LUẬT BẢN QUYỀN TÁC GIẢ CỦA NHẬT BẢN (Bản dịch trên COV.GOV.VN)

Kết quả hình ảnh cho Copyright Law of JapanPhần 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Chương 1.  Những nguyên tắc căn bản

(Mục đích)

Điều 1. Luật này qui định quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm cũng như cuộc biểu diễn, bản ghi âm, phát sóng hoặc truyền đạt bằng phương tiện hữu tuyến, quan tâm chú ý đến việc sử dụng khai thác các tài sản văn hóa này một cách công bình hợp lý để có thể bảo vệ quyền lợi của tác giả.v.v…nhằm đóng góp vào sự phát triển văn hóa.

(Định nghĩa)

Điều 2. Trong Luật này, thuật ngữ sử dụng trong các điều khoản được giải thích theo các điểm sau đây.

1. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo biểu hiện tư tưởng tình cảm thuộc thể loại văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật hoặc âm nhạc.

2. Tác giả là người sáng tác ra tác phẩm.

3. Biểu diễn là thể hiện một tác phẩm trên sân khấu bằng kịch, múa, hát, diễn tấu âm nhạc, ngâm đọc hoặc bằng các phương pháp trình diễn khác (bao gồm các hành vi tương tự dù không phải là diễn xuất nhưng mang tính chất nghệ thuật giải trí).

4. Người biểu diễn là diễn viên, diễn viên múa, nghệ sĩ trình tấu âm nhạc, ca sĩ, hoặc các loại biểu diễn khác cũng như người điều khiển, đạo diễn của cuộc biểu diễn.

5. Bản ghi âm là vật thể trên đó âm thanh được định hình như đĩa, băng thu âm hoặc các dạng bản ghi khác (không bao gồm các âm thanh được ghi kèm theo các tác phẩm có mục đích sử dụng chủ yếu là hình ảnh).

6. Người sản xuất bản ghi âm là người đầu tiên định hình âm thanh trên bản ghi âm.

7. Bản ghi âm thương mại là các bản ghi âm sao chép được sản xuất với mục đích thương mại.

Continue reading

Advertisements

LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ (Bản dịch trên COV.GOV.VN)

Kết quả hình ảnh cho THE COPYRIGHT LAW OF THE UNITED STATESChương 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT QUYỀN TÁC GIẢ

101. Định nghĩa

102. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quy định chung

103. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm hợp tuyển và phái sinh

104. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quốc gia gốc

104A. Quyền tác giả đối với tác phẩm phục hồi bảo hộ quyền tác giả

105. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm thuộc sở hữu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

106. Các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ

106A. Các quyền của tác giả đối với việc nêu nguồn gốc và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm

107. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các sử dụng hợp lý

108. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: tái bản bởi các viện lưu trữ và thư viện

109. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ảnh hưởng của việc chuyển nhượng các bản sao hoặc các bản ghi

110. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ngoại lệ đối với một số hoạt động trình diễn và trình bày

111. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: phát sóng thứ cấp

112. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các bản ghi thử

113. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả đối với các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc

114. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm âm nhạc

115. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm nhạc kịch: giấy phép bắt buộc đối với việc phân phối và làm bản ghi

116. Giấy phép thoả thuận đối với các hoạt động biểu diễn công cộng thông qua hệ thống máy hát vận hành bằng tiền xu

117. Phạm vi các quyền độc quyền: sử dụng kết hợp với máy tính và hệ thống thông tin tương tự

118. Phạm vi các quyền độc quyền: vấn đề sử dụng một số tác phẩm trong phát sóng phi thương mại

119. Hạn chế các quyền độc quyền: phát sóng thứ cấp từ trạm phát trung tâm hoặc trạm chủ tới các máy thu hình cá nhân đặt tại các gia đình

120. Phạm vi các quyền độc quyền đối với các tác phẩm kiến trúc

121. Giới hạn các quyền độc quyền: tái bản cho người mù hoặc những người tàn tật khác

Điều 101: Định nghĩa

Ngoại trừ các quy định khác

, các thuật ngữ và hình thức thể hiện khác của nó được sử dụng trong Điều luật này được hiểu như sau:

Continue reading

MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN NHƯ QUỲNHPhó Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

Ở các nước phát triển, cơ chế pháp lý bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) liên tục được củng cố và phát triển do nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng cũng như vai trò của NHNT trong hệ thống thương mại quốc tế, tuy nhiên vấn đề này vẫn còn khá mới ở Việt Nam. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả nêu những bất cập và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong bảo hộ và thực thi quyền đối với NHNT ở Việt Nam.

Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã mở ra thời kỳ đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc trong mọi mặt của đời sống, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, sau khi Việt Nam[H1]  thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần (năm 1986) và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1987), nhiều doanh nghiệp đa quốc gia với những NHNT bắt đầu chính thức có mặt ở Việt Nam. Coca-Cola – nhãn hiệu đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng các nhãn hiệu hàng đầu toàn cầu hiện nay[H2] , với giá trị 73,102 triệu USD[1] (được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1960) chính thức thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam từ tháng 8/1995 (Coca-Cola Indochina Pte Company). Toyota – nhãn hiệu đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các nhãn hiệu hàng đầu toàn cầu hiện nay, với giá trị 53,580 triệu USD[2], chính thức thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam từ năm 1997.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập mạnh mẽ, những hàng hoá, dịch vụ gắn NHNT có mặt nhiều hơn trên thị trường Việt Nam. Apple (đứng đầu trong bảng xếp hạng các nhãn hiệu hàng đầu toàn cầu với giá trị 178,119 triệu USD)[3], Google, Microsoft, IBM, Samsung, Nike, BMW, Ikea… dần trở nên quen thuộc với người tiêu dùng nước ta. Đồng thời, với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước, nhiều nhãn hiệu Việt cũng dần chứng minh được uy tín, danh tiếng, sự đảm bảo về chất lượng như Vinamilk, Vinacafe, Petrolimex…

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA HOA KỲ

Kết quả hình ảnh cho disputes over intellectual property  ĐỖ THỊ MINH THÚY – Thanh tra Bộ KH&CN

Trong những năm gần đây, phát triển khoa học và công nghệ được coi là quốc sách ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, vấn đề cốt yết của khoa học và công nghệ là đầu tư, bảo hộ và  khai thác sáng chế lại dường như chưa thực sự được nghiên cứu và có chính sách phù hợp. Trong bài viết này, qua phân tích so sánh quy trình giải quyết tranh chấp sáng chế tại Hoa Kỳ và Việt Nam, tác giả đề xuất một số gợi mở nhằm đảm bảo hài hòa giữa bảo hộ quyền đối với sáng chế và khai thác hợp pháp các giải pháp kỹ thuật đã bộc lộ vì lợi ích cộng đồng và sự phát triển của đất nước.

Mở đầu

Trình độ khoa học công nghệ thể hiện qua việc bảo hộ, thực thi và khai thác quyền đối với sáng chế là tiêu chí cơ bản, là thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia. Các nước phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Nga cũng đồng nghĩa là các cường quốc về sáng chế. Trung Quốc sau một thời gian tụt hậu so với các nước phát triển những năm gần đây cũng đã vươn lên một cách đột biến về số lượng sáng chế được bảo hộ.

Tại Việt Nam, nhiều người cho rằng pháp luật sở hữu trí tuệ, trong đó có các quy định liên quan đến sáng chế đã khá hiện đại, đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội đang đặt ra trong lĩnh vực này ở thời điểm hiện tại, và đang tiệm cận dần với các quy định “chuẩn” quốc tế. Phải chăng quan điểm này là quá lạc quan? Trong bối cảnh Việt Nam đang có rất ít sáng chế “nội”, việc khai thác sáng chế “ngoại” một cách tối đa với chi phí rẻ được xem là con đường ngắn nhất để phát triển đất nước, nâng cao mức sống cộng đồng. Tuy nhiên, nhu cầu này dường như lại mâu thuẫn với quá trình hội nhập. Với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc đang đàm phán ký kết trong thời gian gần đây như Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) và Hiệp định hợp tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), xu thế gia tăng độc quyền của chủ sở hữu sáng chế được ghi nhận rất rõ và đang là thách thức đối với sự phát triển của đất nước. Mặt trái của độc quyền có thể dẫn đến các hệ lụy như hạn chế nhu cầu chính đáng của công chúng được khai thác và sử dụng một cách hợp lý các thành quả của khoa học, đặc biệt trong các lĩnh vực thiết yếu như đảm bảo y tế và chăm sóc sức khỏe con người.

Continue reading

TRÍCH DẪN TÁC PHẨM THẾ NÀO LÀ HỢP LÝ?

Kết quả hình ảnh cho QUOTE OF WORK HOW IS REASONABLE   BÙI KIM TRỌNG

Trích dẫn tác phẩm là một phần của quyền sở hữu trí tuệ, thế nhưng các hoạt động nghiên cứu, kế thừa, sử dụng ý tưởng của tác giả trước đó đều có liên quan đến việc trích cứu hợp lý tác phẩm, nhất là trong thời đại kỹ thuật số, môi trường internet thì mọi thông tin đều có thể truy cập và trích dẫn một cách dễ dàng.

Do đó, việc trích dẫn này như thế nào để đảm bảo không vi phạm các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, không làm sai lệch ý tưởng của tác giả và đúng được ý đồ của người trích dẫn là việc không đơn giản.

1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu đối với sản phẩm trí tuệ được pháp luật bảo hộ. Quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín của các chủ thể, được pháp luật bảo hộ [1].
2. Khái niệm quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu[2].
3. Khái niệm trích dẫn hợp lý tác phẩm

Là sự tái tạo chính xác một đoạn văn bản mà không có sửa chữa gì, phân biệt với đoạn văn bản xung quanh bằng dấu trích dẫn hoặc các yếu tố định dạng, dựa theo một nguồn đáng tin cậy[3].
Trích dẫn tài liệu là phương pháp được chuẩn hóa trong việc ghi nhận những nguồn tin và ý tưởng mà người viết đã sử dụng trong bài viết của mình trong đó người đọc có thể xác định rõ từng tài liệu được trích dẫn, tham khảo. Các trích dẫn nguyên văn, các số liệu và thực tế, cũng như các ý tưởng và lý thuyết lấy từ các nguồn đã được xuất bản hoặc chưa được xuất bản đều cần phải được trích dẫn[4]

Continue reading

VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT, HƯỚNG DẪN THI HÀNH

Kết quả hình ảnh cho intellectual property rights in the information technology THS. QUẢN TUẤN AN – CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ, BỘ VHTTDL

Theo Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg ngày 31.12.2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan, bài nghiên cứu này phục vụ cho công tác soạn thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ Internet, viễn thông và các dịch vụ trung gian khác liên quan đến bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan[1] trong môi trường kỹ thuật số và Internet.

1. Cơ sở pháp lý áp dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn việc truy nhập hoặc loại bỏ thông tin trái pháp luật vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan:

Luật Công nghệ thông tin đặt ra quy định mang tính nguyên tắc về quản lý và sử dụng thông tin số[2], theo đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm việc truy nhập và sử dụng thuận lợi thông tin số. Tổ chức, cá nhân có quyền tự do sử dụng thông tin số vào mục đích chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Việc cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số phải bảo đảm không vi phạm quy định về nội dung thông tin số và các quy định pháp luật khác có liên quan, được liệt kê về các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm các hành vi “xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động công nghệ thông tin; sản xuất, lưu hành sản phẩm công nghệ thông tin trái pháp luật”[3]. Trích dẫn thông tin số, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nêu rõ nguồn của thông tin đó, không được trích dẫn nội dung thông tin số của tổ chức, cá nhân khác trong trường hợp chủ sở hữu thông tin số đã có cảnh báo hoặc pháp luật quy định việc trích dẫn thông tin là không được phép.[4]

Luật Công nghệ thông tin cũng quy định ngoại lệ về truyền đưa thông tin số của tổ chức cá nhân khác mà không phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin được lữu trữ tự động, trung gian, tạm thời do yêu cầu kỹ thuật nếu hoạt động lưu trữ tạm thời nhằm mục đích phục vụ cho việc truyền đưa thông tin và thông tin được lưu trữ trong khoảng thời gian đủ để thực hiện việc truyền đưa. Đồng thời, tổ chức, cá nhân truyền đưa thông tin số có trách nhiệm tiến hành kịp thời các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc truy nhập thông tin hoặc loại bỏ thông tin trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoại lệ này là phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ, kể cả trong trường hợp tạo ra bản sao tạm thời để phục vụ công tác truyền đưa thông tin do cá nhân, tổ chức thực hiện bằng các phương tiện, thiết bị của mình[5].

Continue reading

PHẠM VI BẢO HỘ NHÃN HIỆU ĐEN – TRẮNG VÀ NHÃN HIỆU MÀU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho BRANDVH.

Một số nhận định chung

Theo quy định về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới, một nhãn hiệu có thể xin đăng ký bảo hộ ở dạng đen-trắng, dạng màu hoặc cả đen-trắng lẫn màu sắc.

Tuy nhiên, các câu hỏi thường được đặt ra là: i) Phạm vi bảo hộ của một nhãn hiệu đen-trắng hoặc một nhãn hiệu trong dạng màu sắc đạt đến mức độ nào, nhãn hiệu nào được bảo hộ mạnh hơn? ii) Mối quan hệ như thế nào giữa một nhãn hiệu đen-trắng với cùng nhãn hiệu đó nhưng được thể hiện ở dạng màu sắc?

Các câu hỏi trên không dễ trả lời một cách chung nhất bởi lẽ không phải luật pháp sở hữu trí tuệ của quốc gia nào cũng có quy định cụ thể về phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu đen-trắng và nhãn hiệu màu, thêm nữa không phải các quy định liên quan đến vấn đề trên cũng giống nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, thông qua quy định luật pháp và thực tiễn áp dụng có thể phân ra hai cách tiếp cận chính của các nước trong việc bảo hộ nhãn hiệu đen-trắng và nhãn hiệu màu.

Cách tiếp cận thứ nhất: Phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu phụ thuôc chặt chẽ vào mẫu nhãn hiệu đã đăng ký, nhãn hiệu đăng ký thế nào sẽ được bảo hộ đúng như vậy. Do đó, chủ một nhãn hiệu đen-trắng không thể tự ý sử dụng nhãn hiệu đó dưới các dạng màu tùy ý, hay nói một cách khác là việc sử dụng như vậy không thuộc quyền được bảo hộ của chủ nhãn hiệu.

Cách tiếp cận thứ hai linh hoạt hơn: Một nhãn hiệu được đăng ký ở dạng đen-trắng thì có nghĩa nội dung (hình/chữ) của nó đã đươc bảo hộ,vì vậy nhãn hiệu có thể được sử dụng ở các màu khác với đen-trắng miễn là các hình/chữ của nó vẫn được giữ nguyên còn màu sắc sử dụng không phải là thành phần phân biệt của nhãn hiệu. Nếu màu sắc lại là thành phần tự thân đóng góp vào tính phân biệt của nhãn hiệu thì nhất thiết nhãn hiệu phải được đăng ký ở dạng màu sắc để đạt đươc sự bảo hộ hiệu quả nhất.

Continue reading

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ: NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM ÁP DỤNG LUẬT HADOPI CỦA CỘNG HÒA PHÁP

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TPHCM

Mở đầu

Quyền tác giả được luật pháp ghi nhận và bảo vệ. Đó là quyền dành cho các tác giả sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học. Cụ thể quyền này dành cho các nhà văn, nhạc sĩ, nhà xuất bản… sản xuất và xuất bản các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật… Quyền tác giả bao gồm hai nội dung: quyền tài sản và quyền tinh thần. Trong đó, quyền tài sản cho phép tác giả hoặc người nắm giữ quyền được sản xuất, công bố tác phẩm của mình và khai thác các lợi ích tài chính trong một thời hạn nhất định cho đến khi tác phẩm rơi vào lĩnh vực công cộng.

Với tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, sự xuất hiện của Internet đã hình thành một môi trường đặc biệt – môi trường kỹ thuật số – làm cho việc bảo hộ quyền tác giả khó khăn và phức tạp hơn. Môi trường kỹ thuật số giúp cho việc sao chép, tải về máy cá nhân một cách bất hợp pháp dễ dàng hơn, vì vậy gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả nhiều hơn. Pháp luật Việt Nam về vấn đề này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện. Việc nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia khác về Quyền tác giả và Internet – môi trường kỹ thuật số (1) – cho phép có một cái nhìn tổng quát hơn về các chế định cũng như các biện pháp để tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh mới. Bài viết này sẽ trình bày một số kinh nghiệm lập pháp, bối cảnh lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật (2) của một số quốc gia trên thế giới.

1. Quyền tác giả và xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

a. Tác phẩm kỹ thuật số trong môi trường mạng Internet

Tác động của Internet đối với quyền tác giả có thể tích cực cũng có thể không, tùy theo lập trường của người quan sát. Bởi vì, một cách tổng quát, ở góc độ là phương tiện truyền thông, Internet là một phương tiện hiện đại tiếp nhận các sáng tạo tinh thần; ở góc độ là một công nghệ, Internet là môi trường lý tưởng để đưa tác phẩm tiếp cận với công chúng nhanh chóng và đông đảo nhất. Có thể thấy tác động của môi trường kỹ thuật số qua ba hình thức tương đối phổ biến: nhân bản không giới hạn tác phẩm; sửa đổi, cắt xén tác phẩm theo ý chí riêng; và tải về để lưu trữ trên máy tính cá nhân. Làm rõ khái niệm “tác phẩm kỹ thuật số” (1) cho phép xác định phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm này chống lại sự xâm phạm quyền trong môi trường Internet (2) trên cơ sở hiểu biết rõ ràng hơn về một số phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho phép tiến hành các hành vi có nguy cơ gây tổn hại đến quyền tác giả (3).

Continue reading

BÚN BÒ HUẾ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NHÃN HIỆU!


Logo của mẫu nhãn hiệu chứng nhận được in trong quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế”
TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Giảng viên Trường Đại học Luật TP HCM

Bất kỳ người thứ ba nào có lợi ích liên quan, chẳng hạn như các cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bún bò Huế trên cả nước, đều có quyền nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu Trí tuệ không cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định hủy bỏ “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Bún bò Huế”

Tiếp theo việc UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế ban hành “Quy chế quản lý và sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Bún bò Huế” theo Quyết định số 1623/QĐ-UBND ngày 13-7- 2016, dư luận cho rằng việc dùng Bún bò Huế như nhãn hiệu chứng nhận có thể sẽ hạn chế quyền của những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bán bún bò Huế. Cũng có ý kiến cho rằng việc đăng ký bảo hộ và sử dụng thuật ngữ “Bún bò Huế” như nhãn hiệu là không phù hợp quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Căn cứ pháp lý nào cho phép đưa ra kết luận này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Nhãn hiệu hàng hóa một loại tài sản đặc biệt: tài sản trí tuệ. Đây là một khái niệm tương đối mới, xuất hiện chính thức và được pháp luật công nhn trước đây chưa lâu trong pháp luật dân sự và từ năm 2005 khi Quốc hội thông qua Luật Sở hữu Trí tuệ (Luật SHTT). Trong phạm vi bài viết này cần xác định lại khái niệm cơ bản về nhãn hiệu và nhãn hiệu chứng nhận, cũng như xem xét mục đích sử dụng của loại nhãn hiệu này trước khi bàn về tính chính danh của nhãn hiệu chứng nhận “Bún bò Huế” và quyền được sử dụng thuật ngữ “bún bò Huế” của những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống có bún bò Huế.

Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam quy định “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Như vậy, chức năng chính của nhãn hiệu là để phân biệt. Cần thấy rằng mục đích của việc gán nhãn hiệu lên hàng hóa hay dịch vụ chính là để “trung thành hóa” khách hàng, có nghĩa là để khách hàng đã sử dụng sẽ dễ dàng tìm lại mặt hàng hay dịch vụ mình yêu thích hoặc hài lòng và để khách hàng tiềm năng dễ dàng nhận ra hàng hóa hay dịch vụ đó khi muốn tìm đến để sử dụng. Nhãn hiệu không có chức năng bảo đảm về chất lượng hàng hóa.

Continue reading

KHẮC PHỤC MỘT SỐ RÀO CẢN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ MÀ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SẼ GẶP KHI TPP ĐƯỢC VẬN HÀNH

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Vào năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của WTO, tổ chức này hiện có tới 162 thành viên[1], vì vậy một trong những nhược điểm của nó là sự khó khăn để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì thuộc lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó có SHTT. Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt là TPP) khắc phục được nhược điểm này của WTO.

Có 12 nước tham gia đàm phán TPP gồm 4 quốc gia sáng lập là Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, sau đó (xếp theo thứ tự thời gian tham gia) là Hoa Kỳ, Australia, Peru, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản.

Ngày 05.10.2015 các nước tham gia đàm phán TPP ký văn bản cuối cùng, TPP là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mua sắm công, doanh nghiệp nhà nước, thương mại và lao động, thương mại và môi trường, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ (SHTT),…

Để hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống pháp luật về SHTT, được đánh giá là tương đối tương thích với pháp luật về SHTT của một số quốc gia tiên tiến, nhưng tình trạng xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam vẫn không hề giảm mà đang có xu hướng gia tăng. Bài viết không dẫn chứng những đánh giá của các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam về tình trạng xâm phạm quyền SHTT, xin được phép dẫn nguồn từ Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Trong Báo cáo đặc biệt số 301 trong 2 năm liên tiếp (2014 và 2015), Văn phòng Bộ Thương mại Hoa Kỳ (Office of the United States Trade Representative – USTR) đã xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia đứng đầu thế giới cần ưu tiên theo dõi (Priority Watch List) về tình trạng xâm phạm quyền SHTT.[2]

Như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đã và sẽ gặp những khó khăn về SHTT trong giao dịch thương mại quốc tế, mà trước hết là trong giao dịch thương mại với các quốc gia TPP, khi hiệp định này được vận hành trong thời ngắn trước mắt.

Continue reading

VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SÁNG KIẾN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI

TS. NGUYỄN VÂN ANHSở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

NGUYỄN HỒNG HÀ – Vụ phát triển KH&CN địa phương, Bộ KH&CN

ĐÀM QUANG – Sở KH&CN Thanh Hóa

Sáng kiến là kết quả của hoạt động sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) nói riêng. Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp lý nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, tăng cường phạm vi triển khai áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn một số nội dung chưa phù hợp, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các cá nhân, tổ chức liên quan. Bài viết phân tích những nội dung này, với mục đích góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý về sáng kiến để phát huy hơn nữa hoạt động này tại các cơ quan, đơn vị.

Một số quy định về sáng kiến

Sáng kiến là một trong những kết quả của hoạt động KH&CN. Theo Từ điển tiếng Việt, “Sáng kiến (Initiative) là ý kiến mới, có tác dụng làm cho công việc tiến hành tốt hơn” [5]. Để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong sản xuất, ngay từ đầu những thập niên 80 của thế kỷ trước, Nhà nước đã ban hành Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế, trong đó sáng kiến được hiểu: Sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hoá sản xuất được công nhận theo Điều lệ này là một giải pháp kỹ thuật hoặc giải pháp tổ chức sản xuất mới, có khả năng áp dụng và mang lại lợi ích thiết thực cho cơ quan, đơn vị (kể cả đơn vị kinh tế tập thể) nhận đăng ký” (Điều 1, Điều lệ về sáng kiến, Nghị định 31 [7]).

Nội dung của sáng kiến được Nghị định 31 [7] quy định là: “Cải tiến kết cấu máy móc, trang bị, công cụ lao động, sản phẩm, cải tiến phương án thiết kế hoặc kết cấu các công trình xây dựng; Cải tiến tính năng, công dụng, thành phần của nguyên liệu, vật liệu hoặc sản phẩm; Cải tiến phương pháp khảo sát, thiết kế, công nghệ, thi công, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi; phương pháp phòng bệnh, chữa bệnh; Cải tiến tổ chức sản xuất nhằm sử dụng hợp lý sức lao động, công cụ lao động, nguyên liệu, vật liệu, năng lượng, tiền vốn…”. Như vậy, mọi hoạt động nêu trên đều thuộc lĩnh vực kỹ thuật. Theo Nghị định 31 [7], tác giả sáng kiến được hưởng quyền lợi như sau: “1. Các cơ quan, đơn vị Nhà nước, các đơn vị kinh tế tập thể khi áp dụng sáng kiến và thu lợi, có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả; 2. Mức thù lao cho tác giả sáng kiến được tính trong năm áp dụng đầu tiên và không thấp hơn 5% số tiền làm lợi thu được trong năm đó” (Điều 40, Nghị định 31). Tại thời điểm ban hành, Nghị định 31 được coi là bước đột phá, kích thích việc không ngừng đổi mới sáng tạo đối với người lao động. Nhờ đó hình thành nên phong trào sáng kiến trong sản xuất diễn ra trong các nhà máy, xí nghiệp. Từ đó, họat động sáng kiến trở thành tiêu chí chung trong phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt trong hoạt động của tổ chức công đoàn.

Continue reading

%d bloggers like this: