MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Kết quả hình ảnh cho LAW ON HOUSING IN THE FUTURETHS. HUỲNH ANH – Giảng viên Đại học An Giang

Trong giao dịch bảo đảm, nhà ở hình thành trong tương lai là một dạng tài sản bảo đảm có tính chất đặc thù, đòi hỏi phải có những cơ chế pháp lý riêng biệt, cụ thể để điều chỉnh, nhằm đảm bảo an toàn cho các giao dịch dân sự, thương mại nói chung, giao dịch thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai tại các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng, cũng như bảo đảm an toàn cho các thiết chế tài chính. Thời gian qua, những quy định về giao dịch thế chấp liên quan đến loại tài sản này chủ yếu dựa vào các quy định chung, nên có quá nhiều bất cập chưa giải quyết được khi áp dụng, thêm vào đó là những vấn đề mới tiếp tục phát sinh. Trong đó, vấn đề nhận diện nhà ở hình thành trong tương lai, vấn đề xác lập giao dịch và đăng ký thế chấp đang là những vấn đề đáng quan tâm.

1. Nhận diện nhà ở hình thành trong tương lai là đối tượng của hợp đồng thế chấp

Lần đầu tiên, thuật ngữ “nhà ở hình thành trong tương lai” xuất hiện trong văn bản quy phạm pháp luật như là đối tượng của giao dịch bảo đảm được nhắc đến trong Nghị định số 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (Nghị định số 71/2010/NĐ-CP). Tuy nhiên, thuật ngữ này không được giải thích trong Nghị định[1].

Trước đó, ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Nhà ở, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2006. Luật không đưa ra khái niệm về nhà ở hình thành trong tương lai, do đó các giao dịch liên quan đến nhà ở hình thành trong tương lai chủ yếu dựa vào luật chung – Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành[2]. BLDS năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này cũng không đề cập đến thuật ngữ “nhà ở hình thành trong tương lai”, thay vào đó là những quy định chung về “tài sản hình thành trong tương lai”, nhưng cũng không có mô tả cụ thể về khái niệm tài sản hình thành trong tương lai[3]. Tuy nhiên, Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) có quy định “…Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”. Với quy định “tài sản đã được hình thành” nhưng chưa thuộc sở hữu của bên bảo đảm cũng được xem là tài sản hình thành trong tương lai mà không có giải thích gì thêm nên khi vận dụng vào thế chấp tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai đã gây nhầm lẫn với một số dạng nhà ở khác[4], dường như không còn đúng nghĩa nhà ở “tương lai”. Vì thế trong quá trình áp dụng quy định chung này đối với thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai cũng đã gặp những vấn đề vướng mắc, cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Tiếp tục đọc

Advertisements

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

PGS.TS. DOÃN HỒNG NHUNG & THS. NGÔ THANH HƯƠNG – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Một trong những thay đổi về chính sách quản lý, sử dụng đất hiện nay là Nhà nước cho phép đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nhiều quyền năng hơn trước về sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Nhà nước đã thiết lập một hành lang pháp lý thông thoáng, công bằng, vững chắc, tạo điều kiện ổn định về mặt tâm lý cho các đối tượng này khi họ có nguyện vọng đầu tư, sinh sống tại Việt Nam.

1. Những quy định chung của pháp luật về nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam

1.1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam[1]

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài[2].

Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài[3].

Công dân Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài là những người Việt Nam ở nước ngoài vẫn mang quốc tịch Việt Nam. Trong quá trình sinh sống, làm ăn lâu dài ở nước ngoài họ có nhập quốc tịch của một nước khác hoặc chưa nhập quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào[4].

Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài[5]. Có thể khẳng định rằng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật hiện hành là công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống làm ăn lâu dài ở nước ngoài. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam ban hành ngày 24/06/2014 cũng đã có những sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế và khu vực[6].

1.2 Người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Một là, người không phải là công dân Việt Nam, được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam, có thể là người mang quốc tịch nước ngoài hoặc người không có quốc tịch (không có quốc tịch Việt Nam cũng như quốc tịch nước ngoài).

Tiếp tục đọc

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI – KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA VIỆT NAM

Land-page-photo-PS-680x381-2TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH

Quyền sử dụng đất của người nước ngoài là một vấn đề khá “nhạy cảm” được bàn thảo, cân nhắc trong một thời gian dài ở Việt Nam trước khi có những quy định trong Luật Đất đai năm 2003 và mới được sửa đổi, bổ sung ở Luật Đất đai năm 2013. Trên thế giới, QSDĐ của người  nước ngoài được các quốc gia quy định khá cởi mở nhằm khuyến khích và thu hút các nguồn lực đầu tư. 

Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới

Hàn Quốc: Từ năm 2009, pháp luật Hàn Quốc cho phép cá nhân và nhà đầu tư nước ngoài sở hữu đất đai trên cơ sở các điều ước quốc tế tương hỗ. Người nước ngoài có thể mua, bán, thế chấp, cho thuê đất, thừa kế, đấu giá… (đối với các nước cho phép công dân Hàn Quốc thực hiện các quyền tương tự). Hàn Quốc có đạo luật riêng quy định việc sở hữu đất đai của người nước ngoài, trong đó quy định chỉ có thể áp dụng đối với công dân các nước có trao quyền tương tự cho công dân Hàn Quốc. Các loại đất liên quan đến QP-AN, cơ sở văn hóa, khu bảo tồn… còn có các ràng buộc cụ thể hơn tại các đạo luật: Bảo vệ cơ sở quân sự, Bảo tồn di sản văn hoá, Luật Bảo tồn môi trường.

Trung Quốc: Nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu các công trình trên đất khi mua hoặc khi được hưởng QSDĐ cho một mục đích và thời hạn cụ thể. QSDĐ không bao gồm quyền sử dụng tài nguyên, khoáng sản hoặc tài nguyên dưới lòng đất. Thông thường, công trình trên đất phải được sở hữu bởi cùng một đối tượng được quyền sử dụng đất. Trung Quốc quy định 3 loại quyền sử dụng đất:

Quyền sử dụng đất được cấp: Là hình thức QSDĐ phổ biến nhất và ban đầu thường có được trực tiếp từ các chính quyền địa phương thông qua việc nộp lại một khoản phí cố định. Thời hạn sử dụng tối đa phụ thuộc vào mục đích sử dụng đất: 40 năm đối với đất thương mại, du lịch và công trình công cộng giải trí; 59 năm đối với đất sử dụng cho mục đích công nghiệp, giáo dục, KH-CN, văn hóa, y tế hoặc thể thao; 70 năm cho đất ở. QSDĐ được cấp nhìn chung có thể chuyển nhượng, thế chấp tự do không cần xin phép cơ quan có thẩm quyền, nhưng các giao dịch này cần được đăng ký tại cơ quan quản lý đất đai. Đơn xin gia hạn cấp QSDĐ phải được nộp ít nhất trước 1 năm trước khi hết thời hạn được cấp.

Tiếp tục đọc

NGHĨ VỀ GIẢI PHÁP CHO THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN TẤN DŨNG – Hai Bà Trưng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

Tác phẩm “Chiến lược đại đương xanh” (The Ocean Blue Strategy) của W.Chan Kim và Renee Mauborgne, cho các nhà kinh tế niềm tin rằng“những nhà tư bản (hay các doanh nhân) không kiếm được lợi nhuận bằng cách bóc lột sức lao động của người lao động, mà thay vào đó, các nhà tư bản tìm được lợi nhuận vì kết quả tiêu thụ, chấp nhận rủi ro và tổ chức sản xuất tốt”. Tổng hợp lại điều đó là, muốn thành công và có lợi nhuận trong kinh doanh thì cần có một chiến lược kinh doanh tốt với một giải pháp tối ưu.

Có phải thị trường bất động sản tại Việt Nam đã và đang tiếp tục bị “đóng băng”? Có phải khả năng thu lợi nhuận cũng như triển vọng tăng trưởng ngày càng giảm xuống trên thị trường này? Có phải người dân và các nhà kinh doanh không muốn tham gia vào thị trường đó? Điều này dường như đang tồn. Vậy có giải pháp nào để “vực dậy” một thị trường lớn, đầy niềm năng với tỷ suất lợi nhuận là rất lớn? Với “Chiến lược đại dương xanh” chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp toàn diện.

Một nguyên nhân của thực trạng thị trường bất động sản Việt Nam

Đối với nhiều người có thu nhập không cao-mà đây là những người chiếm phần lớn dân số Việt Nam-lo lắng là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quyết định của họ có mua hay không mua nhà. Điều gì sẽ xảy ra khi mà một ngôi nhà trị giá 400 triệu đồng chỉ còn lại 300 triệu đồng? Và điều gì sẽ xảy ra tiếp khi nhiều người dùng nhà đó để vay thế chấp? Người mua nhà thường vay tới 80% giá mua, khi giá nhà giảm thì có lẽ họ sẽ mất hầu như toàn bộ. Giả sử như: một người mua căn nhà trị giá 400 triệu đồng và trả trước là 80 triệu, nợ thế chấp còn lại là 320 triệu. Nếu giá nhà giảm 25% thì người mua sẽ nợ thế chấp là 320 triệu cho một căn nhà giá 300 triệu. Như vậy, người mua không chỉ mất 80 triệu tiền trả trước mà còn lỗ 20 triệu. Và nếu thị trường bất động sản tiếp tục giảm thì sẽ ra sao cho người mua nhà và các nhà đầu tư nhà, đất?

Đó là một trong những lý do mà tại sao nguyên lý cung-cầu không phải lúc nào cũng đúng trên thì trường bất động sản. Thông thường, giá giảm thì nhu cầu tăng lên, nhưng với bất động sản, nếu thấy giá giảm, người mua sẽ lo rằng mình đang mua một căn nhà sẽ tiếp tục rớt giá. Như vậy, giảm giá có thể dẫn đến giảm cầu và do đó giá sẽ còn giảm nữa. Kết quả là một vòng luẩn quẩn đang tồn tại trong thị trường bất động sản tại Việt Nam.

Tiếp tục đọc

CẢNH GIÁC VỚI HỢP ĐỒNG TẠM TÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐỊA ỐC

LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM

Vừa qua một thân chủ của tôi là giảng viên đại học đề nghị luật sư của VPLS Quang Trung tư vấn về “hợp đồng mua bán nhà của một dự án” ở địa bàn P.11, Q.3, TP.HCM mà hiện nay chủ đầu tư dự án đang có nhiều văn bản thúc hối anh ta phải nhanh chóng “chia sẻ” chi phí phát sinh lên đến 50% trị giá căn hộ đã đặt mua theo hợp đồng từ tháng 10/2003, nếu không sẽ hoàn trả tiền đặt cọc đã trên 50% trị giá căn hộ.

Qua nghiên cứu nội dung hợp đồng, cho thấy bên A (chủ đầu tư) rào đón rất chặt chẽ bằng các điều khoản như: Điều 2: về giá trị hợp đồng tạm tính  của căn hộ đặt mua là 353.600.136 đồng. Điều 5: về trách nhiệm bên B (tức khách hàng, người đặt mua căn hộ chung cư) nếu không thực hiện đúng hợp đồng, không đóng đủ tiền theo từng giai đoạn, thì bên A sẽ đương nhiên hủy bỏ hợp đồng và trả lại tiền đã nộp của bên B mà không tính lãi. Trong khi phần qui định về trách nhiệm của bên A (chủ đầu tư) lại rất đơn giản là: “giao cho bên B toàn bộ hồ sơ hợp lệ về nhà ở” (Điều 4), thậm chí còn lẫn lộn giữa trách nhiệm và quyền khi qui định: “không chấp nhận việc trả lại nhà ở sau khi bên B đã nhận” (ở Điều 4 khoản 2). Hậu quả của việc qui định ràng buộc trách nhiệm bên A không rõ ràng, chặt chẽ dẫn đến chủ đầu tư (bên A) đòi bên B phải đóng bổ sung thêm đến 189.400.000đ (trên 50% trị giá căn hộ tạm tính ban đầu) với nhiều lý do được nại ra (trong đó có không ít lý do không chính đáng, chẳng hợp lý chút nào) như: do công ty (bên A) phải làm nghĩa vụ tài chính với thành phố (nộp tiền sử dụng đất), do phải chuẩn bị công tác đầu tư (khảo sát, thiết kế, giải phóng mặt bằng vv…), do mua sắm vật tư phục vụ thi công chung cư, do giá cả vật tư, nguyên liệu biến động tăng cao gấp 3 lần so với năm 2003, do trượt giá nhân công, do lãi vay ngân hàng hàng tháng, do lạm phát. Đúng là có những lý do bên A nại ra rất  “kỳ cục” nếu nhìn ở góc độ nhà đầu tư, chủ dự án. Nhưng khách hàng đành “ngậm bồ hòn”, bị bắt buộc, miễn cưỡng phải mở hầu bao chi thêm, nếu không sẽ bị hoàn trả lại tiền không được tính lãi. Rõ ràng bên B (khách hàng cần nhà để ổn định cư trú) đã gánh hết hậu quả từ việc đàm phán thiếu bình đẳng và quá hời hợt trong đàm phán, ký kết hợp đồng với bên A ngay từ đầu. Bên A đã cầm đằng cán, còn bên B nắm phải đằng lưỡi với quá nhiều rủi ro. Một dự thảo hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng đất xây dựng trường học khác (do anh bạn nhà giáo nhờ tư vấn), bên A (chủ dự án) còn chủ động đưa ra điều kiện tạm tính cả về diện tích chuyển nhượng và điều kiện bên B phải thanh toán chặt chẽ làm 4 đợt trong thời gian có 2 tháng (hai tháng) mà không hề ràng buộc mỗi đợt thanh toán, bên A phải đáp ứng cụ thể về tiến độ bàn giao quyền sử dụng đất và đầu tư hạ tầng kỹ thuật như thế nào.

Tiếp tục đọc

NHÀ TRẢ CHẬM – MỘT THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG

TS. NGUYỄN TẤN VẠNG

Trong những năm gần đây, nền kinh tế VN tăng trưởng rất nhanh và ổn định, GDP bình quân đạt 7- 8%/ năm, nhiều nhà kinh tế nước ngoài xem VN như là một thị trường lớn (hơn 80 triệu dân), đầy tiềm năng trong khu vực và thế giới. Đời sống người dân cũng không ngừng được nâng cao (thu nhập bình quân đầu người tăng xấp xỉ 5 lần so với năm 1985). Theo đó, ngành vật liệu xây dựng cũng tăng trưởng một cách tỉ lệ, bình quân 10%/ năm (tăng gấp 5 lần so với năm 1997). Theo đánh giá của Vụ quản lý vật liệu, Bộ xây dựng, thì nhu cầu của ngành hàng này sẽ đạt gấp đôi trong 5 năm tới và tăng từ 4 – 7 lần đến năm 2020.

Nhu cầu của thị trường

Để không ngừng kích cầu, tăng nhanh doanh số tiêu thụ hàng hóa, một vấn đề nổi bật nhất trên thị trường trong thời gian gần đây là Mua- Bán hàng hóa trả chậm. Mở đầu cho sự ra mắt loại hình kinh doanh độc đáo này (mặc dù trên thế giới đã có từ nhiều thập kỷ nay) chúng ta không thể quên công lao của các đại gia trong làng vận chuyển, lúc đầu là ô tô du lịch, sau đến là xe tải các loại. Không lâu sau đó là hàng loạt các mặt hàng tiêu dùng khác, từ những chiếc xe gắn máy đắt tiền (hàng trăm triệu đồng) cho đến những vật dụng giá mềm hơn như: máy điều hòa, máy giặt, máy vi tính, thậm chí đến cả bàn ghế, giường tủ, ti vi…..Nổi bật và mang tính xã hội cao nhất trong làn sóng trả chậm đó là “Xây dựng nhà trả chậm”- một mô hình cải tiến từ sự học hỏi của các nhà kinh doanh bất động sản nước ngoài (bán nhà, chung cư trả góp). Quả thật, với sự ra đời của loại hình kinh doanh này đã nhận được sự đồng tình cao của xã hội, cũng như sự ủng hộ lập tức từ các cơ quan chức năng. Hãy thử làm một phép tính nhỏ, chúng ta có thể thấy ngay được tính xã hội, nhu cầu có thật, cũng như sự đóng góp to lớn của loại hình kinh doanh này vào tốc độ phát triển của ngành vật liệu xây dựng, nói riêng, mang lại bộ mặt mỹ quan mới cho xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước, nói chung.

Cụ thể, chỉ tính riêng phạm vi TP.HCM (diện tích gần 2.095 km2, (trong đó có 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành, mật độ dân cư bình quân là 3,340 người/ km2 (ở những khu vực trung tâm đã lên đến 10.600 người/ km2) [1] , cao hơn nhiều so với một số thành phố lớn trên thế giới như: Fukuoka của Nhật 4.084 người/ km2 , Tokyo 5.570 người/ km2 , ngay cả New Yorktrung tâm tài chính lớn nhất của Mỹ cũng chỉ đến 9.000 người/ km2 [2] . Thêm nữa, dân số thành phố đã không ngừng tăng trưởng từ 6,06 triệu người (năm 2004) đã lên đến gần 7 triệu người (năm 2006); trong đó, số người trong độ tuổi 18- 30 chiếm đến gần 50% (gần 3,5 triệu người- có nhu cầu về nhà ở rất lớn), tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 13% [3] . Bên cạnh đó là hàng trăm dự án qui hoạch đô thị, khu dân cư đã và đang được triển khai ở các quận, huyện vành đai thành phố: quận 2, quận 7, quận 8, quận 9, Bình Chánh, ….với hàng triệu nền nhà mà không ít những chủ nhân của nó đã cạn nguồn tài chính sau khi đã trút ống cho những mảnh đất vàng này! Đây cũng là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng, nguồn thu nhập ổn định, có tính an toàn cao về tài sản đảm bảo (quyền sử dụng đất của chính nền nhà đó).

Tiếp tục đọc

DỊCH VỤ MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ, THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

LƯU ĐỨC KHẢI – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, sự gia tăng dân số cùng tốc độ đô thị hóa chóng mặt tất yếu đã dẫn đến việc nhu cầu nhà ở của người dân và cơ sở hạ tầng cho các hãng kinh doanh trở thành vấn đề cấp bách. Chính vì vậy, dịch vụ môi giới bất động sản chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu các ngành dịch vụ ở nước ta.

1. Hoạt động môi giới bất động sản ở Việt Nam

Hoạt động môi giới bất động sản là hoạt động hỗ trợ chủ sở hữu bất động sản (BĐS) tìm kiếm khách hàng, đàm phán hợp đồng mua, bán, thuê, trao đổi BĐS. Quyền lợi của người môi giới là được hưởng một khoản hoa hồng. Môi giới là hoạt động thường có đối với các giao dịch về BĐS và bắt nguồn từ tính đặc thù của BĐS là không di chuyển được và các BĐS không hoàn toàn giống nhau. Đối với người bán, để tìm kiếm được người đồng ý mua BĐS của mình thì họ phải giới thiệu BĐS của mình cho những người quan tâm, mà trên thực tế có nhiều người không đủ thông tin và quỹ thời gian để thực hiện. Mặt khác, việc mua bán BĐS diễn ra khá phức tạp và thị trường này luôn biến động. Với những lý do trên đã làm nảy sinh nhu cầu khách quan của hoạt động môi giới BĐS.

Vị trí của người môi giới BĐS nằm giữa người bán và người mua BĐS và họ có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. Nghĩa vụ của người môi giới là: người đại diện cho người thuê môi giới; phải tuân theo các chỉ dẫn của người thuê môi giới; phải trung thành với người thuê môi giới. Nghĩa vụ của người thuê môi giới là: trả tiền hoa hồng cho người môi giới khi hợp đồng mua bán được thực hiện và cung cấp các thông tin về BĐS cần bán cho người môi giới.

Trên thực tế thì hoạt độngmôi giới BĐS rất phát triển, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. ở các nước này có những Luật để điều tiết hoạt động môi giới BĐS. Tiềm năng và quy mô của thị trường BĐS ở Việt Nam còn rất lớn, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Theo “Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam”, diện tích đất đô thị sẽ tăng từ 105.000ha hiện nay lên 460.000ha vào năm 2020, đưa tỷ lệ đô thị hoá từ 28% lên khoảng 45% vào năm 2025. Dân số đô thị từ 23 triệu người dự kiến sẽ tăng lên 46 triệu người vào năm 2025, kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nhà ở đô thị. Trung bình mỗi năm Việt Nam cần phát triển thêm 35 triệu m2 nhà để phấn đấu đạt 20m2 nhà ở/người tại đô thị vào năm 2020.

Tiếp tục đọc

HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

THS. NGUYỄN NAM ĐIỂN – Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia khu vực II, TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có thị trường BĐS phát triển sôi động bậc nhất ở nước ta. Chính vì vậy, quản lý nhà nước với thị trường BĐS ở đây rất phức tạp. Mặc dù được coi là địa phương năng động, có nhiều sáng kiến nhưng quản lý của nhà nước đối với TTBĐS ở TP.HCM vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là các văn bản pháp quy quản lý TTBĐS còn chồng chéo, lạc hậu, thiếu đồng bộ.

Vì thế bài viết cố gắng rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp lý hiện có, kiến nghị, bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản này nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thị trường BĐS trên địa bàn TP.HCM nói riêng, tạo điều kiện phát triển thị trường BĐS ở Việt Nam nói chung.

1. Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thị trường bất động sản ở TP.HCM

a) Văn bản pháp luật quản lý thị trường BĐS chung cho cả nước

Gồm các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hàng hoá BĐS, các giao dịch và dịch vụ liên quan đến TTBĐS, quản lý nhà nước đối với TTBĐS. Hệ thống văn bản pháp lý này điều chỉnh từ giai đoạn giao đất, cho thuê đất, xây dựng, tạo lập BĐS đến giao dịch trên thị trường và bảo hộ tài sản là BĐS. Văn bản pháp luật quan trọng nhất là Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh BĐS, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Cư trú …

Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp lý của cả nước đã quy định tương đối đầy đủ, khá rõ về đối tượng, phương pháp và chủ thể can thiệp, điều tiết TTBĐS. Ví như quy định thủ tục tạo lập, giao dịch, chuyển nhượng các HHBĐS. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc can thiệp vào thị trường. Các văn bản càng về sau càng xác định rõ hơn, đơn giản, minh bạch hơn mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế với nhau và với cơ quan quản lý nhà nước. Một số văn bản pháp lý như Nghị định 181, 197, 198/2004/NĐ-CP, Nghị định 69, 88/2009/NĐ-CP, Nghị định 153/2007, NĐ 71/2010… đã được xã hội hoan nghênh do đáp ứng được yêu cầu trong thực tiễn.

Tiếp tục đọc

NHÀ CHUNG CƯ LÀM VĂN PHÒNG: CẤM ĐƯỢC KHÔNG?

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHUNG – LG. NGUYỄN GIA HUY CHƯƠNG

Liệu có cấm được việc sử dụng nhà chung cư làm văn phòng khi nhu cầu mặt bằng kinh doanh giá rẻ luôn tồn tại?

Ngay sau khi Bộ Xây dựng ban hành Công văn số 2544/BXD-QLN ngày 19.11.2009 về quy định quản lý và sử dụng nhà chung cư, đã có nhiều ý kiến xung quanh những quy định của văn bản này. Nội dung của Công văn 2544 tập trung vào một số vấn đề về công tác quản lý sử dụng nhà chung cư nhưng đáng quan tâm nhất là mục đích của việc sử dụng nhà chung cư: chuyển đổi mục đích sử dụng từ nhà ở sang làm văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh là trái với mục đích sử dụng, không đảm bảo an toàn.

Ở đây, người viết muốn góp một số ý kiến về nội dung của Công văn ở góc độ quy định pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam.

“Vênh” giữa quy định và thực tiễn áp dụng

Theo Luật Nhà ở, nhà ở là công trình xây dựng với mục đích “để ở” và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Như vậy, mục đích sử dụng của nhà ở là phải để ở. Tuy nhiên, thực tế tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, có nhiều nhà ở (bao gồm cả nhà chung cư) đã được sử dụng làm văn phòng, trụ sở của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Rõ ràng, việc sử dụng nhà ở như vậy đã sai về mặt mục đích theo quy định của pháp luật. Điều này cho thấy, có độ chênh khá lớn giữa quy định của Luật Nhà ở và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với mục đích sử dụng nhà ở.

Theo Công văn 2544, pháp luật về quản lý sử dụng nhà chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái với mục đích quy định. Cơ sở pháp lý mà Công văn 2544 viện dẫn là Khoản 6, Điều 23 tại Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng ngày 28.5.2008 về quản lý và sử dụng nhà chung cư (gọi tắt là Quy chế 08). Theo quy định này, mọi hành vi sử dụng căn hộ chung cư sai mục đích “để ở” đều bị cấm.

Tiếp tục đọc

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THS. NGUYỄN NGỌC MINH  – Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam

Phát triển thị trường bất động sản (BĐS) là một đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ”1.

Tuy nhiên để thị trường BĐS phát triển lành mạnh, công khai và minh bạch, Nhà nước phải thực hiện đồng bộ một loạt các giải pháp từ những giải pháp tổng thể, lâu dài đến những giải pháp mang tính trước mắt mà một trong những giải pháp cần được thực hiện trước tiên là cải cách thủ tục hành chính. Bởi lẽ, thủ tục hành chính (TTHC) xuất hiện ở tất cả các phân khúc của thị trường BĐS từ thị trường BĐS sơ cấp (TTHC về giao đất, cho thuê đất; TTHC về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ); TTHC về cấp phép xây dựng v.v..) đến thị trường BĐS thứ cấp (TTHC trong việc xác lập các giao dịch về chuyển nhượng BĐS; TTHC liên quan đến thực hiện nghĩa vụ tài chính về mua bán, chuyển nhượng BĐS v.v..). Như vậy, TTHC có tác động rất lớn đến sự vận hành của thị trường BĐS. TTHC thông thoáng, hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường BĐS. Ngược lại, TTHC phức tạp, rườm rà, thiếu minh bạch sẽ gây cản trở sự phát triển thị trường BĐS.

Thời gian qua, thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về cải cách TTHC, các bộ, ban, ngành và các địa phương đã tiến hành rà soát, loại bỏ những TTHC không cần thiết. Điều này góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh nói chung và thúc đẩy thị trường BĐS nói riêng phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế một số TTHC vẫn đang là rào cản, là thách thức không nhỏ cho nhà đầu tư, kinh doanh BĐS.

1. Thủ tục hành chính và tác động của thủ tục hành chính tới sự vận hành của thị trường bất động sản

TTHC là trình tự, cách thức thực hiện và hồ sơ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức2.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: