Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

PHÁP LỆNH SỐ 86-1243, NGÀY 1 THÁNG 12 NĂM 1986 CỦA CỘNG HÒA PHÁP VỀ TỰ DO GIÁ CẢ VÀ CẠNH TRANH

Chương I – TỰ DO GIÁ CẢ

Điều 1:

Các quy định tại Pháp lệnh số 45-1483 ngày 30/6/1945 nay bị bãi bỏ. Hàng hoá, dịch vụ trước đây thuộc diện quản lý giá theo quy định tại Pháp lệnh trên nay được tự do định giá theo quy luật cạnh tranh.

Đối với những ngành nghề, khu vực hạn chế cạnh tranh qua giá theo quy định của pháp luật hoặc do có độc quyền, có khó khăn trong việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ, thì Chính phủ sẽ ban hành nghị định, sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng quản lý cạnh tranh, quy định về khung giá đối với các ngành nghề hay khu vực đó.

Các quy định tại hai khoản trên không làm ảnh hưởng đến việc Chính phủ có thể ban hành Nghị định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hạn chế việc giá cả tăng quá mức trong trường hợp có khủng hoảng, trong những tình huống đặc biệt, thiên tai, địch hoạ hoặc trong trường hợp tình hình diễn biến bất thường trên thị trường trong một ngành nghề sản xuất cụ thể. Chính phủ ban hành Nghị định sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng quốc gia về tiêu dùng. Trong nghị định phải ghi rõ thời hạn hiệu lực, tuy nhiên không được vượt quá 6 tháng.

Chương II – HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH

Điều 2:

Quyết định thành lập Hội đồng quản lý cạnh tranh bao gồm 16 thành viên được bổ nhiệm theo Nghị định của Chính phủ trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Kinh tế.

Thành phần gồm :

1/ Bẩy người hiện đang là thành viên hoặc cựu thành viên của Tham chính viện, Toà kiểm toán, Toà phá án hoặc các Toà án hành chính hoặc tư pháp khác.

Continue reading

Advertisements

TÌM HIỂU VỀ CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là Báo cáo Môi trường kinh doanh (MTKD) – Doing Business (DB)) của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh. Đây là báo cáo thường niên, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2003. Báo cáo đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng thế giới tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu thành lập hoặc mở rộng hoạt động của một doanh nghiệp.

Báo cáo Môi trường kinh doanh lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2003 (với tên gọi Doing Business 20041) xem xét 5 chỉ số và 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 (công bố ngày 31/10/2018) xếp hạng 190 nền kinh tế; gồm cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất. Qua các năm, số lượng các chỉ số và các nước khảo sát được mở rộng.

Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc tìm hiểu và cải thiện môi trường pháp lý và thực thi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số trong Doing Business thể hiện các nội dung sau:

– Thứ nhất, đo lường chất lượng các quy định; đánh giá được tính phức tạp thể hiện qua các quy định;

– Thứ hai, đo lường thời gian và chi phí tuân thủ các quy định (chẳng hạn như thời gian và chi phí thực hiện hợp đồng, thủ tục phá sản hay thương mại qua biên giới,…);

Continue reading

BÀI HỌC NÀO CHO DOANH NHÂN QUA VỤ LY HÔN CỦA VỢ CHỒNG “VUA CÀ PHÊ” TRUNG NGUYÊN?

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Luật Bất động sản Hưng Vượng, TP.HCM

Những ngày này, báo chí và dư luận xã hội đặc biệt quan tâm đến vụ án ly hôn nổi tiếng vợ chồng ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo là chủ của Tập đoàn Trung Nguyên do Tòa án Tp.Hồ Chí Minh xét xử công khai từ ngày 20/2/2019.

Điểm mấu chốt gay gắt nhất dẫn đến không thể hòa giải giữa hai vợ chồng, đó là chia cổ phần tại Tập đoàn Trung Nguyên. Ông Vũ đòi chia 70% cổ phần; bà Thảo đòi 51% cổ phần. Cổ phần không chỉ có giá trị về mặt tài sản mà còn có giá trị đặc biệt về quyền biểu quyết, điều hành phát triển Trung Nguyên trong tương lai.

Với ông Vũ thì mục tiêu cần nắm quyền điều hành là quan trọng nhất vì Trung Nguyên là đứa con tinh thần, là sự nghiệp, là khát vọng xây dựng cà phê phải khác biệt, đặc biệt, duy nhất trên thế giới nên ông Vũ đòi chia 70% cổ phần và muốn mua lại phần 30% của bà Thảo. Còn bà Thảo dường như muốn tất cả: nhà đất, tiền trong ngân hàng, cổ phần, con cái và cả quyền điều hành Trung Nguyên. Vì vậy cuộc chiến giữa hai vợ chồng bắt đầu bùng nổ năm 2015 khi ông Vũ cùng Hội đồng quản trị bãi nhiệm bà Thảo với chức danh Phó TGĐ điều hành. Đến giờ ông Vũ, bà Thảo và các công ty của Trung Nguyên có đến hàng chục vụ tranh chấp trên khắp các mặt trận và đang chờ Tòa án xét xử.

Ông Vũ cho rằng mình xứng đáng được hưởng 70% cổ phần vì ông là người đại diện, chủ tịch HĐQT, là trụ cột điều hành, là linh hồn của cà phê Trung Nguyên và điều này là hiển nhiên – không tin “hãy hỏi tất cả những người anh em trong Tập đoàn”.

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

 SORAYA AMRANI MEKKIGiáo sư trường Đại học Paris Ouest – Nanterre La défense Trung tâm Pháp luật hình sự và Tội phạm học

1. Thời xưa Portalis đã khuyên nhủ chúng ta rằng « khi làm luật nên biết “run” “một chút”. Sự cẩn trọng này đặc biệt cần thiết trong bảo vệ người tiêu dùng vì lĩnh vực này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật được ban hành với những mục đích khác nhau tùy thuộc đó là văn bản pháp luật quốc gia hay văn bản pháp luật cộng đồng châu Âu[1]. Pháp luật quốc gia hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vì mối tương quan lực lượng ở đây không cân bằng, người tiêu dùng là bên yếu thế nên cần phải được bảo vệ. Trái lại, trong pháp luật cộng đồng châu Âu, bảo vệ người tiêu dùng, bản thân nó, không phải là một mục đích mà chỉ là phương tiện để đạt được một mục đích khác. Trên thực tế, bảo vệ người tiêu dùng là nhằm làm cho người tiêu dùng yên tâm, tin tưởng để khuyến khích họ tiêu thụ nhiều hơn. Bảo vệ người tiêu dùng góp phần vào việc bảo vệ thị trường. Hai mục đích này dễ dàng được nhận thấy trong các hợp đồng tiêu dùng được ký kết từ xa qua mạng điện tử và thông qua hàng loạt các quy định phức tạp, khó hiểu và không phải lúc nào cũng hiệu quả.

2. Tính đặc thù của các hợp đồng ký kết từ xa qua mạng điện tử là khi ký kết hợp đồng, bên này không ký với sự có mặt của bên kia, loại hợp đồng này trước đây gọi là hợp đồng giữa các bên vắng mặt[2]. Trong loại hợp đồng này, người tiêu dùng là một bên ở vị thế đặc biệt mong manh. Họ không được tiếp xúc trực tiếp, không thể đánh giá cụ thể sản phẩm, do đó đòi hỏi phải có những quy định bảo vệ phù hợp[3]. Cần phải đảm bảo mức độ bảo vệ tương tự cho người tiêu dùng trong các giao dịch từ xa hoặc qua mạng điện tử, đây chính là mục tiêu ưu tiên mà Tham Chính viện đã đặt ra ngay từ năm 1998[4]. Mặt khác, do các hợp đồng được ký kết từ xa qua mạng điện tử thúc đẩy sự phát triển trao đổi thương mại quốc tế nên cần phải phòng ngừa nguy cơ giảm mức độ bảo hộ trong nước[5].

Continue reading

NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM – NĂNG SUẤT VÀ THỊNH VƯỢNG

TS. LÊ DUY BÌNH – Chuyên gia kinh tế của Economica Viet Nam

TÓM TẮT BÁO CÁO

Năm 2017, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã được ban hành, khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là một điểm mốc quan trọng do trong quá khứ, doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam đã phải trải qua một quá trình phát triển nhiều sóng gió. Trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân đã không được chính thức công nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại, lấp đầy những khoảng trống mà khu vực Nhà nước còn để lại. Năm 1986, chính sách “Đổi mới” đã được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ 6. Với chính sách Đổi Mới, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần. Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã dẫn đến một sự phát triển bùng nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam. Từ đó đến này, môi trường chính sách và pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân đã liên tục được cải thiện.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký gia tăng mạnh mẽ, phản ánh cả quá trình chính thức hoá hộ kinh doanh cũng như sự thành lập các doanh nghiệp mới. Tuy nhiên, có một khoảng cách đang ngày càng lớn dần giữa số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và số lượng những doanh nghiệp đang thực sự hoạt động. Bên cạnh các doanh nghiệp được đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hộ kinh doanh đã và đang trở thành một cấu phần quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Sự mở rộng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam song hành với sự giảm bớt về số lượng doanh nghiệp nhà nước và với sự tăng trưởng chậm chạp của khu vực hợp tác xã (kinh tế tập thể). Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân đã dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng vốn của các doanh nghiệp tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp lớn vào việc hình thành tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Continue reading

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH VỀ CÔNG TY HỢP VỐN CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN LÂM – Đại học Bách khoa Hà Nội

Công ty hợp vốn cổ phần được hiểu là một loại công ty kết hợp giữa công ty hợp vốn đơn giản và công ty cổ phần. Công ty có hai loại thành viên là: Thành viên hợp danh (thành viên nhận vốn) có cổ phần trong công ty, nhưng lại có tư cách thương nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới với các thành viên hợp danh khác đối với các nghĩa vụ trả nợ của công ty. Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi giá trị cổ phần thành viên đó sở hữu. Vốn điều lệ công ty được chia thành các cổ phần bằng nhau.

1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần

1.1. Khái niệm công ty hợp vốn cổ phần

Công ty hợp vốn cổ phần được pháp luật của nhiều các quốc gia trên thế giới quy định, theo đó, loại hình công ty này là một sự kết hợp giữa các đặc điểm nổi bật của công ty hợp vốn đơn giản và công ty cổ phần.

Ở Đức, công ty hợp vốn cổ phần được hiểu là một hình thức pháp lý có chứa các yếu tố của hợp danh hữu hạn và công ty cổ phần. Trong đó, “các thành viên hợp danh có trách nhiệm và quản lý không bị giới hạn và các nhóm khác – cổ đông – trách nhiệm được giới hạn trong phần đóng góp của họ”. Cụ thể, theo Điều 278 Luật Công ty cổ phần của Đức quy định: “Công ty hợp vốn cổ phần là một loại hình công ty, trong đó ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn đối với các chủ nợ của công ty (thành viên hợp danh) và các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của công ty (cổ đông hạn chế) trong phạm vi số cổ phần mà họ sở hữu”.

Continue reading

BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC TRONG HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)

 TSKH. NGUYỄN THANH HOÀNG – Đại học Khoa học Xã hội – Nhân văn TP.HCM

1. Đặt vấn đề

Thực tế không một chính phủ nào có đủ khả năng trang trải mọi khoản đầu tư và chi phí cho dịch vụ công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng; do vậy, việc tìm kiếm các hình thức đầu tư mới, có sự tham gia của tư nhân trong đầu tư, cung cấp dịch vụ công là mối quan tâm của nhiều quốc gia, nhất là vào những thời điểm ngân sách bị suy giảm. Tuy nhiên, có rất nhiều hạn chế trong mối quan hệ đối tác giữa Nhà nước và Tư nhân (Public – Private – Partnership – PPP) do tính chất phức tạp từ mức độ của sự hợp tác, bản chất của mối quan hệ, khung pháp lý, cách tiếp cận không thống nhất về phát triển dự án, các biến đổi tác động theo thời gian của dự án. Hơn nữa, rủi ro ngày càng gia tăng nên các cam kết, hợp tác vốn, tối đa hóa sự hợp tác thông qua PPP trờ thành những thách thức to lớn (Ngân hàng Thế giới, không năm xuất bản). Do vậy, nghiên cứu về PPP, hiểu đúng về PPP để có sự áp dụng đúng đắn, đem lại lợi ích tối ưu là cần thiết.

Mặc dù, hình thức đầu tư đối tác công tư đã có từ lâu trên thế giới, nhưng mãi đến năm 2009 mới được ghi nhận chính thức tại Việt Nam theo Nghị định số 108/2009/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Xây dựng – Chuyển giao (BT), và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư và mới đây nhất là Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2015…

Continue reading

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở CỘNG HÒA PHÁP VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

 RÉMI BOUCHEZ – Thành viên tham chính viện Cộng hoà Pháp

So với các quốc gia khác ở Châu Âu thì khu vực doanh nghiệp nhà nước của Pháp có khá nhiều điểm đặc thù, xuất phát từ chính sách can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Trong giai đoạn đầu, tức là trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế được thực hiện một cách trực tiếp dưới hai hình thức. Hình thức thứ nhất là các cơ quan Nhà nước trực tiếp tiến hành quản lý các hoạt động sản xuất. Hình thứ thứ hai là Nhà nước ký kết các hợp đồng với doanh nghiệp tư nhân và thông qua đó giao cho tư nhân thực hiện các dịch vụ công. Các dịch vụ như vận tải đường sắt, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường đều được thực hiện dưới hình thức giao khoán cho doanh nghiệp tư nhân.

Các doanh nghiệp nhà nước lớn của Pháp chỉ bắt đầu xuất hiện vào những năm 1935 – 1940 trên cơ sở quốc hữu hoá, xuất phát từ những yêu cầu thực tại của nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng năm 1929 và nhu cầu tái thiết đất nước sau chiến tranh thế giới thứ II. Trong giai đoạn này, khu vực kinh tế nhà nước thực sự đã được hình thành với một số doanh nghiệp có quy mô lớn trong các lĩnh vực như giao thông vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất vũ khí và công nghiệp xe hơi. Làn sóng quốc hữu hoá lần thứ hai đã diễn ra vào năm 1982, xuất phát từ sự thay đổi chính sách vĩ mô. Một loạt ngân hàng cùng 5 tập đoàn công nghiệp lớn của Nhà nước đã được hình thành vào giai đoạn này. Có thể nói những năm 1980 là thời kỳ phát triển cực thịnh của khu vực doanh nghiệp nhà nước bởi vì vào thời kỳ này, đại đa số các doanh nghiệp lớn đều là của Nhà nước, và doanh nghiệp nhà nước sử dụng tới hơn 10% tổng số người lao động trong cả nước. Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: