Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TỪ ĐIỀU 60 HIẾN PHÁP 1992 ĐẾN ĐIỀU 43 DỰ THẢO HIẾN PHÁP 1992 SỬA ĐỔI 2013

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật TPHCM

Dẫn nhập

Nhận thức được tầm quan trọng của tài sản trí tuệ trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế quốc gia, từ những năm 80 Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự chú trọng, quan tâm thông qua việc đưa ra đường lối cụ thể và ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với tình hình mới của đất nước. Theo đó, hàng loạt văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được ban hành nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sáng tạo. Cụ thể là Nghị định 31-CP ngày 23/01/1981 được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 84-HĐBT ngày 20/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành kèm theo Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế; Chỉ thị 140/CT ngày 10/5/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh các hoạt động, sáng kiến, sáng chế và sở hữu công nghiệp; Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/01/1989; Nghị định 142-HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về quyền tác giả. Sau những văn bản mang tính chất nền móng, khởi thủy kể trên có thể khẳng định Hiến pháp 1992 đã thực sự có những quy định nền tảng cho pháp luật về sở hữu trí tuệ theo đó ngành luật này mới được định hình thành và phát triển ngày càng có hệ thống. Việc xác định nội hàm của Điều 60 quy định về sở hữu trí tuệ (1) cho phép hiểu rõ hơn quy định về khuyến khích hoạt động sáng tạo và tạo ra tài sản trí tuệ (2) và việc bảo hộ mang tính hiến định của Nhà nước đối với tài sản trí tuệ (3). Nhìn nhận những hạn chế của quy định tại Điều 60 Hiến Pháp 1992 cho phép có những sửa đổi phù hợp hơn với tình hình thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước (4).

1. Xác định nội hàm của Điều 60 Hiến pháp

Điều 60 Hiến pháp 1992 khẳng định: "Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.". Ý chí này cũng được thể hiện tại Điều 16 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung, xuất phát từ mục đích thay đổi sâu rộng chính sách kinh tế quốc dân, với mục tiêu “làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới”[1].

Continue reading

Advertisements

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN TÁC GIẢ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006–2012 VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

NHÓM TÁC GIẢ: TS.Nguyễn Hợp Toàn; PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thủy; PGS.TS Trần Văn Nam – Đại học Kinh tế Quốc dân

Luật sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005 và sửa đổi, bố sung năm 2009 đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, trong đó có tranh chấp về tác quyền tại Việt Nam. Tuy nhiên, từ khi đạo Luật này có hiệu lực thi đến nay, tình hình giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòa án chưa thực sự đáp ứng được kỳ vọng và yêu cầu của xã hội.

Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao từ tháng 7-2006 cho đến tháng 6-2012 các Tòa án chỉ thụ lý được 92 vụ án tranh chấp về quyền tác giả. Số vụ việc còn quá hạn chế này cho thấy, các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ còn e ngại việc khởi kiện ra Tòa án mà thay vào đó, họ chọn việc xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính. Xuất phát từ (i) tính mất cân xứng của luật nội dung về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, (ii) những bất cập của pháp luật về tố tụng đối với việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, và (iii) sự non kém về năng lực chuyên môn của các cán bộ xét xử, hệ quả là tòa án chưa thực sự trở thành kênh giải quyết thuyết phục, ưa chuộng đối với các tranh chấp về tác quyền. Tác giả đã nêu một số đề xuất, bao gồm xây dựng luật riêng về quyền tác giả; thiết lập tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ, thiết lập cơ quan đầu mối phối hợp trong phòng chống, xử lí có hiệu quả các hành vi xâm phạm tác quyền v.v. nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ và tăng hiệu lực thực thi trong thời gian tới ở Việt Nam.

1. Khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan và các tranh chấp phát sinh

1.1 Khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

Pháp luật sở hữu trí tuệ quy định tác giả có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Khi tác giả sáng tạo tác phẩm theo nhiệm vụ được giao, theo hợp đồng hoặc chuyển giao quyền tác giả cho tổ chức, cá nhân khác thì tác giả chỉ còn giữ quyền nhân thân, bao gồm quyền đặt tên tác phẩm, quyền đứng tên tác giả của tác phẩm và quyền phản đối các hành vi cắt xén, bóp méo hoặc sửa đổi đối với tác phẩm có thể gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN TRONG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Để đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) trong các doanh nghiệp nhằm hình thành một lực lượng KH&CN mới – doanh nghiệp KH&CN, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, với nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia. Trong đó, phải kể đến là Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19.5.2007 về doanh nghiệp KH&CN (Nghị định 80) cùng Thông tư 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18.6.2008 (Thông tư 06) hướng dẫn thi hành Nghị định 80. Trong bài viết dưới đây, tác giả đề cập đến một số vấn đề cần trao đổi, nhằm đề ra giải pháp phát triển lực lượng KH&CN mới này.

1.Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp KH&CN

Theo Thông tư 06, đối tượng được thành lập doanh nghiệp KH&CN được áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả KH&CN. Kết quả KH&CN bao gồm kết quả của các chương trình, đề tài/dự án KH&CN; kết quả của các dự án nghiên cứu giải mã, làm chủ công nghệ được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công nhận; các đối tượng sở hữu trí tuệ như các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã được cấp văn bằng bảo hộ, chương trình máy tính.

Với các đối tượng được xem xét thành lập doanh nghiệp KH&CN như trên, không những khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư nghiên cứu hoặc tiếp nhận các kết quả nghiên cứu để đổi mới công nghệ, mà còn khuyến khích các tổ chức và cá nhân nước ngoài đưa công nghệ mới, công nghệ nguồn vào Việt Nam thông qua con đường đầu tư, nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Continue reading

BẢO HỘ CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH NHƯ ĐỐI TƯỢNG ĐỘC LẬP CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý, Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Khoản 1 điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) quy định: “Chương trình máy tính (CTMT) là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể. CTMT được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy”, đồng thời khoản 2 điều 59 Luật SHTT quy định loại trừ cấp bằng độc quyền sáng chế (patent) cho CTMT, như vậy pháp luật Việt Nam quy định chỉ bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT.

Nhưng có lẽ còn nhiều vấn đề phải bàn xung quanh quy định này. Bởi vậy, trên diễn đàn khoa học đã có nhiều quan điểm khác nhau về bảo hộ CTMT, có thể phân loại các quan điểm này theo các hướng:

1.1. Phân tích những bất cập của việc bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính (PMMT):

Vào năm 2002, ngay từ trước khi Luật SHTT được ban hành, đã có ý kiến phân tích những bất cập của việc bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT[3], trong đó nhấn mạnh: nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng PMMT bị sao chép lậu tràn lan được bắt nguồn từ những tính chất đặc trưng của PMMT; đề xuất thời hạn bảo hộ PMMT là 25 năm kể từ ngày được công bố, phổ biến; cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và người sử dụng PMMT… Nhưng bài viết này không đề xuất việc tìm một cơ chế khác với cơ chế bảo hộ quyền tác giả đối với PMMT.

1.2. Cấp patent cho CTMT

Tiếp theo là các đề xuất cấp patent cho CTMT, có thể điểm:

– Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Khoa học quản lý, chuyên ngành SHTT của Nguyễn Thị Phương Thảo với nhan đề Bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính ở Việt Nam hiện nay[4], trong đó tác giả đã đề xuất việc nghiên cứu để có thể cấp patent cho CTMT.

Continue reading

XÂY DỰNG LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ – TỪ TIẾP CẬN SO SÁNH

TS. TRẦN VĂN HẢI – Chủ nhiệm Khoa Khoa học quản lý, Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Luật khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện hành được ban hành từ năm 2000 (sau đây gọi tắt là Luật KH&CN 2000) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đặt nền móng cho việc xây dựng hành lang pháp lý cho các hoạt động KH&CN. Các cơ chế, chính sách và biện pháp quy định trong các văn bản pháp luật đã phục vụ cho sự phát triển hoạt động KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, Luật KH&CN năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập so với yêu cầu phát triển KH&CN phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới.

Thực hiện Chương trình của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII về xây dựng luật, pháp lệnh, Chính phủ đã giao cho Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan soạn thảo Dự án Luật KH&CN (sửa đổi).

Đã có một số cuộc hội thảo khoa học và nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, nhà quản lý cho Dự thảo Luật KH&CN, bài viết này chỉ xin phân tích một số điểm mà chưa có nhà nghiên cứu nào nêu, hoặc mới nêu ở dạng ý tưởng.

2. Thuật ngữ công nghệ

Khoản 2 điều 2 Luật KH&CN 2000 định nghĩa Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Khoản 2 điều 3 Dự thảo Luật KH&CN định nghĩa Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Lý do để các nhà soạn thảo dự thảo đưa ra sự thay đổi này là “chỉnh sửa cho chính xác và phù hợp với khoản 2 điều 3 Luật chuyển giao công nghệ năm 2006”.[3]

Continue reading

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.(2)

1. Dẫn nhập

Việc kế thừa các tác phẩm đã tồn tại, các nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học là một trong các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của tài sản trí tuệ. Tác phẩm phái sinh là một trong các dạng tác phẩm thực hiện việc kế thừa vừa nêu và là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Khoản 3 điều 2 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (sau đây viết tắt là Công ước Berne) đã quy định: “Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển nhạc và các chuyển thể khác từ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc, miễn không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc”.

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có liên quan đến việc bảo hộ tác phẩm gốc, để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả thì điều kiện tiên quyết là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Nhưng như thế nào là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc? Đây là một vấn đề phức tạp vì ranh giới giữa việc sáng tạo ra tác phẩm phái sinh với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc, ranh giới giữa việc sử dụng tự do tác phẩm với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc… trong nhiều trường hợp là khó xác định. Sau nữa, do sự phát triển của trình độ khoa học và công nghệ, mối quan hệ giữa tác phẩm phái sinh với một số loại hình tác phẩm khác, ví dụ chương trình máy tính đã không được Công ước Berne điều chỉnh, đồng thời pháp luật về quyền tác giả của một số quốc gia (trong đó có Việt Nam) cũng chưa đề cập.

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, nhưng việc nghiên cứu các quy định về bảo hộ tác phẩm phái sinh chưa được chú trọng đúng mức ở Việt Nam[3]. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để bảo hộ tác phẩm phái sinh, góp phần đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với việc bảo hộ tác phẩm phái sinh là cần thiết.

2. Khái niệm, đặc điểm của tác phẩm phái sinh

2.1. Đặc điểm của tác phẩm phái sinh

Tác phẩm phái sinh có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tác phẩm phái sinh chỉ được hình thành trên cơ sở một/những tác phẩm đã tồn tại. Tác phẩm đã tồn tại có thể còn thời hạn hoặc hết thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản[4]. Quyền cho làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tc phẩm, quyền này được quy định tại điểm a khoản 1 điều 20 Luật SHTT. Do đó, có thể tồn tại hai tình huống :

Continue reading

BÀN VỀ THUẬT NGỮ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC”, “THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ” VÀ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ”

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

ĐÀM QUANG – Sở KH&CN Thanh Hoá

Thời gian qua, thuật ngữ “thị trường khoa học”, “thị trường công nghệ” và “thị trường khoa học và công nghệ – KH&CN” đã được nhiều tác giả trong nước đề cập, nhưng chưa đi đến thống nhất. Trong khi đó, việc xác định sự tồn tại của các thị trường này lại liên quan mật thiết với việc đề ra chiến lược phát triển hàng hoá liên quan. Vì vậy, chủ đề này được các tác giả bài viết tiếp tục bàn luận nhằm đi đến thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ nêu trên.

Để làm sáng tỏ các thuật ngữ “thị trường khoa học”, “thị trường công nghệ” và “thị trường KH&CN”, tác giả đi theo các hướng sau: (1) Làm rõ khái niệm thị trường; (2) Làm rõ khái niệm hàng hóa và các thuộc tính của hàng hóa; (3) Làm rõ khái niệm “khoa học”, “công nghệ”, “KH&CN” và việc có tồn tại hay không thị trường của các đối tượng này. Từ đó rút ra kết luận về việc sử dụng các thuật ngữ nêu trên.

Khái niệm thị trường

Hiện nay, khái niệm thị trường có rất nhiều cách tiếp cận, quan điểm khác nhau. Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Quang Tuấn [1] đã tổng hợp và phân chia thành 3 nhóm như sau:

– Nhóm thứ nhất, đó là cách diễn đạt thị trường như là phương tiện phân bố các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cách hiểu về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững. Ở đó sự quan tâm là vấn đề phân bố hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững.

– Nhóm thứ hai, thị trường được hiểu là nơi mà những người mua và người bán tiến hành giao dịch. Đây cũng chính là cách hiểu về thị trường tương đối phổ biến ở trong nước và trên thế giới. “Nơi” ở đây không nhất thiết phải là địa điểm có tọa độ địa lý. Mạng Internet và các sàn giao dịch trực tuyến (online), giúp cho người mua và người bán thực hiện các giao dịch mà không nhất thiết phải gặp mặt nhau cũng là thị trường. Các diễn giải về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về phát triển hệ thống, mạng lưới dịch vụ và thương mại của từng quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể.

Continue reading

THUẬT NGỮ “THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ”, “THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ” TIẾP CẬN TỪ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hiện nay, thuật ngữ “thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN)” và thuật ngữ “thị trường công nghệ” được các tác giả sử dụng khác nhau, thậm chí trong cùng một văn bản dùng đồng thời cả hai thuật ngữ này. Dưới góc độ pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT), tác giả cho rằng: khoa học không thể trở thành hàng hóa, do đó không tồn tại thị trường khoa học, và tất nhiên không tồn tại thị trường KH&CN…

Dẫn nhập

Thuật ngữ “thị trường KH&CN”, “thị trường công nghệ” hiện đang được dùng trong các văn bản quản lý nhà nước về KH&CN, cũng như trong các nghiên cứu về KH&CN, có thể điểm qua như sau:

– Văn bản quản lý nhà nước về KH&CN:

Mục II. Tạo lập thị trường KH&CN, trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về KH&CN (ban hành kèm theo Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31.12.2002 của Thủ tướng Chính phủ), có ghi:

“1. Hoàn thiện và xây dựng mới các cơ chế, chính sách để hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN;…

3. Hình thành các tổ chức quản lý và hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ”[1].

– Các nghiên cứu về KH&CN:

+ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2006), Phát triển thị trường KH&CN: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam.

+ Hoàng Thúy (2007), Các giải pháp thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển, Tạp chí Công nghiệp, 7.2007, tr. 14-15.

+ Hoàng Xuân Long (2007), Tăng cường quản lý thị trường công nghệ ở địa phương, Tạp chí Công nghiệp, 8.2007, tr. 14-15.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: