BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.(2)

1. Dẫn nhập

Việc kế thừa các tác phẩm đã tồn tại, các nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học là một trong các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của tài sản trí tuệ. Tác phẩm phái sinh là một trong các dạng tác phẩm thực hiện việc kế thừa vừa nêu và là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Khoản 3 điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sau đây viết tắt là Công ước Berne) đã quy định: “Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển nhạc và các chuyển thể khác từ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc, miễn không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc”.

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có liên quan đến việc bảo hộ tác phẩm gốc, để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả thì điều kiện tiên quyết là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Nhưng như thế nào là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc? Đây là một vấn đề phức tạp vì ranh giới giữa việc sáng tạo ra tác phẩm phái sinh với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc, ranh giới giữa việc sử dụng tự do tác phẩm với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc… trong nhiều trường hợp là khó xác định. Sau nữa, do sự phát triển của trình độ khoa học và công nghệ, mối quan hệ giữa tác phẩm phái sinh với một số loại hình tác phẩm khác, ví dụ chương trình máy tính đã không được Công ước Berne điều chỉnh, đồng thời pháp luật về quyền tác giả của một số quốc gia (trong đó có Việt Nam) cũng chưa đề cập.

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, nhưng việc nghiên cứu các quy định về bảo hộ tác phẩm phái sinh chưa được chú trọng đúng mức ở Việt Nam[3]. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để bảo hộ tác phẩm phái sinh, góp phần đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với việc bảo hộ tác phẩm phái sinh là cần thiết.

2. Khái niệm, đặc điểm của tác phẩm phái sinh

2.1. Đặc điểm của tác phẩm phái sinh

Tác phẩm phái sinh có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tác phẩm phái sinh chỉ được hình thành trên cơ sở một/những tác phẩm đã tồn tại. Tác phẩm đã tồn tại có thể còn thời hạn hoặc hết thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản[4]. Quyền cho làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tc phẩm, quyền này được quy định tại điểm a khoản 1 điều 20 Luật SHTT. Do đó, có thể tồn tại hai tình huống :

Continue reading

Advertisements

BÀN VỀ THUẬT NGỮ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC”, “THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ” VÀ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ”

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

ĐÀM QUANG – Sở KH&CN Thanh Hoá

Thời gian qua, thuật ngữ “thị trường khoa học”, “thị trường công nghệ” và “thị trường khoa học và công nghệ – KH&CN” đã được nhiều tác giả trong nước đề cập, nhưng chưa đi đến thống nhất. Trong khi đó, việc xác định sự tồn tại của các thị trường này lại liên quan mật thiết với việc đề ra chiến lược phát triển hàng hoá liên quan. Vì vậy, chủ đề này được các tác giả bài viết tiếp tục bàn luận nhằm đi đến thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ nêu trên.

Để làm sáng tỏ các thuật ngữ “thị trường khoa học”, “thị trường công nghệ” và “thị trường KH&CN”, tác giả đi theo các hướng sau: (1) Làm rõ khái niệm thị trường; (2) Làm rõ khái niệm hàng hóa và các thuộc tính của hàng hóa; (3) Làm rõ khái niệm “khoa học”, “công nghệ”, “KH&CN” và việc có tồn tại hay không thị trường của các đối tượng này. Từ đó rút ra kết luận về việc sử dụng các thuật ngữ nêu trên.

Khái niệm thị trường

Hiện nay, khái niệm thị trường có rất nhiều cách tiếp cận, quan điểm khác nhau. Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Quang Tuấn [1] đã tổng hợp và phân chia thành 3 nhóm như sau:

– Nhóm thứ nhất, đó là cách diễn đạt thị trường như là phương tiện phân bố các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cách hiểu về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững. Ở đó sự quan tâm là vấn đề phân bố hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững.

– Nhóm thứ hai, thị trường được hiểu là nơi mà những người mua và người bán tiến hành giao dịch. Đây cũng chính là cách hiểu về thị trường tương đối phổ biến ở trong nước và trên thế giới. “Nơi” ở đây không nhất thiết phải là địa điểm có tọa độ địa lý. Mạng Internet và các sàn giao dịch trực tuyến (online), giúp cho người mua và người bán thực hiện các giao dịch mà không nhất thiết phải gặp mặt nhau cũng là thị trường. Các diễn giải về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về phát triển hệ thống, mạng lưới dịch vụ và thương mại của từng quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể.

Continue reading

THUẬT NGỮ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ”, “THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ” TIẾP CẬN TỪ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hiện nay, thuật ngữ “thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN)” và thuật ngữ “thị trường công nghệ” được các tác giả sử dụng khác nhau, thậm chí trong cùng một văn bản dùng đồng thời cả hai thuật ngữ này. Dưới góc độ pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), tác giả cho rằng: khoa học không thể trở thành hàng hóa, do đó không tồn tại thị trường khoa học, và tất nhiên không tồn tại thị trường KH&CN…

Dẫn nhập

Thuật ngữ “thị trường KH&CN”, “thị trường công nghệ” hiện đang được dùng trong các văn bản quản lý nhà nước về KH&CN, cũng như trong các nghiên cứu về KH&CN, có thể điểm qua như sau:

– Văn bản quản lý nhà nước về KH&CN:

Mục II. Tạo lập thị trường KH&CN, trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về KH&CN (ban hành kèm theo Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31.12.2002 của Thủ tướng Chính phủ), có ghi:

“1. Hoàn thiện và xây dựng mới các cơ chế, chính sách để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN;…

3. Hình thành các tổ chức quản lý và hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ”[1].

– Các nghiên cứu về KH&CN:

+ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Phát triển thị trường KH&CN: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam.

+ Hoàng Thúy (2007), Các giải pháp thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển, Tạp chí Công nghiệp, 7.2007, tr. 14-15.

+ Hoàng Xuân Long (2007), Tăng cường quản lý thị trường công nghệ ở địa phương, Tạp chí Công nghiệp, 8.2007, tr. 14-15.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT NHẬT BẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

LÊ THỊ HOÀNG THANH & TRƯƠNG HÔNG QUANG – Nghiên cứu viên, Ban NCPL Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp

I. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

1. Cơ sở pháp lý

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có lịch sử khá lâu đời ở Nhật Bản, văn bản đầu tiên về quyền tác giả ở Nhật Bản là Sắc lệnh về xuất bản, Shuppan Jorei, được ban hành năm 1869, bảo hộ việc xuất bản sách[1], Sắc lệnh này được sửa đổi vào năm 1875. Năm 1876, Sắc lệnh về hình ảnh đã được ban hành.

Đạo luật đầu tiên về quyền tác giả được ban hành vào năm 1899. Văn bản luật này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của Công ước Berne để đáp ứng cho việc Nhật Bản gia nhập công ước này. Đạo luật này có hiệu lực cho đến khi được thay thế bởi Luật quyền tác giả, Luật số 48 năm 1970. Luật Quyền tác giả được sửa đổi vào các năm 1984, 1985, 1988, 1989, 1992. Và vào năm 1994, Luật quyền tác giả được sửa đổi nhằm đảm bảo thực thi Hiệp định TRIPs. Luật Quyền tác giả được sửa đổi lần cuối cùng vào năm 2004 (Luật số 92 năm 2004).

Nhật Bản gia nhập Công ước Brussels năm 1948 và Công ước Paris năm 1971 và công ước Berne năm 1974. Đến năm 1978 Nhật Bản gia nhập Công ước Bảo hộ ghi âm- còn gọi là Công ước Geneva. Năm 1989, Nhật Bản chấp nhận gia nhập Công ước Rome về quyền kế cận.

Luật quyền tác giả Nhật Bản phân biệt khá rõ quyền tinh thần và quyền kinh tế (Điều 17.1 Luật Quyền tác giả). Cả hai quyền nay để đều đương nhiên được bảo hộ. Việc đăng ký không phải là để xác lập quyền tác giả mà có ý nghĩa củng cố quyền tác giả. Khi có tranh chấp tại Toà án, người đăng ký bản quyền sẽ có lợi. Thông thường khi có tranh chấp trách nhiệm chứng minh thuộc về nguyên đơn, nếu có đăng ký rồi thì nguyên đơn không phải chứng minh nữa mà bị đơn có trách nhiệm chứng minh (Điều 75, Điều 76, Điều 77 Luật quyền tác giả). Một khi đã xác lập quyền, người sở hữu quyền tác giả không cần phải chứng minh quyền tinh thần và quyền kinh tế trước toà, có thể hành động phù hợp với những hành vi có nguy cơ đe doạ quyền. Chủ sở hữu quyền có thể kiện ra tòa yêu cầu tòa bảo hộ quyền tinh thần và quyền kinh tế. Tòa án sẽ ra lệnh tiêu hủy các sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng như các công cụ để sản xuất các sản phẩm vi phạm và áp dụng các biện pháp khác. Chủ sở hữu quyền còn có thể tìm sự trợ giúp từ phía Cục Văn hóa, cơ quan có quyền trung gian hòa giảI trong các vụ việc về quyền tác giả (Điều 105 (1), Luật quyền tác giả). Tuy nhiên hội đồng hòa giải chỉ đưa ra ý kiến chứ không đưa ra quyết định mang tính bắt buộc.

Continue reading

BẢO HỘ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ DOANH NGHIỆP CẦN BIẾT

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu; NGUYỄN BẢO HÙNG – Bộ KH&CN; LÊ VŨ TOÀN – Trường quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Một trong những giải pháp của doanh nghiệp đối phó với tình trạng khủng hoảng kinh tế hiện nay là đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, việc bảo hộ công nghệ(1) – một loại hình vũ khí cạnh tranh đặc biệt lại chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Nội dung này sẽ được các tác giả nêu ra để bạn đọc cùng trao đổi, rút ra những kinh nghiệm thiết thực đối với các tình huống cụ thể khi tham gia các giao dịch liên quan.

Công nghệ và bảo hộ công nghệ

Công nghệ là loại hình hàng hóa đặc biệt, được các quốc gia trên thế giới khuyến khích phát triển và bảo hộ độc quyền khi thỏa mãn những điều kiện nhất định. Theo Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN)(2), thì: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

Bảo hộ công nghệ: hiện nay chưa có bất cứ tài liệu nào ở trong nước đề cập tổng quan đến vấn đề bảo hộ công nghệ. Theo Đại từ điển tiếng Việt(3), thì bảo hộ có nghĩa là “bảo vệ, che chở, bênh vực không để tổn thất thiệt hại”. Do vậy bảo hộ công nghệ có thể được hiểu “Là việc thực hiện các hình thức bảo vệ đối với đối tượng công nghệ và các chủ thể liên quan không để tổn thất thiệt hại”.

Công nghệ được bảo hộ trước hết là sự tự bảo vệ của chủ sở hữu và các bên liên quan ngoài ra còn dựa vào hệ thống pháp luật nhà nước, như việc định ra và áp dụng các chế tài pháp lý để ngăn chặn hoặc xử lý hành vi xâm phạm. Hệ thống pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia phù hợp nhất cho bảo hộ các đối tượng công nghệ là pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) với bản chất là đưa ra các hình thức bảo hộ cho các đối tượng công nghệ khác nhau nhằm bảo hộ độc quyền cho chủ sở hữu công nghệ. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về CGCN, thương mại, cạnh tranh, … cũng có một số chế tài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch.

Các chủ thể liên quan trực tiếp đến việc hình thành và tham gia các giao dịch gắn với đối tượng công nghệ thường bao gồm: chủ sở hữu công nghệ, tác giả, bên mua công nghệ. Đồng thời, việc mua bán công nghệ thực chất là mua quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ (Li xăng). Do vậy, bài viết tập trung vào các vấn đề sau: (1) Các hình thức pháp lý bảo hộ đối tượng công nghệ; (2) Xác định quyền của các chủ thể có liên quan; (3)Các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền của chủ sở hữu và bên mua công nghệ trong giao dịch, mua bán công nghệ; (4) Kết luận về các vấn đề nêu trên.

Continue reading

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – HIỆP ĐỊNH TRIPS, TRIPS CỘNG VÀ ACTA

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN –  Giảng viên khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sau 10 năm miệt mài đàm phán và thuyết phục cũng như liên tục chấn chỉnh hệ thống pháp luật quốc gia là một thành công của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Nhưng đó chỉ là điểm khởi đầu, để thực sự hưởng lợi từ các quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế Việt Nam còn phải tiếp tục và luôn luôn thực hiện những cam kết của mình trong nhiều lĩnh vực. Trong đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một trong những cam kết quan trọng không thể xem nhẹ.

Trong quá trình chuẩn bị gia nhập chính thức vào WTO, Việt Nam đã có những điều chỉnh lập pháp quan trọng. Ngoài ra, để gia nhập WTO, Việt Nam còn phải tiến hành hàng loạt các thay đổi về chính sách và pháp luật để tuân thủ các nguyên tắc và quy định của tổ chức này. Năm năm sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã và vẫn đang tiếp tục củng cố hệ thống pháp luật để thực thi ngày càng tốt hơn.

Hiểu một cách đúng đắn về một hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh trong khuôn khổ những cam kết với tư cách thành viên của Hiệp định TRIPS (1) và thấy được những thách thức khi thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực này (2) giúp Việt Nam dễ dàng có những bước chuẩn bị tốt trước những đòi hỏi bảo hộ SHTT ngày càng cao hơn trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới (3).

1 – Hệ thống SHTT và ý nghĩa của việc trở thành thành viên Hiệp định TRIPS

1.1 Sự cần thiết phải có một hệ thống SHTT

Hệ thống SHTT được hiểu là tập hợp các quyền SHTT và các chính sách bảo hộ quyền SHTT. Hệ thống SHTT mang tính quốc gia vì nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội riêng biệt của từng quốc gia. Chính các điều kiện này bao gồm các chính sách, cơ sở hạ tầng và đặc biệt nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với một hệ thống SHTT mạnh. Bên cạnh đó, một chính sách tốt phải đưa ra được các tiêu chuẩn xác lập quyền của chủ sở hữu quyền. Nói cách khác, chính sách này phải xác định phạm vi được bảo hộ của các đối tượng của quyền SHTT. Sự giới hạn quyền SHTT hợp lý cho phép hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân bảo đảm công bằng xã hội. Muốn đạt được điều đó trong các chính sách quốc gia về SHTT không thể thiếu những chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ LỢI ÍCH DOANH NGHIỆP THU ĐƯỢC TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÔNG NGHỆ

Trade & EconomyNGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 9.2009 đã đăng tải bài viết “Một số bàn luận về lợi ích của doanh nghiệp từ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ” với nội dung đề cập tới trường hợp một số cơ quan, ban/ngành tỉnh B tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định bổ sung 5,5 tỷ đồng với tên gọi “giá trị tài sản của sáng chế” vào mục “chi phí khác” của một dự án đầu tư, khi doanh nghiệp này áp dụng công nghệ của mình nghiên cứu, mang lại hiệu quả hơn so với công nghệ trước đó.

Sau khi bài viết được đăng tải, đầu năm 2010, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh này đã tổ chức lấy lại ý kiến tham khảo của các ban/ngành và đã đề xuất UBND tỉnh B rút lại quyết định bổ sung 5,5 tỷ đồng cho doanh nghiệp T. Ngay sau khi văn bản mới được UBND tỉnh ban hành, trong công văn kiến nghị với các cơ quan chức năng, doanh nghiệp T đã khẳng định việc sử dụng công nghệ mới trong quá trình thi công là “không có góp vốn, không có chuyển giao công nghệ nên không có nội dung chi phí này là đúng”, nhưng doanh nghiệp T còn đang thắc mắc: “Vậy doanh nghiệp lấy tiền từ đâu để trả cho tác giả sáng chế?”. Thiết nghĩ, do đây là vấn đề tương đối mới mẻ với nhiều doanh nghiệp nên cần phải đưa ra bàn luận cho thấu đáo, làm cơ sở rút kinh nghiệm cho các địa phương khác, các công nghệ khác để giải quyết các trường hợp tương tự. Bài viết sau đây, tác giả sẽ bổ sung đôi điều về vấn đề đó.

Trước hết phải khẳng định rằng, công nghệ F, F1 (sau đây gọi chung là công nghệ F) về giải pháp ngăn mùi của hệ thống thoát nước đô thị của doanh nghiệp T là một công nghệ mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường. Trong thời gian qua, doanh nghiệp T cũng giành nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế về sáng tạo KH&CN, nhiều địa phương khác trong cả nước đã triển khai áp dụng công nghệ F. Doanh nghiệp T đã được Sở KH&CN tỉnh B cấp giấy chứng nhận là “doanh nghiệp KH&CN”. Tác giả của sáng chế là người thuộc doanh nghiệp T. Chủ sở hữu sáng chế là doanh nghiệp T.

Với công nghệ F, doanh nghiệp T được UBND tỉnh B giao làm chủ đầu tư và trực tiếp thi công công trình có sử dụng công nghệ F mà không phải thông qua phương thức đấu thầu theo Luật Đấu thầu và công trình được sử dụng hoàn toàn nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Continue reading

VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƯƠNG

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu; VÕ NGỌC ANH – Sở KH&CN Bình Định; KHUẤT DUY VĨNH LONG – Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh; HÀ HUY BẮC – Sở KH&CN Vĩnh Phúc; LÊ VŨ TOÀN – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Trên thế giới, mô hình quỹ phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) đã được hình thành từ lâu: Quỹ khoa học quốc gia được thành lập ở Mỹ năm 1950, Thụy Sỹ năm 1952, các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ cũng thành lập quỹ này từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tại Việt Nam, các loại hình quỹ phát triển KH&CN đã được đề cập trong Luật KH&CN năm 2000, Trong đó việc thành lập Quỹ được hình thành ở cấp quốc gia; tỉnh/thành phố; bộ/ngành; tổ chức và cá nhân nhằm mục đích đa dạng hoá nguồn đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN. Bài viết dưới đây đánh giá sơ bộ về thực trạng hoạt động của các quỹ phát triển KH&CN do các tỉnh/thành phố thành lập, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ này.

Sau khi Luật KH&CN có hiệu lực, tính đến nay, cả nước đã hình thành được 36 tổ chức quỹ phát triển KH&CN. Trong đó, ở cấp quốc gia là Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED), ở địa phương có 16 quỹ, trường đại học có 1 quỹ, khối doanh nghiệp có 18 quỹ. Đối với 16 quỹ ở các tỉnh/thành phố (quỹ địa phương), đã có 11 quỹ đi vào hoạt động, đó là tại các tỉnh/thành phố: Hải Dương, Thanh Hóa, TP Hồ Chí Minh, Bình Định, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Quảng Trị, Bình Dương, Nghệ An, Thái Bình, Hòa Bình; 5 quỹ đã thành lập nhưng chưa hoạt động, ở các tỉnh: Đồng Nai, Bạc Liêu, Đà Nẵng, Bình Phước, Quảng Ngãi. Hầu hết các quỹ được thành lập và đi vào hoạt động trong vòng 1-3 năm trở lại đây. Quỹ hình thành đi vào hoạt động sớm nhất cả nước là Nghệ An (2004).

Các quỹ địa phương hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu, không vì mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và các ngân hàng. Các quỹ địa phương là các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh/thành phố. Vốn được cấp khi thành lập ban đầu của các quỹ không lớn, cao nhất là Quỹ Phát triển KH&CN TP Hồ Chí Minh (50 tỷ đồng), còn lại từ trên 1 tỷ đến 10 tỷ đồng, được hình thành từ ngân sách sự nghiệp khoa học, bổ sung từ kinh phí thu hồi của các đề tài/dự án hàng năm, các khoản thu từ hoạt động của quỹ. Ngoài ra, quỹ có thể được huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách khác như: Các khoản đóng góp tự nguyện, tài trợ, hiến tặng của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…

Continue reading

%d bloggers like this: