng;

Khi luật quy định rõ trường hợp cơ quan nhà nước phải bồi thường. Trong thực tế, chỉ có một trường hợp được quy định rõ trong luật, đó là trường hợp cơ quan nhà nước thực hiện các công trình công mà gây ra thiệt hại (Luật ngày 28 tháng Mưa, năm thứ VIII, lịch Cộng hòa).

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: