BÀ RỊA – VŨNG TÀU: THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Chương trình Khoa học và Công nghệ (KH&CN) hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT)” được UBND tỉnh ban hành là một bước cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực, tích cực đổi mới công nghệ, áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, phát triển sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh. Bài viết này đánh giá một cách khái quát về Chương trình với cả thành công và tồn tại, xin giới thiệu để các địa phương khác cùng tham khảo.

Mô hình tổ chức

Chương trình được Sở KH&CN BR-VT xây dựng và triển khai từ năm 2001, ban đầu được thực hiện dưới hình thức là một trong những nhiệm vụ KHCN hàng năm của Sở KHCN. Đến năm 2006, Chương trình trở thành một trong những nhiệm vụ KH&CN chung của các sở, ban/ngành trong toàn tỉnh.

Mục tiêu của Chương trình

Từng bước hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và từng bước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; giúp các doanh nghiệp ngày càng nhận thức đầy đủ hơn việc đầu tư và áp dụng tiến bộ KH&CN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nội dung Chương trình

Chương trình đã được triển khai với 5 nội dung: Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo các tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, HACCP, ISO 14000…; xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu; sản xuất sạch hơn, xử lý giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đổi mới công nghệ, thiết bị và sản phẩm, tiết kiệm năng lượng, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất; ứng dụng công nghệ thông tin.

Đối tượng hỗ trợ trong thời gian đầu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, đến năm 2008 đã mở rộng ra các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, trang trại có tổ chức sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Mức kinh phí hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia: Xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hỗ trợ tối đa là 7 triệu đồng/nhãn hiệu đăng ký trong nước và không quá 20 triệu đồng/nhãn hiệu đăng ký ở nước ngoài; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 được hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng. Các nội dung còn lại đều có mức hỗ trợ tối đa cho mỗi doanh nghiệp tham gia không quá 30% tổng kinh phí cho việc thực hiện đề án của doanh nghiệp và không quá 100 triệu đồng/đề án.

Những kết quả nổi bật

Continue reading

Advertisements

MÔ HÌNH TỔ CHỨC XÚC TIẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN VÂN ANH, Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu &  THS. LÊ VŨ TOÀN, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Theo đánh giá của một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN) tại Việt Nam trong thời gian qua tuy đã thu được những thành tích đáng khích lệ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Việc tìm kiếm những mô hình xúc tiến CGCN phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động này, hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam là rất cần thiết. Bài viết giới thiệu mô hình tổ chức xúc tiến CGCN của Hàn Quốc và Trung Quốc, từ đó rút ra một số kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam.

Mô hình tổ chức xúc tiến CGCN của Hàn Quốc

Hoạt động xúc tiến CGCN đã trở nên mạnh mẽ ở Hàn Quốc với sự ra đời của Luật Xúc tiến CGCN vào năm 2000. Đạo luật này đã khuyến khích các trường đại học và các viện nghiên cứu công cộng thành lập các văn phòng CGCN (TLO) cùng với các tổ chức tương ứng của họ, đồng thời tập trung vào việc xúc tiến chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trước khi có đạo luật này, Chính phủ Hàn Quốc đã tập trung vào sự phát triển của tri thức công nghệ bằng cách tăng cường đầu tư cho hoạt động R&D.

Hàn Quốc có nhiều tổ chức dịch vụ xúc tiến CGCN như trung tâm đổi mới công nghệ vùng, công viên công nghệ, các doanh nghiệp nhân rộng kết quả nghiên cứu, các trung tâm CGCN thuộc các trường đại học… Tiêu biểu phải kể đến là Trung tâm CGCN Hàn Quốc (Korea Technology Transfer Center – KTTC) – một tổ chức xúc tiến CGCN hàng đầu tại Hàn Quốc. KTTC được thành lập vào tháng 3.2000 dưới sự hỗ trợ của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOCIE) và các bộ liên quan. KTTC có nhiệm vụ tích hợp thương mại và công nghệ với việc thúc đẩy cạnh tranh trong các lĩnh vực CGCN, đánh giá và đầu tư. Qua đó, tạo ra một trung tâm về dòng chảy thông tin công nghệ qua văn phòng CGCN (TLO)/khu vực mua sắm công nghệ (Regional Technology Trade Centers – RTTCs) và ngân hàng công nghệ quốc gia. Ngoài ra, KTTC cũng tập trung cho việc chuyển giao và thương mại hoá công nghệ bằng cách thúc đẩy cơ chế tài chính, bao gồm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, phát triển kinh doanh và nghiên cứu, tập trung vào các công ty trong giai đoạn khởi nghiệp.

Chiến lược tiếp cận của KTTC là sử dụng đa dạng hoá phương pháp CGCN và thương mại hoá công nghệ từ chuyển giao quyền sử dụng, mua bán cổ phần công nghệ và trao đổi học thuật, cơ sở dữ liệu nghiên cứu. KTTC nâng cấp hạ tầng công nghệ và cải thiện khả năng cạnh tranh bằng cách thực hiện một cách có hệ thống và tích hợp chiến lược toàn cầu hoá công nghệ trên cơ sở sử dụng thế mạnh của công ty, trường đại học và chính phủ.

Continue reading

GIẢI MÃ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI CHƯƠNG TRÌNH MÁY TÍNH

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu; TRẦN VĂN LĂNG – Viện Cơ học và Tin học ứng dụng, TP Hồ Chí Minh; PHẠM HỒNG QUẤT – Bộ KH&CN; NGUYỄN HOÀNG LONG – Trường Chính trị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Giải mã công nghệ (GMCN) để đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm là một xu thế được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Với việc GMCN, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam có thể đi tắt đón đầu, rút ngắn thời gian nghiên cứu thậm chí đến hàng chục năm. Việc ứng dụng giải mã không những giúp tạo ra một công nghệ mới thay thế, có giá thành giảm hơn rất nhiều so với giá trị nguyên bản của nó mà còn có thể hình thành ý tưởng công nghệ mới và tận dụng tối đa tiềm năng sẵn có.

Bài viết cung cấp một cách nhìn tổng quát về vấn đề giải mã, đặc biệt là GMCN đối với chương trình máy tính (CTMT), với những hướng ứng dụng và sáng tạo trong thực tế nhằm đảm bảo tính pháp lý cho việc giải mã. Đây là hướng tiếp cận quan trọng góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ và hạn chế tỷ lệ vi phạm bản quyền CTMT ở Việt Nam.

CTMT và việc bảo hộ CTMT

CTMT

Theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), “CTMT là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể”. Trong thực tế, các CTMT rất đa dạng và phong phú, dẫn đến có nhiều cách phân loại khác nhau. Căn cứ vào sự giao tiếp giữa người và máy có thể có các loại sau: 1. Hệ điều hành (là chương trình giúp người sử dụng cũng như các thiết bị khác có thể giao tiếp với bộ xử lý của máy tính); 2. Chương trình ứng dụng (là những sản phẩm sử dụng máy tính để giải quyết công việc của thực tế đặt ra); 3. Chương trình hệ thống (là những chương trình ứng dụng để giải quyết các công việc nội bộ của máy tính, hoặc một hệ thống các máy tính); 4. Chương trình hệ thống nhúng (là một chương trình ứng dụng được viết, biên dịch trên máy tính, sau đó nạp vào thiết bị có một hoặc nhiều bộ vi xử lý với hệ điều hành tương ứng phù hợp). Dù ở bất cứ loại hình nào, CTMT cũng là một loại hình công nghệ cần phải được giải mã, đặc biệt trong thời đại ngày nay – khi chúng ta cần phải biết kế thừa để nhanh chóng tạo ra sản phẩm, giúp chúng ta tiếp cận với thế giới.

Continue reading

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUẢN LÝ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC ĐỀ TÀI/DỰ ÁN SAU NGHIỆM THU

NGUYỄN VÂN ANH -  Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu & LÊ VŨ TOÀN – Trường Quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Cùng với việc tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN), quy trình quản lý các đề tài/dự án trong quá trình nghiên cứu – triển khai (R&D) ở địa phương đã có nhiều cải tiến theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của các kết quả nghiên cứu (KQNC). Tuy nhiên xét về tổng thể, các quy trình quản lý này vẫn chưa hoàn thiện. Bởi lẽ, chúng ta chưa có mô hình và quy trình quản lý các KQNC sau nghiệm thu nên hiệu quả ứng dụng còn nhiều hạn chế, phạm vi ứng dụng các KQNC chưa được mở rộng. Mặt khác, sau quá trình đầu tư kinh phí cho hoạt động R&D, quyền lợi của Nhà nước và tác giả của các công trình nghiên cứu chưa được quan tâm, để đảm bảo thực thi theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

Mô hình quản lý sau nghiệm thu các KQNC thuộc các đề tài/dự án được đầu tư từ ngân sách nhà nước ở cấp địa phương được đề cập dưới đây là những gợi mở cho việc triển khai áp dụng trong thực tiễn.

Kinh nghiệm quản lý, khai thác KQNC của các đề tài/dự án trên thế giới

Tại các nước phát triển trên thế giới, việc triển khai các đề tài/dự án được thực hiện khá chặt chẽ, từ khâu đề xuất đề tài/dự án đến việc khai thác các KQNC. Trong đó, họ đặc biệt lưu ý đến công tác bảo vệ tài sản trí tuệ, thương mại hóa KQNC dưới nhiều hình thức để nâng cao phạm vi ứng dụng và hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu.

Để khai thác thành tựu KH&CN là kết quả của các đề tài/dự án đã được đầu tư, năm 1996, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành Luật Thúc đẩy chuyển hóa thành tựu KH&CN, quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của Chính phủ, chủ sở hữu KQNC, doanh nghiệp, cơ quan trung gian tham gia kinh doanh môi giới và các tổ chức tài chính thực hiện quản lý, khai thác và thương mại hóa KQNC. Còn ở Hàn Quốc, từ tháng 1.2000, Chính phủ nước này đã ban hành Luật Xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN), trong đó đề cập đến mô hình quản lý, khai thác, thương mại hóa KQNC thông qua Trung tâm CGCN Hàn Quốc (KTTC). Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức CGCN đã được ban hành năm 1998, với việc khuyến khích và hỗ trợ các trường đại học hình thành các Văn phòng CGCN (Technology Licensing Organization – TLO) nhằm giúp cho việc CGCN từ các trường đại học ra doanh nghiệp được thuận lợi hơn. Thông qua TLO, các trường đại học tại Nhật Bản quản lý và khai thác được các KQNC, từ đó hình thành được nguồn lợi nhuận không nhỏ cho các trường đại học, góp phần tái đầu tư vào hoạt động R&D trong các trường đại học.

Continue reading

KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI TRI THỨC TRUYỀN THỐNG – TIẾP CẬN TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Khi những hạn chế của khoa học hiện đại bắt đầu bộc lộ thì người ta lại có xu hướng quay trở lại tôn trọng các tri thức truyền thống, lợi ích do tri thức truyền thống mang lại đã góp phần không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), chỉ tính riêng trong lĩnh vực y học cổ truyền, năm 1999 Trung Quốc đã thu được 6 tỷ USD, châu Âu thu được 11,9 tỷ USD (trong đó Đức chiếm 38%, Pháp chiếm 21% và Anh chiếm 12%). Ở Việt Nam, riêng năm 2003 đã tập hợp được 39.381 bài thuốc cổ truyền của 54 dân tộc, sản lượng xuất khẩu dược liệu cổ truyền đạt khoảng 10.000 tấn, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD1.

Vậy làm thế nào để gìn giữ và khai thác thương mại các tri thức truyền thống? Bài viết này sẽ lý giải một phần câu hỏi này.

Về thuật ngữ tri thức truyền thống

Năm 1978, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra khái niệm tri thức truyền thống, khái niệm này chỉ giới hạn ở một loại tri thức là các hình thức thể hiện của văn hóa dân gian (Expressions of Folklore). Vào năm 1982, Các quy định mẫu dành cho luật quốc gia về bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian chống lại việc khai thác trái phép và những hành vi xâm phạm khác đã được WIPO phối hợp với Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) soạn thảo và công bố, trong đó có định nghĩa về các hình thức thể hiện văn hóa dân gian. Đến nay thuật ngữ tri thức truyền thống  không chỉ giới hạn ở các hình thức thể hiện văn hóa dân gian mà còn bao gồm các đối tượng khác như tri thức bản địa, kiến thức cổ truyền, kinh nghiệm dân gian…

Trong thực tế, ngoài thuật ngữ tri thức truyền thống (Traditional Knowledge) thì còn xuất hiện thuật ngữ tri thức bản địa (Indigenous Knowledge), trong một số nghiên cứu chúng được dùng chung một nghĩa, có thể dẫn chứng: các khái niệm “kiến thức bản địa” (Indigenouse Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge), “tri thức truyền thống” (Traditional Knowledge) và “tri thức dân gian” (Folklore Knowledge) được quan niệm gần như đồng nghĩa và thường được sử dụng hoán đổi cho nhau mà không gây nên sự hiểu lầm2. Chúng tôi có cách tiếp cận khác với quan điểm này, xin lấy trường hợp y học truyền thống để chứng minh.

Continue reading

THỰC TRẠNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU

imageTS. TRẦN VĂN HẢI & CN. HOÀNG LAN PHƯƠNG – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việt Nam gia nhập WTO là một điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào một “sân chơi chung” của thương mại toàn cầu. Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất mà còn cần khẳng định được uy tín và giá trị của doanh nghiệp mình. Nhãn hiệu đóng góp một phần không nhỏ vào giá trị thương hiệu của chính các doanh nghiệp. Do đó để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp cần phải chú trọng vào việc xây dựng, bảo hộ và phát triển các nhãn hiệu của mình. Để nắm bắt được xu thế chung, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu (sau đây gọi là “doanh nghiệp Bạc Liêu”) cũng cần phải xây dựng, bảo hộ và phát triển nhãn hiệu của doanh nghiệp để khẳng định được năng lực và vị thế của mình.

1. Tổng quan về việc bảo hộ nhãn hiệu của các doanh nghiệp Bạc Liêu

Theo số liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý cập nhật đến ngày 23.09.2011, các doanh nghiệp Bạc Liêu đã có 150 đơn yêu cầu được bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có 73 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp. Như vậy, tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu là 48,7%. Với tỷ lệ này có thể thấy rằng Bạc Liêu – một tỉnh thuộc miền Nam có tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu được bảo hộ/số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu chỉ ở mức trung bình so với các địa phương khác trong cả nước. Chúng tôi chứng minh cho nhận định này bằng việc so sánh tỷ lệ của Bạc Liêu với tỉnh Nghệ An (thuộc miền Trung) và tỉnh Bắc Ninh (thuộc miền Bắc) qua bảng số liệu sau:

 

Bạc Liêu

Nghệ An

Bắc Ninh

Số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu

150

480

1358

Số Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

73

221

712

Tỷ lệ

48,7%

46%

52,4%

Qua bảng số liệu trên ta thấy, tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu ở Bạc Liêu ở mức trung bình nhưng số lượng đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu và nhãn hiệu được bảo hộ của Bạc Liêu còn quá thấp so với 2 tỉnh Nghệ An và Bắc Ninh. Ngay đối với Nghệ An, tuy tỷ lệ đăng ký thành công của các nhãn hiệu chỉ là 46% thấp hơn so với tỷ lệ này ở Bạc Liêu (48,7%) nhưng về số đơn yêu cầu bảo hộ và số nhãn hiệu được bảo hộ ở Nghệ An thì chiếm ưu thế hơn về mặt số lượng. Điều này được minh chứng qua bảng số liệu sau:

Continue reading

VỤ THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT VÀ BÀI HỌC VỀ BẢO VỆ TÀI SẢN TRÍ TUỆ CHO CÁC DANH NGHIỆP VIỆT NAM

Công ty Guangzhou Buon Ma Thuot Coffee Co., Ltd (Trung Quốc) đã được Cơ quan sở hữu trí tuệ (SHTT) của nước này cấp bảo hộ độc quyền đối với 2 nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột. Đó là nhãn hiệu 3 chữ Hán kèm dòng chữ "BUON MA THUOT", số đăng ký 7611987 được cấp ngày 14.11.2010; nhãn hiệu logo kèm dòng chữ "BUON MA THUOT COFFEE 1896", số đăng ký 7970830, được cấp ngày 14.6.2011. Việc đánh mất tài sản trí tuệ ở nước ngoài sẽ gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với việc xuất khẩu cà phê Buôn Ma Thuột của Việt Nam.

Vụ việc này đã được phía Việt Nam bình luận dưới nhiều góc độ khác nhau, Civillawinfor xin giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của ông Trần Văn Hải (Chủ nhiệm Bộ môn Sở hữu trí tuệ, Chủ nhiệm khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) trên Tạp chí Hoạt động khoa học xung quanh vấn đề này.

Vừa qua, các phương tiện thông tin đại chúng nói rất nhiều đến việc Chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột cho sản phẩm cà phê nhân (được Cục SHTT Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ từ 2005) bị một công ty của Trung Quốc đăng ký bảo hộ độc quyền. Là một giảng viên đại học, đồng thời là người có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực SHTT, ông bình luận gì về vấn đề này?

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở rộng thị trường ra nước ngoài để tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ của mình là hướng đi sống còn của các doanh nghiệp. Trong quá trình này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thành công, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều doanh nghiệp thất bại, trong những thất bại này có việc doanh nghiệp đã tự đánh mất tài sản trí tuệ của mình tại thị trường nước ngoài.

Tài sản trí tuệ mà tôi đề cập ở đây được giới hạn bởi nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý – hai trong nhiều đối tượng được bảo hộ quyền SHTT.

Theo quy định của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (SHCN), việc bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý tuân theo nguyên tắc độc lập, có thể diễn đạt nguyên tắc này bằng ví dụ: Quốc gia Q1 bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S thì không nhất thiết quốc gia Q2 cũng phải bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S, ngược lại khi quốc gia Q2 từ chối bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S thì không nhất thiết quốc gia Q3 cũng phải từ chối bảo hộ nhãn hiệu H cho sản phẩm S.

Continue reading

BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở NƯỚC NGOÀI

TS. VŨ TRỌNG BÌNH – Phó viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp – nông thôn

TS. DENIS SAUTIER – Viện Nghiên cứu CIRAD-Pháp

Nhãn mác và chỉ dẫn địa lý khác biệt ở chỗ một bên là tài sản doanh nghiệp, một bên là tài sản của cộng đồng. Trước vấn đề tên địa lý Phú Quốc và Buôn Ma Thuột bị các công ty nước ngoài đăng ký sở hữu trí tuệ, chúng ta cần bình tĩnh cân nhắc các khía cạnh của bảo hộ chỉ dẫn địa lý.

Nhãn mác và chỉ dẫn địa lý

Thông thường có hai cách để nâng cao giá trị gia tăng các chuỗi giá trị sản phẩm nông sản. Cách thứ nhất là tăng cường chế biến, với các sản phẩm phổ thông, là đóng gói để xuất khẩu sản phẩm cuối cùng đến tận người tiêu dùng trong và ngoài nước với số lượng lớn. Với loại chuỗi thương mại này, nhãn mác thương mại (trade mark) của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để xây dựng thị trường.

Một doanh nghiệp nông sản, thực phẩm chỉ thành công về xây dựng thương hiệu qua nhãn mác có bảo hộ của mình, khi có sản phẩm phân phối đến tận người tiêu dùng. Còn nếu chỉ dừng ở khâu cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến quốc tế như phần lớn các công ty chè, cà phê, gạo, thủy sản… của Việt Nam hiện nay, thì việc xây dựng thương hiệu có nhãn mác bảo hộ đến người tiêu dùng là rất khó khăn, không khả thi.

Cách hai, chỉ dẫn địa lý (GIS), được định nghĩa trong điều 21 của WTO về thỏa thuận TRIPs (thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ) năm 1995, có thể tóm tắt là sự kết hợp giữa chất lượng, sự nổi tiếng, những đặc tính đặc trưng của sản phẩm gắn với vùng địa lý nào đó. Châu Âu đi đầu trong xây dựng các chuỗi ngành hàng riêng biệt có bảo hộ chỉ dẫn địa lý, với sản phẩm đóng gói cho người tiêu dùng, có nhãn mác ghi tên địa phương sản xuất. Nhiều nước đã xây dựng logo quốc gia về chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn địa lý.

Để sản phẩm được sử dụng chỉ dẫn địa lý trên nhãn mác, nhà sản xuất phải tuân thủ điều kiện nhất định, đảm bảo sản xuất ra sản phẩm đúng với yêu cầu bảo hộ, nhất là tính đặc trưng, nguồn gốc bản địa. Tên chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, trở thành tài sản chung của cộng đồng, vùng, thậm chí quốc gia, là di sản văn hóa nếu sản phẩm đó gắn với các truyền thống văn hóa. Do đó, tất cả mọi nhà sản xuất, tuân thủ điều kiện sản xuất và phân phối của yêu cầu chỉ dẫn địa lý, đều có quyền đề nghị được sử dụng tên chỉ dẫn địa lý trên sản phẩm của mình. Đây là điểm khác biệt giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý: một bên là tài sản doanh nghiệp, một bên là tài sản của cộng đồng.

Continue reading

%d bloggers like this: