BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)
Advertisements

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT SỞ HỮU GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM – GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN

 HOÀNG HẢI YẾN – Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hình mẫu tổ chức hoạt động và điều hành công ty theo lối gia đình trị được chứng minh là có khá nhiều thuận lợi, đặc biệt ở Việt Nam và có đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, theo Forbes đánh giá, phương pháp tổ chức hoạt động theo hình thức trên theo thời gian cũng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hệ luỵ phức tạp. Thực tế trên đặt ra những yêu cầu của việc cần thiết phải có những nghiên cứu một cách bài bản nghiêm túc về cách thức và phương pháp loại hình công ty này.

2. Khái quát chung về vai trò của công ty gia đình

Hiện nay vẫn còn đang tồn tại rất nhiều các cách định nghĩa khác nhau về Công ty gia đình (CTGĐ), các học giả vẫn đang tiếp tục tranh luận và chưa thực sự tìm ra tiếng nói chung trong cách tiếp cận cũng như đưa ra định nghĩa cụ thể về loại hình công ty này. Nhìn chung các cách định nghĩa CTGĐ thường bị phụ thuộc vào các điều kiện khác nhau về văn hoá, tôn giáo và khuôn khổ pháp lý.

Thực tế, trên thế giới, CTGĐ là loại hình doanh nghiệp tồn tại lâu đời và chiến số lượng đông đảo nhất. Đây có thể được xem là cách thức tổ chức sản xuất – kinh doanh nguyên thuỷ nhất. Tỷ trọng CTGĐ ở nhiều nước chiếm đến hơn 70% tổng số doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo công an việc làm cho người lao động, ví dụ, theo thống kê của IFC 2008: tại Tây Ban Nha số lượng CTGĐ chiếm 75% tổng số các doanh nghiệp, đóng góp vào 65% tổng GNP; còn tại khu vực Mỹ La tinh, các công ty gia đình chiếm khoảng 60% tổng GNP. Các CTGĐ bao gồm tất cả các loại hình công ty từ quy mô nhỏ, vừa đến các tập đoàn kinh tế hoạt động đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau. Tại các quốc gia khác nhau có tổn tại rất nhiều các thuật ngữ để chỉ mô hình CTGĐ như: “Zaibetsu” ở Nhật Bản, “cheabol” ở Hàn Quốc “giant” ở Mỹ, “grupo” ở các nước Mỹ La tinh.. Sự phổ biến đa dạng của các thuật ngữ trên thể hiện sự phổ biến của mô hình CTGĐ. Theo thống kê của Fortune 500, có rất nhiều CTGĐ thành công và lọt vào bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ theo tổng thu nhập của mỗi công ty. Tại các quốc gia thuộc nhóm OECD, số lượng các CTGĐ chiếm khoảng 40-60% tổng số lượng các doanh nghiệp nói chung.

Continue reading

Advertisements

TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ QUY ĐỊNH ĐẦU TƯ

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

Báo cáo này khảo sát quy định về đầu tư của 8 quốc gia với 5 nước trong khu vực Châu Á và 3 nước thuộc các khu vực khác gồm: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines, Hoa Kỳ, Canada, Australia. Đây là các nước được phân thành 2 nhóm: (i) nhóm nước đang phát triển, có điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam; (ii) nhóm nước phát triển đã có hệ thống quy định về đầu tư hoàn thiện. Với 2 nhóm nước nêu trên, nghiên cứu có thể phản ánh một góc nhìn toàn diện đối với chính sách quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Trong phạm vi Báo cáo, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước nói trên. Các quy định riêng đối với hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua sàn giao dịch chứng khoán không được đề cập trong Báo cáo.

Nội dung Báo cáo chia làm 2 phần: Phần I là những đánh giá tổng quan về pháp luật đầu tư, phần II Báo cáo tập trung nghiên cứu quy định cụ thể của các nước được khảo sát trên cơ sở 6 tiêu chí cụ thể như sau:

(1) Nguồn luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài

(2) Hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp

(3) Hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

(4) Cơ quan quản lý về đầu tư

(5) Thủ tục đầu tư

(6) Một số vấn đề khác

Ngoài việc tập trung nghiên cứu pháp luật về đầu tư nước ngoài của các nước được khảo sát theo các tiêu chí nêu trên, trong phần đánh giá tổng quan, Báo cáo cũng đề cập đến chính sách đầu tư nước ngoài của một số nước khác để có được một cái nhìn bao quát về chính sách quản lý đầu tư nước ngoài trên thế giới.

Continue reading

BẢNG TỔNG HỢP KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)

PHÁP

– Hợp đòng nhượng quyền dịch vụ công (DSP- Délégation de Service Public): Hợp đồng theo đó một pháp nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật công giao việc quản lý  một dịch vụ công thuộc trách nhiệm của mình cho một đơn vị được ủy quyền thuộc Nhà nước hay  tư nhân, lợi ích của công ty được ủy quyền phụ thuộc lớn vào kết quả kinh doanh, khai thác dịch vụ được giao.

– Hợp đồng đối tác (CP-Contrat de Partenariat): Hợp đồng bao gồm việc nhà đầu tư thu xếp tài chính, xây dựng hoặc cải tạo công trình, bảo trì, bảo dưỡng, khai thác, quản lý.

– Hợp đồng tương tự khác:

+ BEA  (Bail Emphy téotique Administrative- Thỏa thuận hợp tác với các công trình hành chính):  Áp dụng cho các công trình bất động sản (trung tâm thể thao, trung tâm văn hóa, nhà ở xã hội…);

+ BEH (Bail Emphy téotique Hospitalier – Thỏa thuận hợp tác các công trình bệnh viện) bằng hợp đồng chủ yếu cho lĩnh vực y tê;

+ AOT/LOA (giấy phép sử dụng tạm thời bằng cho thuê/chọn mua) và hợp đồng cho thuê tài chính bằng hình thức hợp đồng đối với các công trình xây dựng và các trang thiết bị cho lĩnh vực giáo dục, chiếu sáng công cộng, hệ thống các công trình ngầm dưới đường giao thông…

NHẬT BẢN

– Nhà nước thanh tooán đều cho nhà đâu tư:  Hình thức PFI theo đó, vốn của tư nhân được huy động thời gian xây dựng công trình và Nhà nước thanh toán trong khoảng thời gian dài (không quá 30 năm);

– Nhượng quyền khai thác công trình, dịch vụ công: Continue reading

PHẠT VI PHẠM TRONG HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

 LS. TRƯƠNG NHẬT QUANG – Công ty luật TNHH YKVN

TS. PHẠM HOÀI HUẤN – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Mức phạt vi phạm hợp đồng tối đa hiện được quy định có sự khác biệt trong các văn bản luật có liên quan điều chỉnh hợp đồng xây dựng, bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), Luật Thương mại năm 2005 (Luật Thương mại 2005) và Luật Xây dựng năm 2014 (Luật Xây dựng 2014).  Liên quan đến vấn đề này, Bộ Xây dựng đã có Công văn số 48/BXD-KTXD ngày 3 tháng 9 năm 2019 (Công văn 48) giải đáp vướng mắc của doanh nghiệp xoay quanh mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng xây dựng đối với các công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước. Trong bối cảnh đó,  chúng tôi tập trung trình bày, phân tích về hai vấn đề pháp lý: i) Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật điều chỉnh hợp đồng xây dựng giữa BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 và ii) Mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng xây dựng (bao gồm cả hợp đồng xây dựng của công trình sử dụng vốn nhà nước và công trình không sử dụng vốn nhà nước).

1. Bản chất của hợp đồng xây dựng và pháp luật điều chỉnh đối với hợp đồng xây dựng

Một cách khái quát, hợp đồng xây dựng có thể là một loại hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực đầu tư xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014, hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015, và/hoặc hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005.

Trước hết, bản thân hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng đặc thù thuộc lĩnh vực chuyên ngành về đầu tư xây dựng và được quy định tại Luật Xây dựng 2014. Do đó, hợp đồng xây dựng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014.

Continue reading

VẤN ĐỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ THANH TOÁN TRONG TRƯỜNG HỢP BẤT KHẢ KHÁNG–COVID.19

 TRƯƠNG NHẬT QUANG & NGÔ THÁI NINH – Công ty luật TNHH YKVN

1. Pháp luật Việt Nam về sự kiện bất khả kháng

Khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Bên cạnh BLDS 2015, định nghĩa sự kiện bất khả kháng cũng được quy định rải rác tại các văn bản pháp luật khác nhau. Một số văn bản pháp luật đưa ra ví dụ các trường hợp cụ thể được coi là bất khả kháng, bao gồm các sự kiện tự nhiên như thiên tai, hỏa hoạn, cháy nổ, lũ lụt, sóng thần, bệnh dịch hay động đất hoặc các sự kiện do con người tạo nên như bạo động, nổi loạn, chiến sự, chống đối, phá hoại, cấm vận, bao vây, phong tỏa và bất kỳ hành động chiến tranh nào hoặc hành động thù địch cộng đồng nào. Các quy định này về cơ bản phù hợp với quy định tại BLDS 2015.

Hệ quả pháp lý trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS 2015, cụ thể: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

1.1. Các yếu tố cấu thành sự kiện bất khả kháng

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 156 BLDS 2015, một sự kiện sẽ được coi là bất khả kháng nếu: (i) xảy ra một cách khách quan, (ii) không thể lường trước được và (iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ngoài ra, căn cứ quy định về hệ quả pháp lý trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều 351 BLDS 2015, hệ quả về việc bên bị ảnh hưởng không thực hiện được đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng cũng cần được xét đến trong việc xác định một sự kiện có được coi là bất khả kháng đối với từng trường hợp cụ thể hay không. Như phân tích dưới đây, trong trường hợp Covid-19, hệ quả này có lẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc xác định Covid-19 có được coi là sự kiện bất khả kháng hay không.

Continue reading

KỶ YẾU HỘI THẢO “DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG”, NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT–PHÁP, THÁNG 4 NĂM 2010

 Mt s nhn xét chung v d tho Lut bo v quyn li người tiêu dùng

Ông Alexandre DAVID

Nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng là một nội dung quan trọng và được đề cập ở các Điều 10, 11, 12, 13 của Dự thảo Luật. Điều 10 tập trung vào nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng, các điều còn lại quy định về các hành vi thương mại không lành mạnh. Tôi cho rằng muốn bảo vệ người tiêu dùng, phải hành động trước khi có tranh chấp, thậm chí là trước khi giao kết hợp đồng để đảm bảo sự bình đẳng giữa cá nhân, tổ chức kinh doanh và người tiêu dùng trước khi hợp đồng được ký kết, đồng thời ngăn cản và xử lý các phương thức bán hàng gây ảnh hưởng xấu không những đến người tiêu dùng mà đến toàn bộ những đối thủ cạnh tranh khác. Ở Pháp, các hành vi này có thể bị xử lý bằng các biện pháp dân sự (hủy hợp đồng) hay hình sự (đối với hành vi của cá nhân, tổ chức kinh doanh lợi dụng khách hàng).

Trước hết, tôi xin đề cập đến việc bảo vệ người tiêu dùng thông qua nghĩa vụ cung cấp thông tin. Ở Pháp, quy định này đã tồn tại từ thời La Mã, và đến thời Trung Cổ, đã có nhiều nguyên tắc được thiết lập giữa thương nhân và người mua hàng, theo đó người bán có nghĩa vụ nêu rõ các điều kiện của hợp đồng. Nếu hợp đồng không rõ ràng thì điều khoản không rõ ràng phải được giải thích theo hướng có lợi cho người mua. Nội dung này cũng đã được đưa vào Bộ luật Dân sự của Pháp năm 1804. Nhà lập pháp của Pháp đã sớm ban hành nhiều quy định để bảo vệ quyền lợi các bên trong giao kết hợp đồng, chẳng hạn đối với hợp đồng mua bán sản nghiệp thương mại, đã có nhiều văn bản luật quy định những các điều khoản cần nêu rõ trong hợp đồng.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

 NGUYỄN QUỐC TRƯỞNG – Tòa dân sự, TAND tỉnh Hà Nam

Hợp đồng được ví là luật của các bên trong quan hệ dân sự. Nói đến hợp đồng là nói đến hiệu lực hợp đồng, thực hiện hợp đồng và trách nhiệm pháp lý của các bên khi vi phạm hợp đồng. Trách pháp lý là hậu quả bất lợi đối với chủ thể không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật (khoa học pháp lý gọi là chế tài dân sự, trách nhiệm dân sự); bên vi phạm hợp đồng phải chịu hậu quả bất lợi tương ứng với mức độ hành vi vi phạm đó gây ra. Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật Thương mại (LTM) năm 2005 quy định cụ thể các chế tài áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng, tuy nhiên thực tiễn giải quyết vụ án tranh chấp thương mại có lúc, có nơi nhà thực tiễn chưa nhận thức đúng về trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm hợp đồng làm cho chất lượng giải quyết vụ án chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

Quá trình thực hiện hợp đồng thương mại các bên có thể vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ trong hợp hợp đồng, thì bên vi phạm phải chịu hậu quả do chính hành vi của họ gây ra, hậu quả đó có thể được quy định trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định. Chế tài là các biện pháp bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, bảo vệ lợi ích chính của bên bị vi phạm, chế tài là công cụ để cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp. Đặc điểm của chế tài là có sau khi hợp đồng được giao kết, là hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định “vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung nghĩa vụ”, khoản 12 Điều 3 LTM 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”. Như vậy, các chủ thể phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thương mại, theo đó bên có vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Continue reading

XÁC ĐỊNH HÀNH VI VI PHẠM TRÊN CƠ SỞ BẢN CHẤT PHẢN CẠNH TRANH CỦA HÀNH VI THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CHÂU ÂU

 PHÙNG VĂN THÀNH – Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương

I. Giới thiệu và phân loại hành vi theo Điều 101, TFEU

Điều 101 trong Hiệp ước hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU – Treaty on the Functioning of the European Union) là một trong những điều khoản cơ bản làm nền tảng pháp lý cho pháp luật cạnh tranh hay pháp luật chống độc quyền của Châu Âu. Điều 101 quy định mọi thoả thuận giữa các chủ thể trên thị trường, quyết định của hiệp hội và các hành vi phối hợp khác mà có thể gây ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên và mang tính chất hoặc có tác động ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch bóp méo cạnh tranh trên thị trường chung trong liên minh đều bị cấm bởi không phù hợp với tinh thần và mục tiêu chung của thị trường.

Trước tiên có thể thấy quy định trên đây đã nêu rõ hai dạng hành vi khác nhau dựa trên mức độ cam kết giữa các thành viên tham gia đó là hành vi thoả thuận và hành vi phối hợp. Thoả thuận là trường hợp có sự trao đổi, gặp gỡ và đi đến thống nhất ý chí (meeting of mind) giữa hai hay nhiều chủ thể kinh doanh trên thị trường về một hay một số các yếu tố kinh doanh. Vì vậy, trong trường hợp thoả thuận thường có sự cam kết cao nhất của các thành viên đối với những nội dung đã được thống nhất, ít nhất là về mặt hình thức. Trong nhiều trường hợp các bên tham gia thoả thuận còn đặt ra các hình thức hay biện pháp chế tài để đảm bảo thực hiện các nội dung đã cam kết. Thoả thuận có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau như thoả thuận miệng (trao đổi miệng trực tiếp, điện thoại…) hoặc bằng văn bản (email, thư tín, quyết định cuộc họp, biên bản cuộc họp, biên bản thoả thuận…). Trong trường hợp hành vi phối hợp không có sự thống nhất và tính cam kết cao như thoả thuận. Đây là trường hợp giữa các doanh nghiệp có sự ngầm hiểu với nhau về một vấn đề nào đó và từ đó có thể đưa ra những hành vi kinh doanh mang tính tương đồng.

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: