Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG – NHÌN TỪ TÌNH HUỐNG THỰC TẾ

ĐINH HẢI SƠN – Agribank Đống Đa, Hà Nội

Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhưng lại mang nhiều rủi ro, có những rủi ro có thể thấy trước, nhưng cũng có rủi ro tiềm ẩn. Có những rủi ro xuất phát từ mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn, tăng trưởng dư nợ mà những người đứng đầu ngân hàng phải thực hiện để đạt chỉ tiêu kế hoạch được giao nhưng cũng có rủi ro liên quan đến pháp lý mà khi thực hiện ngân hàng không biết, chỉ đến khi vụ việc được cơ quan pháp luật thụ lý, giải quyết ngân hàng mới biết những sai phạm pháp lý xuất phát từ đâu, từ thời điểm nào.

Hàng ngày, hàng giờ những cán bộ tín dụng, những giao dịch viên tại ngân hàng phải thực hiện rất nhiều các giao dịch tiền gửi, giao dịch tiền vay với khách hàng. Có nhiều đối tượng khách hàng và cũng có nhiều loại giao dịch. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin chia sẻ những kinh nghiệm thực tế phát sinh khi ngân hàng thực hiện giao dịch tiền gửi, tiền vay liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.

Tình huống thực tế 1

Bà D là người đại diện theo pháp luật của Công ty X. Do Công ty X mở rộng kinh doanh nên cần vốn huy động từ những người trong công ty, bản thân bà D cũng đóng góp căn nhà thuộc sở hữu của mình (bà D là người duy nhất đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà) thế chấp vào Ngân hàng M để Công ty X vay vốn. Việc vay vốn đối với Công ty X được cán bộ tín dụng thẩm định và nhận thấy không có vấn đề gì bất ổn, tài sản thế chấp là ngôi nhà đứng tên sở hữu là bà D có giá trị và tính thanh khoản rất cao nếu Công ty X không trả được nợ việc xử lý tài sản thế chấp thu hồi vốn vay sẽ thuận lợi vì bà D đã cam kết giao tài sản cho Ngân hàng M xử lý nếu Công ty X không trả được nợ.

Continue reading

Advertisements

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: 15 NĂM KIỆN CHỒNG CŨ ĐÒI CHIA TÀI SẢN CHUNG

 THANH VÂN – Báo Pháp luật TP.HCM

Ngày 29-11, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên TAND TP.HCM đã xử phúc thẩm lần thứ ba vụ tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn giữa ông LVH và bà BTKH (cùng ngụ quận Gò Vấp).

Tính đến nay, vụ án đã kéo dài hơn 15 năm với sáu phiên tòa sơ, phúc thẩm và một phiên tòa giám đốc thẩm.

Theo hồ sơ, ông H. (SN 1962) và bà KH (SN 1963) ly hôn từ tháng 3-2002. Sau đó, bà KH yêu cầu TAND quận Gò Vấp chia tài sản chung là một căn nhà ở đường Lê Đức Thọ (quận Gò Vấp). Theo bà, một nửa căn nhà này do vợ chồng bà tạo lập được, nửa còn lại do cha mẹ chồng cho. Bà cùng ông H. sống tại đây từ năm 1990, đến năm 1995 hai người đã bỏ tiền ra sửa nhà. Bà yêu cầu được hưởng một nửa căn nhà.

Trong khi đó, ông H. nói nhà là tài sản của cha mẹ ông. Năm 1992, cha ông mất, mẹ ông cùng các anh chị em đã cho riêng ông căn nhà này. Năm 2002, mẹ ông có lập di chúc cho ông được hưởng phần tài sản của bà trong khối tài sản chung…

Đầu năm 2004, TAND quận Gò Vấp xử sơ thẩm (lần đầu) đã chấp nhận yêu cầu của bà KH. Ông H. kháng cáo.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ NHẬN NUÔI CON NUÔI: THẾ NÀO LÀ “NGƯỜI CÔ ĐƠN”

PHƯƠNG LOAN

Một người già yếu cô đơn nhận người 31 tuổi làm con nuôi. 17 năm sau, cháu ruột của cụ kiện yêu cầu hủy quyết định vì khi nhận con nuôi, cụ không có tên trong danh sách người cô đơn ở địa phương. Tuy nhiên, tòa cho rằng không có tên trong danh sách này không có nghĩa là không phải người cô đơn tại thời điểm nhận con nuôi…

71 tuổi nhận con nuôi 31 tuổi

Năm 1988, cụ Nguyễn Thị Huệ (sinh năm 1928) gặp bà Lê Thị Bé Âu (sinh năm 1968, ở Lai Vung, Đồng Tháp, khi đó mới 20 tuổi) khi làm công quả trong chùa. Một năm sau, cụ Huệ đưa bà Âu về ở chung nhà với cụ ở phường 1, TP Vũng Tàu, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cụ Huệ không chồng, không con nên nhận bà Bé Âu làm con nuôi. Tháng 5/1999, UBND xã Tân Hòa (huyện Lai Vung, Đồng Tháp) ra quyết định công nhận nuôi con nuôi giữa cụ Huệ – khi đó 71 tuổi và bà Âu – khi đó 31 tuổi.

Quyết định ghi nhận: Cụ Huệ có đơn xin nhận con nuôi, cha mẹ bà Âu có giấy thỏa thuận cho con làm con nuôi; hai bên có các quyền và nghĩa vụ của mẹ con theo pháp luật về hôn nhân và gia đình…

Tháng 7/1999, bà Âu nhập hộ khẩu vào nhà cụ Huệ. Hai mẹ con chung sống với nhau được 16 năm, đến tháng 8-2015 thì cụ Huệ mất. Quá trình chung sống, cụ Huệ đã truyền nghề làm bánh bò cho con gái nuôi. Hai mẹ con sống bằng nghề làm bánh bò bỏ mối ở các chợ.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG HÔN NHÂN: RẮC RỐI VỤ VƯỜN CÂY ĂN TRÁI CỦA HAI ÔNG VÀ MỘT BÀ

HỒ LƯU

TAND huyện Đông Hòa (Phú Yên) vừa xử sơ thẩm vụ án bà ĐTH kiện đòi chồng cũ là ông NXV trả lại một vườn cây ăn trái. Điều đáng nói ở đây là hai người đã ly hôn cách đây hơn… 20 năm và người chồng đã bán nhà cùng vườn cây cho người khác.

Vườn cây ăn trái của ai?

Bà H. trình bày năm 1987, bà và ông V. (khi đó là vợ chồng) mua một ngôi nhà ở thôn Phú Lương, xã Hòa Tân Đông, huyện Đông Hòa theo diện nhà hóa giá của Nhà nước. Khi đó trên đất có nhiều cây ăn quả gồm 27 cây dừa, ba cây sapoche, một cây mãng cầu, tám cây xoài, ba cây vú sữa, bốn cây ô mai và một cây bơ.

Trong quá trình chung sống, bà có trồng thêm một cây khế. Năm 1996, do có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, bà và ông V. ra tòa xin ly hôn. Ngày 25-10-1996, TAND huyện Tuy Hòa (cũ) đã tuyên ông bà được ly hôn, tài sản giao ông V. sở hữu nhà, không giao đất và cây trái trên đất.

Năm 2001, ông V. bán nhà cho ông ĐVM và tự ý bán luôn cả số cây ăn trái nói trên. Sau đó, ông M. tiến hành chặt phá toàn bộ số cây ăn quả này. Bà H. có khiếu nại đến UBND xã nhưng không được giải quyết. Nay bà đề nghị tòa xem xét, giải quyết yêu cầu các ông V., M. phải trả toàn bộ số cây ăn quả nói trên theo giá nhà nước quy định hiện nay là 41.500.000 đồng; ông M. trả giá trị hoa lợi của số cây đó tính từ năm 2001 (năm ông M. chặt phá cây) đến nay, có tính trừ năm năm thiên tai, còn lại 11 năm với tổng giá trị 70.004.000 đồng. Tổng giá trị cây và hoa lợi là 111.504.000 đồng. Bà H. cũng cho rằng số cây ăn quả là tài sản chung của bà và ông V. nên yêu cầu chia theo quy định nhưng phải xem xét đến công sức chăm sóc cây của bà để chia cho công bằng.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ VI PHẠM QUYỀN NHÂN THÂN: KIỆN CHỒNG CŨ ĐỂ ĐÒI LẠI DANH DỰ

 HOÀNG YẾN

Theo hai cấp tòa, từ năm 2012 đến cuối năm 2016, người chồng cũ đã đưa thông tin vợ cũ bạo hành các con chung nhiều lần và ở nhiều nơi nhưng không đưa ra bất cứ chứng cứ nào chứng minh.

TAND TP.HCM vừa xử phúc thẩm vụ bà L. khởi kiện yêu cầu tòa bác bỏ thông tin bà có hành vi bạo hành các con, buộc ông Y. (chồng cũ) phải xin lỗi công khai, đồng thời bồi thường thiệt hại cho bà.

Ly hôn, tố vợ cũ bạo hành con

Theo đơn khởi kiện của bà L. tại TAND quận 2, trước đây bà và ông Y. là vợ chồng và có ba con chung. Do có mâu thuẫn, ông bà đã ly hôn từ năm 2016.

Theo bà L., trước và sau khi ly hôn, ông Y. đã có những hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà trong một thời gian dài. Cụ thể, ông nộp đơn ly hôn với lý do bà bạo hành các con; đến trường học các con tố cáo bà bạo hành con mà không có căn cứ. Ông còn gửi đơn đến nhiều cơ quan, ban, ngành vu khống bà có hành vi bạo hành, ngược đãi con…

Theo bà L., những tố cáo này là vu khống. Bà đã được các cơ quan chức năng xác định là không có hành vi bạo hành con. Hành vi của ông Y. đã xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà. Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu TAND quận 2 bác bỏ thông tin bà bạo hành các con và buộc ông Y. phải xin lỗi công khai bà tại UBND phường, đồng thời bồi thường thiệt hại.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ: BẤT THƯỜNG VỤ CẮP DƯỠNG NUÔI CON 10 TỶ ĐỒNG

NGÂN NGA

Một chi cục thi hành án dân sự vừa kiến nghị VKSND Cấp cao và TAND Cấp cao tại TP.HCM xem xét lại một bản án cấp dưỡng nuôi con lên đến 10 tỉ đồng vì có dấu hiệu bất thường nhằm né tránh nghĩa vụ thi hành án…

Gặp PV Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Quốc Toàn (ngụ quận 2, TP.HCM) kể: Năm 2012, ông mua căn nhà của bà Nguyễn Thanh Tuyền ở khu phố 1 (phường Cát Lái, quận 2). Dù bà Tuyền đã nhận tiền cọc nhưng lại không chịu ra phòng công chứng để làm hợp đồng sang tên nên ông khởi kiện ra tòa.

Phải trả gần 19 tỉ đồng trong ba vụ

Tháng 7-2013, TAND quận 2 đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận thành, theo đó bà Tuyền phải trả cho ông Toàn 7,6 tỉ đồng. Tháng 10-2013, Chi cục Thi hành án (THA) dân sự quận 2 đã ra quyết định THA theo yêu cầu của ông Toàn.

Chi cục THA dân sự quận 2 đã kê biên, bán đấu giá căn nhà trên của bà Tuyền để THA nhưng chưa thành thì tháng 1-2016, bà Tuyền bị ông Quách Việt Long khởi kiện yêu cầu TAND quận 2 không công nhận quan hệ vợ chồng. Tháng 6, TAND quận 2 đưa vụ kiện này ra xử. Bà Tuyền đồng ý giao con chung của hai người là một cháu trai 12 tuổi cho ông Long nuôi và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con một lần là… 10 tỉ đồng. Tháng 9-2016, Chi cục THA dân sự quận 2 đã ra quyết định THA theo yêu cầu của ông Long.

Continue reading

THỎA THUẬN NHẰM TRỐN TRÁNH NGHĨA VỤ NÊN THỎA THUẬN KHÔNG HỢP PHÁP

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án Tòa án NDTC

Trong tố tụng dân sự quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt là một quyền rất quan trọng của đương sự. Nếu trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền này sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của đương sự không phải là một quyền tuyệt đối. Sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự chỉ hợp pháp khi nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Do không nhận thức rõ vấn đề này nên có nhiều trường hợp các đương sự thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ vẫn được Tòa án công nhận. Dưới đây là một ví dụ:

Vụ án “chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” giữa nguyên đơn là anh Ngô Văn Hợi (sinh năm 1973) và bị đơn là chị Lê Thị Thúy ( sinh năm 1977) cùng trú tại: Đinh Công Tráng, phường Duy Tân, thành phố KT, tỉnh KT; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Đào Thị Loan, anh Mã Hùng Vinh, chị Dương Thị Hạnh, anh Đỗ Văn Thắm, chị Nguyễn Thị Linh, chị Hồ Tuyết Nhung.

Tóm tắt nội dung vụ án:

Anh Ngô Văn Hợi và chị Lê Thị Thúy kết hôn năm 1996. Trong quá trình chung sống anh Hợi và chị Thúy không có yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do chị Thúy có nghĩa vụ trả tiền đối với các chị Trần Thị Lợi, Quảng Thị Thái theo các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 46/2011/QĐST-DS và 47/2011/QĐST-DS cùng ngày 6/9/2011 của TAND thành phố KT (theo các quyết định này thì chị Thúy phải trả cho chị Trần Thị Lợi số tiền gốc và lãi là 60.600.000 đồng cùng 05 chỉ vàng SJC; trả cho chị Quảng Thị Thái tiền gốc và lãi là 59.150.000 đồng; tất cả trả một lần vào ngày 30/9/2011) nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố KT có Thông báo số 56/TB-CCTHA ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chia tài sản chung giữa chị Thúy và anh Hợi. Do đó, ngày 12/3/2012, anh Hợi khởi kiện ra TAND thành phố KT yêu cầu chia tài sản chung của anh Hợi và chị Thúy.

Continue reading

TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG?

NGUYỀN THị HUYỀN – Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế

Như chúng ta đã biết thì tác giả là người sáng tạo phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (gọi chung là tác phẩm). Quyền tác giả được bảo hộ tự động (không cần phải đăng ký) theo Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định tại Công ước Bener, các văn bản pháp luật Sở hữu trí tuệ quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Tại khoản 1 Điều 738 Bộ luật dân sự quy định  “Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”. Như vậy, trong quyền tác giả có chứa yếu tố quyền tài sản. Trong thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp tranh chấp về “quyền tác giả” mà có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết; đặc biệt là việc tranh chấp này lại xuất hiện trong vụ án hôn nhân gia đình. Tác giả xin đưa ra tình huống cụ thể sau đây:

Chị X là người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, thỉnh thoảng có sở thích sáng tác thơ ngẫu hứng. Trước khi chị lấy chồng chị có sáng tác được 20 bài thơ, sau này mới in thành tập thơ riêng. Chị X lập gia đình với anh Y (hôn nhân hợp pháp) và sau khi lấy chồng, chị X vẫn tiếp tục sáng tác. Trong thời kỳ hôn nhân, chị X sáng tác được 50 bài thơ và chị đã cho in thành sách phát hành. Chị X trở thành người nổi tiếng và nhận được nhiều tiền nhuận bút vì có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Sau đó, chị X và anh Y phát sinh mâu thuẫn và thuận tình ly hôn, nhưng có tranh chấp về tài sản. Tài sản tranh chấp trong trường hợp này là các bài thơ của chị X. Anh Y cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng, vì trong thời gian hôn nhân chị X đã sáng tác những bài thơ này và thời gian chị X dành làm thơ đồng nghĩa với anh việc phải cáng đáng việc nhà và chăm sóc con cái thay chị X; cho nên phải chia đôi 50 bài thơ do chị X sáng tác trong thời kỳ hôn nhân cũng như nhuận bút và những lợi nhuận đã phát sinh từ các tác phẩm của chị X cũng phải chia đôi cho anh một nửa. Chị X không đồng ý với ý kiến của anh Y, chị cho rằng: 50 bài thơ của chị là tác phẩm văn học, là tài sản sở hữu trí tuệ của chị, gắn liền với tên tuổi, nhân thân của chị nên không thể chia được. Chị cho rằng việc sáng tác của chị không làm ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình, hầu hết chị sáng tác thơ tại phòng làm việc tại cơ quan lúc rảnh rỗi hoặc ở công viên.

Vụ việc trên được Tòa án thụ lý giải quyết và có hai quan điểm khác nhau xung quanh việc giải quyết yêu cầu của anh Y; cụ thể là:

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: