Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

VÀI NÉT VỀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

1. V bn cht pháp lý

Quyền hưởng dụng là một quyền mới được bổ sung vào trong Bộ luật dân sự năm 2015, cùng với quyền đối với bất động sản liền kề (địa dịch) và quyền bề mặt, quyền hưởng dụng được xếp vào nhóm quyền khác đối với tài sản.[1] Về cơ bản, nội hàm quyền hưởng dụng trong Bộ luật dân sự Việt Nam cũng khá tương đồng với nhiều bộ luật dân sự khác trên thế giới, theo đó, quyền này có bản chất pháp lý là một loại vật quyền có thời hạn trên tài sản của người khác, chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật cho phép người khác khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản của chủ sở hữu và chủ sở hữu vẫn giữ lại quyền định đoạt đối với tài sản của mình.

1.1. Quyền hưởng dụng có ý nghĩa lớn về mặt xã hội và kinh tế trong việc khai thác, sử dụng tài sản, đáp ứng các nhu cầu ngày càng gia tăng, đa dạng ở các cấp độ khác nhau về vật chất và tinh thần của con người, phù hợp với sự đa dạng về tính chất và công dụng của tài sản trong tự nhiên và xã hội… trong đó:

a) Quyền hưởng dụng có thể giúp cho người dân có được những lựa chọn tốt hơn, đa dạng hơn trong việc khai thác, sử dụng tài sản của mình, bảo đảm hài hòa giữa khai thác công dụng, giá trị của tài sản với hạn chế rủi ro của chính mình và sự ổn định các quan hệ có liên quan, như:

(i) Chủ sở hữu tài sản có thể lựa chọn không chuyển quyền sở hữu tài sản cho con, người thân hoặc bất kỳ ai, nhưng lại trao quyền hưởng dụng tài sản cho những người này để họ có được nguồn thu nhập trọn đời hoặc trong một thời hạn nhất định trên tài sản của chủ sở hữu;

Continue reading

Advertisements

VỀ THỦ TỤC KHỞI KIỆN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ NHIỀU NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT

VĨNH SƠN

1. Đặt vấn đề

Quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Luật DN) đã tạo thêm nhiều thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp; bởi vì, trong giai đoạn hội nhập và đổi mới hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, làm phát sinh nhiều nhu cầu giao dịch nhằm thực hiện các hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh… mà một người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp không thể đảm nhận hết các vai trò quan trọng này.

Tuy nhiên, nếu quy định nêu trên không được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất, có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong một số lĩnh vực hoạt động, trong đó có lĩnh vực khởi kiện vụ án; bởi các lẽ sau:

– Luật DN không có quy định cụ thể về thủ tục khởi kiện vụ án đối với các doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, mà chỉ có quy định chung chung là :“Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân… đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án…” (khoản 1 Điều 13) và “…Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” (khoản 2 Điều 13).

Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng không có quy định và hướng dẫn cụ thể về thủ tục khởi kiện vụ án đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật; mà chỉ quy định chung chung làCơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án…” (Điều 186), Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án” (khoản 3 Điều 189)…

Continue reading

MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ÁN LỆ TRONG 3 NĂM QUA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG, ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

Công nhận và áp dụng án lệ ở nước ta đã có một quá trình nghiên cứu, vận dụng khá lâu dài ở những cấp độ khác nhau.[1] Tuy nhiên, trên tinh thần Hiến pháp năm 2013, cùng với nền tảng pháp lý về áp dụng, viện dẫn án lệ được ghi nhận tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật tố tụng hành chính năm 2015, Luật phá sản năm 2014 và việc HĐTPTANDTC ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 03/2015) thì mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề cần được hoàn thiện, nhưng có thể khẳng định việc công nhận, áp dụng án lệ ở nước ta đã bước sang nhận thức mới, tầm nhìn mới có tính chiến lược, bài bản hơn. Sự thay đổi này cũng góp phần tạo bước ngoặt quan trọng, khả thi hơn trong cải cách tư pháp, trong thực hiện vai trò bảo vệ công lý, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân và trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.[2]

Theo một nghĩa hẹp, tại tham luận này, tôi xin đề cập đến một số tác động của việc phát triển án lệ trong 3 năm qua đến công tác xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự.[3]

1. Với tiêu chí trong lựa chọn án lệ là “chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần được áp dụng trong một vụ việc cụ thể” (Điều 2.1 Nghị quyết số 03/2015) và với thực tiễn công nhận, áp dụng án lệ (thông qua hiệu quả của xây dựng thể chế, của công tác lựa chọn, công bố, áp dụng tại TANDTC) đã góp phần thay đổi (hoặc đòi hỏi có sự thay đổi) trong nhận thức của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền về lập đề nghị, xây dựng chính sách, xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, thẩm định hoặc thẩm tra văn bản.

Continue reading

BÀN VỀ ĐỊNH CHẾ ÁN LỆ – NHẰM ÁP DỤNG VÀO VIỆT NAM (Phần 2)

MURAKAMI KEIICHI & ENDO KENJI  – Chuyên gia Jica tại Việt Nam

I. Đặt vấn đề

1. Trong định chế án lệ được đưa vào áp dụng ở Việt Nam hiện nay (Nghị quyết ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ) có quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau” (khoản 2 điều 8), án lệ sẽ có hiệu lực ràng buộc nên Thẩm phán khi ra phán quyết hoặc quyết định thì phải áp dụng những án lệ vào những vụ án có tình tiết hoặc vấn đề pháp lý tương tự để xét xử.

Tuy nhiên, vấn đề lớn là những điểm nào giống nhau và giống ở mức độ như thế nào thì mới được coi là vụ án có “tình tiết hoặc vấn đề pháp lý tương tự”. Ngoài ra, phần suy luận nào trong án lệ sẽ thực sự có hiệu lực ràng buộc như là một án lệ cũng là điều chưa được làm rõ. Hơn nữa, một vấn đề cơ bản vẫn còn tồn tại là cho dù có những bản án, quyết định tuy đã được tuyển chọn làm án lệ nhưng trong đó chưa bao hàm hoặc chỉ ra được quy phạm hay quy tắc rõ rệt, chưa khái quát hóa dẫn đến việc không thể áp dụng được trong các vụ án khác nên không thể nào có hiệu lực ràng buộc như là án lệ được. Mặc dù có những vấn đề như vậy, các Thẩm phán – những người sử dụng tất cả các án lệ này, vẫn được giao trách nhiệm phải tự mình xem xét, quyết định có áp dụng án lệ hay không (đây là điều đương nhiên của chế độ áp dụng nguyên tắc án lệ, coi án lệ là nguồn luật chính) thì việc các Thẩm phán khác nhau có những ý kiến khác nhau, kéo theo việc thực hiện hỗn loạn; đồng thời không thể đạt được mục đích của định chế án lệ là nhằm tạo ra sự thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật…là chuyện không khó đoán.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG PHÁP LUẬT TƯ HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

Hợp đồng vô hiệu dưới góc độ khái niệm

Xét về chính sách pháp lý và phương pháp tiếp cận, quy định về hợp đồng vô hiệu trong BLDS năm 2015 chịu ảnh hưởng bởi các triết lý pháp lý chung, cơ bản trong xây dựng BLDS đó là: bảo đảm BLDS là luật của tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự; luật của các quan hệ thị trường và phù hợp với tập quán, thông lệ quốc tế; bảo đảm được 2 giá trị căn bản nhất của xã hội kinh tế thị trường là chủ thể bình đẳng, tự do – tự nguyện trong quan hệ tư; nhà nước, cơ quan nhà nước khi tham gia quan hệ tư bình đẳng với các chủ thể khác; hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ tư.[1]Xét về kết cấu, do bản chất pháp lý của hợp đồng chính là hành vi pháp lý dân sự hay còn gọi là sự tuyên bố ý chí (BLDS Việt Nam gọi là giao dịch dân sự) và do cấu trúc của BLDS[2] cho nên bên cạnh quy định liên quan tại Phần thứ 2 “ Nghĩa vụ và hợp đồng” thì quy định chung về hiệu lực của giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 116 – Điều 133, Phần thứ nhất “Quy định chung”) cũng là những căn cứ pháp lý cơ bản trong điều chỉnh hợp đồng, hợp đồng vô hiệu. [3]

Trong quy định về hợp đồng vô hiệu, BLDS và luật khác có liên quan của Việt Nam không có một giải nghĩa cụ thể nào về “hợp đồng vô hiệu”.[4] Tuy nhiên, qua quy định tại Điều 122 BLDS về việc giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của BLDS thì vô hiệu, trừ trường hợp BLDS có quy định khác và qua các quy định về công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền dân sự (Điều 2 BLDS năm 2015), nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (Điều 3 BLDS năm 2015), nguyên tắc giới hạn thực hiện quyền (Điều 9, Điều 10 BLDS năm 2015), tự bảo vệ quyền dân sự (Điều 12 BLDS năm 2015)…, và đường lối giải quyết các trường hợp vô hiệu cụ thể thì dưới góc độ khái niệm, có thể đưa ra các nhận định sau đây:

Continue reading

NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ KIM THOA – Khoa Luật kinh tế, Đại học Ngân hàng TP.HCM

1. Việc ghi nhận nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của tổ chức hoạt động ngân hàng trong pháp luật một số nước theo hệ thống dân luật và thông luật

Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng (TCHĐNH)[1] đã manh nha hình thành cách đây khoảng 4000 năm[2] và được ghi nhận lần đầu tiên trong các quy định của ngân hàng Banco Ambrosiano Milano năm 1593.[3] Ngày nay, nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật của nhiều nước theo hệ thống dân luật như Pháp, Đức, Thụy Sĩ… và hệ thống thông luật như Anh, Mỹ Australia… nhưng bản chất của nghĩa vụ, các trường hợp ngoại lệ, hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ bảo mật này lại khác nhau ở từng nước và theo thời gian.

1.1. Bản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của các tổ chức hoạt động ngân hàng

Bản chất của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của TCHĐNH được thể hiện qua một số nội dung dưới đây:

a. Bảo mật thông tin khách hàng – một bộ phận của quyền riêng tư Continue reading

CÔNG TÁC PHÁP ĐIỂN HÓA HIỆN NAY TẠI CỘNG HÒA PHÁP

MATTIAS GUYOMAR – Thẩm phán Tòa án Hành chính tối cao, Cộng hòa Pháp[1]

Việc tiếp nối quá trình pháp điển hóa kể từ năm 1989 vừa mang tính khiêm tốn, vừa mang nhiều tham vọng. Khiêm tốn nếu so với công cuộc xây dựng Bộ luật dân sự 1804 ban đầu và các Bộ luật Na-pô-lê-ông khác. Tham vọng, bởi vì công tác pháp điển hóa không đơn giản chỉ là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật theo từng chủ đề hoặc theo từng khoảng thời gian mà còn đòi hỏi phải thống nhất toàn bộ các quy định của từng ngành luật vào một Bộ luật thống nhất, qua đó "làm cho pháp luật được đơn giản và rõ ràng hơn"[2]. Chỉ cần nhìn vào bản danh sách ban hành kèm theo Thông tư ngày 30 tháng 5 năm 1996 về hoạt động pháp điển hóa các văn bản pháp luật[3] là có thể đánh giá được tham vọng đó: danh sách này lấy lại chương trình hoạt động của Uỷ ban pháp điển hóa mới được thông qua vài tháng trước đó, dự kiến soạn thảo trong thời gian 5 năm tổng cộng 25 Bộ luật mới và sửa đổi 18 Bộ luật hiện hành.

Cũng như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự chỉ được xếp vào số các Bộ luật cần được bổ sung thêm quy định mới, nên không có tên trong danh sách đầy tham vọng nói trên. Nhiều Bộ luật khác đã được sửa đổi rất nhiều, trong đó phải kể đến Bộ luật Thương mại. Do đó, vào thời điểm mà chúng ta đang xem xét khả năng “xây dựng lại” Bộ luật dân sự, thiết nghĩ cần rút ra một số kinh nghiệm từ việc thực hiện chương trình pháp điển hóa nói trên.

Công cuộc pháp điển hóa hiện nay là kết quả của sự hợp tác hiệu quả giữa nhiều thiết chế khác nhau. Những Bộ luật được soạn thảo hoặc sửa đổi từ năm 1989 đến nay đều có được nhờ nhiều yếu tố: quyết tâm chính trị của Chính phủ; sự tham gia tích cực của các cơ quan cấp Bộ có liên quan trong việc xây dựng các dự thảo; vai trò quyết định của Uỷ ban pháp điển hóa tối cao và của cá nhân ông Guy Braibant, phó chủ tịch Uỷ ban[4]; sự đóng góp của Tham chính viện[5]; vai trò của các Viện trong Quốc hội, ít nhất là đối với những Bộ luật được trình Quốc hội thông qua[6].

Continue reading

PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VỀ THAY ĐỔI GIỚI TÍNH – GỢI MỞ PHƯƠNG HƯỚNG HÀI HÒA VỚI QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM, NGÔ THANH HƯƠNG & NGUYỄN QUANG DUY – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hoàn cảnh hình thành Luật đặc lệ về áp dụng giới tính đối với người rối loạn giới tính Lần đầu tiên Nhật Bản công bố  chứng rối loạn giới tính (RLGT), và sự tồn tại của những người RLGT vào ngày 2 tháng 7 năm 1996. Giới y học Nhật Bản đã lên tiếng yêu cầu chính phủ Nhật Bản phải xây dựng chính sách mang tính hệ thống để minh bạch hoá tiêu chuẩn trong việc chuẩn đoán và điều trị cho người RLGT. Sau đó,  Nhật Bản đã xây dựng văn bản hướng dẫn về chuẩn đoán và điều trị chứng rối loạn giới tính (28/5/1997), và ca phẫu thuật chuyển đổi giới tính đầu tiên được thực hiện vào 16/10/1998. Như vậy, thông qua việc tiếp cận y học những người RLGT ở Nhật Bản ít nhiều có thể giảm được gánh nặng tâm lý được sống với giới tính mình mong muốn1[1; 1251]. Tuy nhiên, việc không công nhận thay đổi giới tính được ghi trong hộ tịch dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề trong đời sống xã hội không được giải quyết. Một người RLGT có thể được điều trị thông qua việc tiêm hooc-môn, phẫu thuật chuyển đổi giới tính và những người này sẽ có được bề ngoài diện mạo giống với giới tính mình mong muốn. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ là giải pháp mang tính tâm lý giúp người bệnh thoát khỏi những dày vò nhưng không thể giúp những người RLGT có được cuộc sống bình ổn trong xã hội cùng với giới tính mình mong muốn. Khi mà giới tính bề ngoài khác với giới tính trong hộ tịch thì sẽ phát sinh rất nhiều mâu thuẫn trong đời sống hàng ngày. Nhiều người vì e ngại phải đưa ra bảo hiểm y tế mà từ chối việc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, một số  người khác thì không thể có được công việc ổn định, bị mất việc, bị huỷ bỏ quyết định tuyển dụng chỉ vì không đưa ra được bản chính hộ tịch. Hay có những trường hợp học sinh, sinh viên vì không chịu được sự phân hoá giới tính rõ ràng như việc dựa trên nam, hay nữ quyết định đồng phục mà cự tuyệt việc đến trường lớp.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: