Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

PHÂN LOẠI NHÃN HIỆU THEO HÌNH THỨC CỦA NHÃN HIỆU

TS. NGUYỄN THỊ QUẾ ANH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việc phân loại nhãn hiệu có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trước hết, phân loại nhãn hiệu cho phép xác định đặc trưng của một loại nhãn hiệu – đặc trưng này không chỉ ảnh hưởng tới yếu tố cảm nhận nhãn hiệu trong người tiêu dùng, tới tính chất của việc sử dụng nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng tới cả quá trình đăng ký nhãn hiệu đó. Ví dụ: trong quá trình đăng ký, những yêu cầu cụ thể khác nhau có thể được đưa ra đối với việc mô tả các dấu hiệu tuỳ thuộc vào hình thức của chúng. Phân loại nhãn hiệu còn ảnh hưởng tới việc xác định chế độ pháp lý đối với từng loại nhãn hiệu cũng như giúp cho việc phân biệt nhãn hiệu với các dấu hiệu dùng để phân biệt khác như kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…

Nhãn hiệu có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: phân loại theo hình thức (nhãn hiệu từ ngữ; nhãn hiệu chữa cái, chữ số; nhãn hiệu hình ảnh; nhãn hiệu hình khối; nhãn hiệu kết hợp; nhãn hiệu đặc biệt như âm thanh, mùi vị, ánh sáng); phân loại theo số lượng chủ thể của nhãn hiệu (nhãn hiệu cá nhân; nhãn hiệu tập thể); phân loại theo mức độ nổi tiếng (nhãn hiệu thường và nhãn hiệu nổi tiếng); phân loại theo tính chất của nhãn hiệu (nhãn hiệu thường, nhãn hiệu chứng nhận; nhãn hiệu liên kết,…). Trong bài viết này tác giả đề cập tới việc phân tích đặc trưng của các loại nhãn hiệu khác nhau dựa trên sự khác biệt về hình thức thể hiện của chúng.

Theo hình thức thể hiện nhãn hiệu có thể ở dạng từ ngữ, chữ cái, chữ số, hình ảnh, hình khối hoặc là sự kết hợp các yếu tố này được thể hiện trên một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu cũng có thể là những dấu hiệu đặc biệt như dấu hiệu âm thanh, mùi vị, ánh sáng.

1. Nhãn hiệu từ ngữ

Continue reading

Advertisements

TẢI DỮ LIỆU TỪ MẠNG INTERNET: NHỮNG THAY ĐỔI TRONG PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VÀ TRONG ÁN LỆ

MARIE-ANNE GALLOT LE LORIER  – Nguyên Thành viên Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư Paris

I. Peer to peer: Phổ biến tác phẩm thông qua phần mềm trên mạng internet

1. Giới thiệu về Peer to Peer

Hàng ngày có hàng nghìn người truy cập vào mạng Internet và trao đổi với nhau hàng trăm triệu thư mục dữ liệu: âm nhạc, phim ảnh, phần mềm và đủ loại tài liệu bằng văn bản.

Hệ thống PEER TO PEER (tạm dịch là: từ máy tính này sang máy tính khác) là một trong những hình thức xâm phạm bản quyền phổ biến nhất trên mạng. Đối với ngành công nghiệp băng đĩa và điện ảnh, thì hoạt động phổ biến dữ liệu này chính là nguyên nhân của mọi khó khăn của họ.

Phần mềm PEER TO PEER sau khi cài đặt trong máy tính sẽ cho phép người sử dụng máy truy cập ngay lập tức vào các tệp dữ liệu ghi trong tất cả các máy tính nối mạng trên thế giới mà không cần phải thông qua máy chủ, với điều kiện các máy tính đó cũng cài phần mềm PEER TO PEER.

Cơ chế trao đổi dữ liệu này đã phát triển với tốc độ chóng mặt, bởi vì công nghệ này cho phép người truy cập Internet có được các tác phẩm thuộc diện bảo hộ một cách miễn phí và không cần sự cho phép của người có quyền đối với tác phẩm.

Chúng ta sẽ cùng xem xét xem các tòa án đã xử lý hiện tượng này như thế nào trước và sau khi ban hành đạo luật mới về quyền tác giả (viết tắt là Luật DADVSI), có hiệu lực từ ngày 01/08/2006. Chúng ta cũng sẽ đề cập đến những nguyên tắc cơ bản ghi nhận trong đạo luật này.

2. Thực tiễn xét xử trước khi ban hành DADVSI

Đối với các hoạt động trao đổi dữ liệu bằng P2P, tòa án có thể xử lý người sử dụng Internet, hoặc xử lý người sản xuất phần mềm P2P.

Continue reading

QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN

Image result for PERFORMERs RIGHTS HOÀNG HOA

Quyền của người biểu diễn là loại hình quyền được hầu hết luật pháp các quốc gia, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận và bảo hộ. Tuy nhiên, tại Việt Nam do tính chất phức tạp của loại hình quyền này, cũng như do nhận thức của các chủ thể có liên quan còn hạn chế nên công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn gặp nhiều khó khăn. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn, các chủ thể liên quan mà trước hết là người biểu diễn cần nắm vững các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn, cũng như lý giải được tại sao pháp luật công nhận quyền của người biểu diễn và điều kiện để buổi biểu diễn được bảo hộ.

Khái niệm người biểu diễn

Một tác phẩm có thể đến với công chúng bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng thông qua người biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác phẩm trở nên sinh động và có sức truyền thụ tới công chúng nhanh nhất. Chính vì vậy, dù các hình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn không ngừng gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển. Người biểu diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá, lưu giữ và phát triển các tác phẩm có giá trị, do đó pháp luật đã công nhận và bảo hộ các quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của mình.

Quy mô và tính chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu diễn. Cuộc biểu diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công độc tấu một bản nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một bộ phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn. Để thực hiện một cuộc biểu diễn lớn như vậy thường cần có sự hợp tác của rất nhiều người nhưng chỉ những người trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và về nguyên tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn[1].

Continue reading

ĐÀM PHÁN VỚI MÃ LỆNH: HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CÒN BỎ NGỎ

VŨ THỊ DIỆU THẢO

Hợp đồng thông minh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng, do đó việc xác định hệ thống pháp luật điều chỉnh hoặc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Xung đột pháp luật – Câu đố chưa có lời giải

Có thể thấy rằng, việc xác định biên giới mạng, phạm vi lãnh thổ quốc gia trên môi trường mạng đang là một câu hỏi hóc búa. Hơn nữa, Hợp đồng thông minh hoạt động thông qua các nút mạng phi tập trung (decentralized node) có thể được phân bổ trên khắp thế giới, do đó, rất khó để xác định luật áp dụng hiện hành và thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này cũng làm tăng rủi ro cho các bên khi giải quyết những tranh chấp phái sinh từ hợp đồng thông minh.

Đứng trước vấn đề trên, một số nhà nghiên cứu luật quốc tế đã đưa ra đề xuất xây dựng một bộ quy tắc riêng để điều chỉnh hợp đồng thông minh. Theo đó, Incochains có thể ra đời, giữ vai trò tương tự như các bản Incotermsđang được sử dụng hiện nay [1].Và trong tương lai không xa, Lex Cryptographia (tương đương với Lex Mercatoria – tập hợp các tập quán thương mại quốc tế dùng giữa các thương nhân) có thể được xây dựng với kỳ vọng là không chỉ là bộ quy tắc điều chỉnh hợp đồng thông minh mà còn có thể điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tự trị phi tập trung (Decentralized Autonomous Organization- DAO)[2].

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/2018/NĐ-CP NGÀY 23/2/2018 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2009 VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ ngày 19 tháng 6 năm 2009;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật sở hữu trí tuệ) về quyền tác giả, quyền liên quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với:

1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.

Continue reading

ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU ĐỂ XÁC ĐỊNH MỨC PHÍ LI-XĂNG TRONG CÁC GIAO DỊCH CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

 HOÀNG LAN PHƯƠNG – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt: Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu) đang là phương thức được sử dụng rộng rãi bởi hiệu quả kinh tế của nó. Khác chuyển quyền sử dụng các tài sản hữu hình, khi li-xăng nhãn hiệu thì trong cùng một thời điểm nhiều chủ thể khác nhau ở các lãnh thổ khác nhau đều có thể sử dụng được loại tài sản vô hình là nhãn hiệu. Tại Việt Nam, giá của nhãn hiệu được li-xăng cũng như phương thức thanh toán phí li-xăng hiện nay rất đa dạng bởi chưa có một quy định pháp luật cụ thể nào để định hướng cho các bên xác định mức phí li-xăng trong các hợp đồng li-xăng nhãn hiệu cho phù hợp. Do là một loại giao dịch dân sự nên việc xác định mức phí li-xăng trong các giao dịch li-xăng nhãn hiệu phụ thuộc vào ý chí của các bên. Do đó, xuất phát thực tiễn, để các bên tham gia thoả thuận li-xăng nhãn hiệu định giá được nhãn hiệu để xác định mức phí li-xăng hợp lý thì cần đòi hỏi năng lực của các bên tham gia thoả thuận và cũng cần có một hệ thống pháp luật quy định cụ thể và rõ ràng hơn về nguyên tắc, phương pháp và tiêu chí về định giá nhãn hiệu trong các giao dịch li-xăng nhãn hiệu.

1. Dẫn nhập

Là một trong các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), nhãn hiệu là đối tượng được các doanh nghiệp chú trọng trong việc bảo hộ và khai thác để tạo ra lợi nhuận. Một trong những phương thức khai thác giá trị kinh tế của nhãn hiệu tỏ ra hiệu quả nhất đó chính là việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Khác với việc chuyển quyền sử dụng các tài sản hữu hình, tại một thời điểm, chủ sở hữu của tài sản hữu hình chỉ có thể chuyển quyền sử dụng tài sản hữu hình đó cho một chủ thể khác thì đối với nhãn hiệu-một đối tượng của quyền SHTT, do đặc tính vô hình của chúng mà trong cùng một thời điểm chủ sở hữu có thể chuyển quyền sử dụng cho nhiều người sử dụng. Như vậy, trong cùng một thời điểm, cả chủ sở hữu và những người được chủ sở hữu cho phép đều có thể sử dụng nhãn hiệu. Ngoài ra, những người được chủ sở hữu cho phép có thể tiếp tục chuyển giao tiếp cho một hoặc những bên thứ ba khác sử dụng nhãn hiệu.

Continue reading

VỀ QUYỀN PHOTOCOPY TÁC PHẨM TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC

THS. NGUYỄN NGỌC LÂM – Đại học Luật TP. HCM

THS. LÊ THỊ NAM GIANG – Đại học Luật TP. HCM

TS. NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC – Đại học Luật TP. HCM

1. Đặt vấn đề

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung, pháp luật quyền tác giả nói riêng là nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội. Một trong những lĩnh vực thể hiện rất rõ chính sách của Nhà nước trong việc thực hiện nguyên tắc này là lĩnh vực sao chép tác phẩm. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của một loạt các điều ước quốc tế đa phương, song phương quan trọng về quyền tác giả như: Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bản ghi âm của họ; Công ước về sự phổ biến các chương trình mang tín hiệu truyền qua vệ tinh; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Hiệp định bản quyền Việt Nam – Thụy Sỹ… Gần đây nhất, ngày 11/01/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chúng ta đã cam kết thực hiện ngay các quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS). Nước ta là một nước đang phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, nhưng nhu cầu về thưởng thức các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (sau đây gọi tắt là tác phẩm), nhu cầu tiếp cận với tri thức của nhân loại là rất lớn, do vậy vấn đề được đặt ra là làm sao chúng ta thực hiện một cách hài hòa nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội để có thể đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu của xã hội mà vẫn bảo vệ được quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thực hiện các cam kết quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực sao chép tác phẩm. Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn làm rõ một số vấn đề trong quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền photocopy tác phẩm phục vụ cho học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong môi trường đào tạo đại học.

2. Các quy định pháp luật về photocopy tác phẩm

Trước tiên cần khẳng định rằng quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền này được bảo hộ cả từ góc độ pháp luật quốc tế, cả từ góc độ pháp luật quốc gia.

Continue reading

THỎA THUẬN BÁN KÈM TRONG HỢP ĐỒNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ DƯỚI GÓC NHÌN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

BÙI THỊ HẰNG NGA Khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh tế – luật, ĐH Quốc gia TPHCM

1. Đặt vấn đề

Dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT), việc đặt ra các quy định về bán kèm đôi khi là quy định cần thiết để quyết định xem bên chuyển giao có chấp nhận chuyển giao hay không chuyển giao các đối tượng SHTT (sở hữu công nghiệp). Bởi lẽ, hành vi bán kèm sẽ giúp đảm bảo chất lượng sản phẩm chính thông qua việc đảm bảo chất lượng của nguyên vật liệu hoặc đảm bảo chất lượng thống nhất của dây chuyền, thiết bị thông qua đảm bảo chất lượng của từng thiết bị trong dây chuyền. Bên cạnh đó, thỏa thuận bán kèm hoặc chuyển giao cả gói cũng giúp cho chủ sở hữu quyền công nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận từ chính các phát minh, sáng tạo của mình. Điều đó giúp họ có động lực tốt hơn trong hoạt động đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo.

Tuy nhiên, dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh thì hành vi bán kèm có thể được xem là hành vi gây hạn chế cạnh tranh bởi (i) nó có thể hạn chế sự lựa chọn của người mua (người nhận chuyển giao) đối với sản phẩm được bán kèm (hay nói cách khác trong trường hợp này họ không có quyền quyết định đối với giá cả và chất lượng của sản phẩm được bán kèm đó); (ii) hành vi này sẽ làm cản trở sự gia nhập thị trường cũng như có thể loại bỏ sự cạnh tranh của các chủ thể đối với thị trường sản phẩm được bán kèm. Bởi vì, lúc này các giao dịch đối với sản phẩm đó không còn được thực hiện trên cơ sở cung cầu.

Rõ ràng với cách tiếp cận khác biệt như trên thì một thỏa thuận bán kèm có thể bị xem là thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh và mặc nhiên sẽ bị ngăn cấm, nhưng đôi lúc thỏa thuận ấy lại là đương nhiên và cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và quyền lợi của người tiêu dùng nói chung dưới góc độ tiếp cận của pháp luật về SHTT. Bởi lẽ, sự hợp tác giữa các nhà kinh doanh là điều tất yếu, cần thiết cho sự ổn định và phát triển của từng doanh nghiệp. Quyền tự do kinh doanh bao hàm trong nó cả quyền được liên kết, hợp tác phát triển. Sự thỏa thuận cho dù có làm giảm cạnh tranh giữa những bên tham gia, nhưng ở giới hạn nào đó nó lại là cơ sở để hình thành những liên kết kinh tế để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, hợp lực để nâng cao sức cạnh tranh trên một thị trường rộng lớn hơn. Những lý lẽ đưa ra để bảo hộ cho các thỏa thuận chủ yếu dựa vào những tác động tích cực của thỏa thuận đối với sự phát triển và đối với thị trường, đó là:

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: