THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CỦA QUÁ TRÌNH R&D

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày nay, công nghệ đã trở thành động lực trực tiếp, một nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung, từng doanh nghiệp nói riêng. Chính vì vậy, thương mại hóa kết quả nghiên cứu (KQNC) – một trong những hướng đi tích cực góp phần thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và đẩy nhanh ứng dụng KQNC vào cuộc sống đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu. Bài viết dưới đây cung cấp một cách tiếp cận mới về việc thương mại hóa KQNC nhằm bổ sung và làm phong phú thêm bức tranh thương mại hóa KQNC tại Việt Nam.

Để làm rõ các hình thức thương mại hóa KQNC, chúng ta cần thống nhất một số điểm sau:

Thứ nhất, sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” được đề cập trong Luật Thương mại 2005 để bàn về các hoạt động thương mại KQNC: “Hoạt động thương mại là hoạt động sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.

Thứ hai, tiếp cận việc thương mại hóa KQNC từ các quá trình nghiên cứu – triển khai (R&D), bao gồm quá trình R&D theo chiều xuôi; quá trình R&D theo chiều ngược và một số hình thức thương mại KQNC khác.

Thương mại hóa KQNC theo các quá trình nghiên cứu

Quá trình R&D theo chiều xuôi: Quá trình này thông thường trải qua các công đoạn:

clip_image002

Sản phẩm của mỗi công đoạn đều được gọi là KQNC. Vấn đề đặt ra là, phải chăng tới khi KQNC hoàn thiện, tức là quá trình nghiên cứu trải qua các công đoạn từ (1) đến (4) thì KQNC mới thương mại hóa được?

Trước đây, trong thời bao cấp, quá trình nghiên cứu hầu hết được diễn ra tại các viện nghiên cứu/trường đại học thì việc thương mại hóa KQNC thường được hiểu như vậy. Còn nay, chúng ta đang tiếp cận với một quá trình “đổi mới mở – open innovation”, quá trình nghiên cứu này, hiện nay không phải chỉ có duy nhất tổ chức hay cá nhân tham gia thực hiện nữa, mà hình thức triển khai đã trở nên phong phú hơn rất nhiều. Một vấn đề nghiên cứu hay, một ý tưởng tốt, được các chuyên gia/doanh nghiệp xác định có tính thương mại cao, có thể có nhiều tổ chức tham gia thực hiện như việc đầu tư kinh phí tại bất kỳ các giai đoạn nghiên cứu khác nhau để hoàn thiện sản phẩm, mức độ hoàn thiện của KQNC ở mỗi công đoạn khác nhau, sẽ đem lại giá trị khác nhau. Sản phẩm càng hoàn thiện sẽ mang lại giá trị càng cao. Từ doanh thu nhận được, chủ sở hữu của công trình nghiên cứu phải chia sẻ lợi ích với các tổ chức/cá nhân tham gia trên tinh thần tự thỏa thuận hoặc theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT).

Đọc tiếp

Advertisements

MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ LỢI ÍCH CỦA DOANH NGHIỆP THU ĐƯỢC TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÔNG NGHỆ

NGUYỄN VÂN ANH

Doanh nghiệp sẽ thu được những lợi ích gì từ công nghệ do mình tự đầu tư nghiên cứu, và sẽ trả cho các tác giả công nghệ như thế nào – Vấn đề tưởng chừng rất đơn giản do mọi nội dung liên quan đã được nhà nước quy định tại Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao Công nghệ. Nhưng qúa trình triển khai, một số doanh nghiệp chưa biết hoặc hiểu chưa đúng. Trong khi đó, một số cơ quan quản lý nhà nước tại một số địa phương lại rất lúng túng khi giải quyết vấn đề này. Bài viết sau đây của tác giả là một ví dụ.

Diễn biến vấn đề liên quan đến công nghệ:

Một doanh nghiệp T đầu tư nghiên cứu để cho ra đời một giải pháp hữu ích F, giải pháp này được cơ quan nhà nước cấp bằng độc quyền về giải pháp hữu ích (trong văn bằng độc quyền giải pháp hữu ích ghi rõ chủ sở hữu văn bằng độc quyền giải pháp là doanh nghiệp T, tác giả giải pháp là cá nhân thuộc doanh nghiệp T). Nhờ có lợi ích kinh tế và kỹ thuật vượt trội từ giải pháp F, doanh nghiệp T được Ủy ban nhân dân tỉnh B giao chủ đầu tư và tự thực hiện thi công công trình có sử dụng giải pháp F, với tổng mức đầu tư xây dựng là 73 tỷ đồng (100% từ nguồn vốn ngân sách nhà nước) . Sau quá trình triển khai thực hiện 50% khối lượng công việc, doanh nghiệp T đề xuất giải pháp F1, trên nguyên lý giải pháp F, nhưng tiết kiệm nguyên vật vật liệu (cấu tạo mỏng hơn), nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật từ đó giảm giá thành hơn so với giải pháp F. Đồng thời doanh nghiệp T yêu cầu cơ quan nhà nước đưa “giá trị trí tuệ của sáng chế” của giải pháp hữu ích F và F1 (F1 không được cơ quan nhà nước cấp văn bằng độc quyền về sáng chế vì cùng nguyên lý với giải pháp F) vào tổng mức đầu tư xây dựng công trình làm cơ sở thanh toán cho doanh nghiệp T, để doanh nghiệp T thanh toán cho tác giả giải pháp F và F1. Với cách tính và lập luận như sau:

Tính ưu việt so với các giải pháp thông thường

Giá trị làm lợi cho nhà nước do sử dụng giải pháp F và F1

Theo điều 135 các tác giả được hưởng lợi là

So với giải pháp thông thường F làm lợi cho nhà nước

22tỷ đồng

10% X 22 tỷ đồng

= 2,2 tỷ đồng

So với giải pháp thông thường F1 làm lợi cho nhà nước

33 tỷ đồng

10% x 33 tỷ đồng

= 3,3 tỷ đồng

Tổng cộng giá trị làm lợi từ giải pháp F và F1 là

55 tỷ đồng

5,5 tỷ đồng

Tổng số tiền doanh nghiệp T yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh B cho doanh nghiệp là 5,5 tỷ đồng – được gọi là “giá trị tài sản trí tuệ của sáng chế” và là những lợi ích do sử dụng giải pháp F,F1 để doanh nghiệp T trả thù lao cho các tác giả giải pháp F và F1.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: TRANH CHẤP QUYỀN PHÁT SÓNG PHIM

HOÀNG YẾN

Tòa buộc phía bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn hơn 75 triệu đồng. Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Theo hồ sơ, Công ty Ảnh Vương khởi kiện Công ty Phượng Tùng bởi đã cung cấp bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương cho một số đài truyền hình phát sóng trong khi bộ phim này Ảnh Vương giữ bản quyền…

Đòi hơn 800 triệu đồng

Năm 2008, Ảnh Vương mua quyền phát sóng bộ phim trên từ Công ty San Yang (Đài Loan) với giá 39.000 USD. Công ty đã xin giấy phép, làm thủ tục nhập khẩu phim theo đúng quy định. Tuy nhiên, sau khi mua, công ty không thể cung cấp cho các đài truyền hình để phát sóng vì phim đã được Phượng Tùng cung cấp trước đó.

Công ty Ảnh Vương cho rằng mình bị xâm phạm quyền phát sóng hợp pháp bộ phim nên khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại toàn bộ tiền mua bản quyền phát sóng và tổn thất về cơ hội kinh doanh là hơn 800 triệu đồng.

Phần mình, Phượng Tùng xác nhận là bán quyền phát sóng bộ phim cho năm đài thu được 345 triệu đồng. Tuy nhiên, công ty từ chối bồi thường bởi tháng 12-2007 công ty đã mua quyền phát sóng bộ phim từ Fafilm Việt Nam. Đồng thời do Fafilm Việt Nam hợp tác nhập khẩu phim từ nước ngoài nên mọi trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm bản quyền thuộc Fafilm Việt Nam. Do đó, Fafilm Việt Nam mới là bị đơn của vụ án chứ không phải Phượng Tùng.

Phía Fafilm Việt Nam thừa nhận mình cũng đã mua bản quyền bộ phim và bán lại cho Phượng Tùng với giá 135 triệu đồng… Nay Fafilm đồng ý hủy hợp đồng bán phim cho Phượng Tùng, hoàn trả tiền để công ty này lấy tiền bồi thường cho Ảnh Vương chứ không bồi thường thay…

Cả hai cùng có lỗi

Xử sơ thẩm hồi đầu năm, TAND TP.HCM nhận định qua những chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy Công ty Ảnh Vương có quyền sử dụng bộ phim Đấu sỹ Thiên Vương, có bản quyền phát sóng… Công ty này cho rằng Công ty Phượng Tùng không có bản quyền hợp pháp mà lại bán quyền phát sóng cho các đài truyền hình là xâm phạm quyền và lợi ích của mình là có cơ sở xem xét. Công ty Phượng Tùng ký hợp đồng bán phim cho các đài dù là vô tình cũng đã xâm phạm quyền của chủ sở hữu quyền tác giả mà Công ty Ảnh Vương có được.

Đọc tiếp

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT GIỮA TÊN MIỀN VÀ THƯƠNG HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LS. LÊ QUANG VINH – Công ty luật BROSS & PARTNERS

Tên miền có giá không kém một thương hiệu tốt.

Trên thế giới cho đến năm 2004 đã ghi nhận được một số giao dịch chào bán tên miền với giá đắt nhất như sau:
Tên miền Business.com giá 7.5 triệu USD (tháng 12/1999)
Tên miền AsSeenOnTv.com giá 5.1 triệu USD (tháng 1/2000)
Tên miền Altavista.com có giá 3.3 triệu USD (tháng 8/1998)
Tên miền CreditCards.com có giá 2.75 triệu USD (tháng 7/2004)

Tên miền là gi?

Tên miền xuất phát từ thuật ngữ tiếng Anh “Domain Names” (thường được viết tắt là DN) là tên được sử dụng để định danh các điạ chỉ trên Internet. Internet gồm một mạng lưới hàng nghìn các mạng máy tính độc lập có chứa hàng triệu máy chủ cung cấp thông tin. Trường hợp muốn lấy thông tin hoặc trao đổi thông tin dưới dạng email, chia sẻ hình ảnh hoặc tác phẩm âm nhạc từ một máy chủ cụ thể, người sử dụng phải biết chính xác địa chỉ internet của máy chủ đó thì mới có thể thực hiện được công việc này. Địa chỉ của máy chủ được biểu thị bằng một dãy số duy nhất gọi là giao thức Protocol (địa chỉ IP). Ví dụ địa chỉ IP của nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm khổng lồ GOOGLE INC là 209.85.129.18. Tuy nhiên, việc biểu thị địa chỉ IP bằng dãy số khiến người sử dụng không thể nhớ được, vì vậy, người ta đã nghĩ ra cách biến địa chỉ IP đó thành một tên miền có thể nhớ được. Chẳng hạn như trường hợp GOOGLE.COM, người sử dụng chỉ cần nhớ tên miền GOOGLE.COM mà không cần phải nhớ địa chỉ 209.85.129.18 vì trên mỗi máy chủ đã cài đặt sẵn một công cụ chuyển đối tự động từ GOOGLE.COM thành dãy số ứng với địa chỉ IP 209.85.129.18.

Các loại tên miền và cấu trúc của nó

Tên miền bao gồm tên miền quốc tế dùng chung (generic top level domain) viết tắt là gTLD (ví dụ: .COM) và tên miền quốc gia dùng chung (country code Top Level Domain) viết tắt là ccTLD (ví dụ: .VN của Việt Nam, .SG của Singapore, .JP của Nhật Bản, .CN của Trung Quốc).
Dưới tên miền cấp cao nhất dùng chung là các tên miền định danh một địa chỉ IP cụ thể. Ví dụ:
Tên miền cấp 2: bross.vn
Tên miền cấp 3: trungnguyen.com.vn
Tên miền cấp 4: trade.garco10.com.vn
Tuỳ theo lĩnh vực hoạt động của chủ thể đăng ký, các tên miền dùng chung được phân loại theo lĩnh vực. Ví dụ: .COM/.BIZ dùng cho các tổ chức, cá nhân hoạt động thương mại; .EDU dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; .GOV.VN dành cho các cơ quan, tổ chức nhà nước ở trung ương và địa phương; .NET.VN dành cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thiết lập và cung cấp các dịch vụ trên mạng.

Tại sao phải đăng ký tên miền?

Theo nguyên tắc chung trên thế giới hiện nay tên miền sẽ được đăng ký nếu thoả mãn 2 điều kiện: duy nhất và ai nộp đơn đăng ký trước thì được cấp trước. Do vậy, để sở hữu tên miền, bạn phải tiến hành đăng ký tên miền bạn dự định sử dụng với cơ quan quản lý về tên miền càng sớm càng tốt.

Đọc tiếp

VIỆT NAM VỚI VIỆC PHÊ CHUẨN NGHỊ ĐỊNH THƯ SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH TRIPS

THS. LÊ THỊ NAM GIANG – Trưởng Bộ môn Tư pháp quốc tế – Luật so sánh, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) được ký kết ngày 15/4/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/19951 cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hiệp định TRIPS là một điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) và bên cạnh Hiệp định WTO, Hiệp định TRIPS phải được tất cả các nước thành viên WTO tuân thủ và thi hành.

Trong lĩnh vực sáng chế, Hiệp định TRIPS yêu cầucác quốc gia thành viên phải bảo hộ sáng chế trong tất cả các lĩnh vực côngnghệ2, trong đó có bảo hộ sáng chế dược phẩm. Nhiều quốc gia thànhviên WTO là các nước đang và kém phát triển đã gặp nhiều khó khăn trong việcgiải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đồng cho nhân dân mình, đặc biệt đối vớiviệc tiếp cận các dược phẩm thiết yếu khi thực hiện quy định trên của Hiệp địnhTRIPS. Nhằm giúp các quốc gia thành viên giải quyết vấn đề này, ngày06/12/2005, Đại hội đồng WTO đã ban hành Quyết định thông qua Nghị định thưsửa đổi Hiệp định TRIPS. Theo đó, Điều 31bis sẽ được bổ sung vào Hiệp địnhsau điều 31 và một Phụ lục sẽ được bổ sung vào sau điều 73 của Hiệp địnhTRIPS. Theo Quyết định ngày 06/12/2005, Nghị định thư được mở cho các nướcthành viên đến ngày 01/12/2005 và có hiệu lực theo quy định của Khoản 3, Điều XHiệp định WTO là phải được ít nhất hai phần ba các quốc gia thành viênphê chuẩn. Tuy nhiên, Quyết định ngày 18/12/2007 của Hội đồng TRIPS đã kéo dàithời hạn này đến ngày 31/12/2009. Nhưng đến thời điểm tháng 12/2009 sốlượng thành viên phê chuẩn vẫn chưa đủ để Nghị định thư sửa đổi Hiệp địnhTRIPS có hiệu lực. Do đó, ngày 17/12/2009 Hội đồng TRIPS đã kéo dài thời hạnnày đến ngày 31/12/2011. Việt Namcũng như nhiều quốc gia đang phát triển và kém phát triển khác đang xem xét khảnăng phê chuẩn Nghị định thư này.

1. Hoàn cảnh ra đời của Nghị định thư sửa đổi Hiệpđịnh TRIPS

Việc thực hiện Hiệp định TRIPS, đặc biệt đối vớiviệc bảo hộ sáng chế dược phẩm đã đặt ra rất nhiều thách thức đối với các quốcgia đang phát triển và quốc gia kém phát triển. Bảo hộ sáng chế dược phẩm làmột lĩnh vực mới đối với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Tại thời điểm đàmphán Hiệp định TRIPS năm 1986, 49 trong tổng số 98 thành viên Công ước Paris chưabảo hộ sáng chế đối với dược phẩm. Ngay tại các quốc gia phát triển, nơi màquyền SHTT nói chung, sáng chế nói riêng được bảo hộ đã hàng trăm năm thì việcbảo hộ sáng chế đối với dược phẩm cũng chỉ mới bắt đầu trong những năm cuối củathế kỷ XX. Ví dụ: Pháp (năm 1960), Thụy Sỹ (năm 1977), Nhật Bản (năm 1976), Italy, ThụyĐiển (năm 1978), Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Na Uy (năm 1992)3.Lý do để dược phẩm không được bảo hộ sáng chế là xuất phát từ “tính quan trọngvề mặt xã hội của dược phẩm cũng như sự tin tưởng rằng, việc bảo hộ sáng chếdược phẩm sẽ dẫn đến sự lạm dụng độc quyền của chủ sở hữu”4 ảnhhưởng đến phúc lợi chung của xã hội. Trong quá trình đàm phán Hiệp định TRIPS,một số quốc gia đang phát triển không ủng hộ việc bảo hộ sáng chế dược phẩmnhưng đã không thành công. Quy định tại Điều 27 Hiệp định đã ràng buộc các quốcgia thành viên của WTO phải bảo hộ sáng chế trong cả lĩnh vực dược phẩm5.

Đọc tiếp

TRANH CHẤP NHÃN HIỆU GIỮA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Trong một phần của bài tham luận Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý tại Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế – quản trị kinh doanh trong các trường đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội[2] do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức tại Hà Nội vào ngày 25.01.2010, tác giả đã nêu sơ bộ về nhãn hiệu của các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã cảnh báo về khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.

Ngày 07.08.2010 lời cảnh báo trên đã thành hiện thực, khi Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã có Đơn khiếu nại gửi Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh), Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và đồng gửi các cơ quan báo chí về việc Trường Đại học Công nghệ Đông Á xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Đại học Đông Á” do Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là chủ sở hữu.

Nhận thấy rằng đây là một vấn đề cần nghiên cứu để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng tranh chấp về nhãn hiệu giữa các trường đại học và cũng góp phần để các trường đại học khẳng định tài sản trí tuệ của mình trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tác giả đã tiến hành khảo sát tổng thể các nhãn hiệu của các trường đại học tại Việt Nam.

Để có tư liệu viết bài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn thông tin: 1. Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục SHTT phát hành; 2. Một số văn bản hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành; 3. Các tin tức thời sự đăng trên báo chí hoặc trên Internet. Cũng cần nhắc lại là các nguồn thông tin này thuộc đối tượng loại trừ không được bảo hộ quyền tác giả theo điều 15 Luật SHTT.

2. Khái quát về nhãn hiệu – đối tượng của quyền SHTT

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng của quyền SHTT bao gồm: quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng.

Đọc tiếp

NHỮNG LỖI DOANH NGHIỆP THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH YÊU CẦU BẢO HỘ NHÃN HIỆU[1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – – Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình.

Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của một doanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tố quan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêu dùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy (cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướng dương – sunflower, ánh dương – sunlight…).

Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, nhưng rất tiếc đa số doanh nghiệp lại thường mắc các lỗi dẫn đến đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối, hậu quả là những doanh nghiệp này mất cơ hội kinh doanh, tốn phí thời gian chờ đợi vô ích và sau nữa tốn kém về kinh phí.

Bài viết này sử dụng các tài liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý về việc đăng ký nhãn hiệu, thẩm định hình thức, thẩm định nội dung, cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc ra thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu… đồng thời chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu có liên quan đến các doanh nghiệp Nghệ An, với mục đích giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nghệ An nói riêng nhận biết các lỗi đã gặp trong quá trình yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu, qua đó tránh các lỗi này để nâng cao khả năng được sở hữu hợp pháp nhãn hiệu của riêng mình nhằm tạo những lợi thế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Để thống nhất cách hiểu thuật ngữ, chúng tôi dẫn định nghĩa của Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Đọc tiếp

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH

TRẦN MINH DŨNG – Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

I. Quy định pháp luật về biện pháp hành chính xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1. Tại sao sử dụng biện pháp hành chính để xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữu trí tuệ có đặc điểm là đối tượng quyền tồn tại chủ yếu dưới dạng thông tin, do đó có khả năng lan truyền rộng lớn và dễ có khả năng được vật chất hoá hàng hoạt, sau đó trở thành thực thể tác động, ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người, cũng như của cả xã hội. Do vậy, một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây hậu quả tiêu cực cho người nắm giữ quyền bị xâm phạm đó, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều người tiêu dùng khác, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.

Như vậy, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng là hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ và quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (Nhà nước đã xác lập quyền cho chủ thể quyền và nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu trí tuệ) và gây ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể quyền, lợi ích của người tiêu dùng và gây ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội cần phải loại trừ. Do vậy, trong một số trường hợp nhất định, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể coi là hành vi vi phạm hành chính.[1]

Pháp luật về sở hữu trí tuệ có quy định về việc Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền và việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hành vi vi phạm pháp luật. Một hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ ba – người tiêu dùng trong xã hội và có thể nói là gây tổn hại cho lợi ích của xã hội. Ví dụ, việc xâm phạm quyền đối với một nhãn hiệu hàng hoá, thì hành vi xâm phạm quyền đó không chỉ gây tổn hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm (giảm thị phần, giảm lợi nhuận, làm suy giảm lòng tin của khách hàng vào sản phẩm mang nhãn hiệu đó…), mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu hàng hoá đó (như chất lượng không được như hàng thật nhưng phải trả tiền với giá trị tương đương với hàng thật; đôi khi còn gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng nếu hàng giả, hàng nhái đó liên quan đến thực phẩm hoặc dược phẩm…).

Trong bối cảnh trình độ công nghệ ngày càng cao, việc sản xuất các sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể được tiến hành với quy mô lớn và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được lưu thông với phạm vi rộng, khiến cho số người bị ảnh hưởng hoặc bị tổn hại cũng sẽ chiếm số đông trong xã hội. Vì vậy, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng thuộc loại hành vi chống lại lợi ích xã hội. Do đó, bên cạnh quan hệ dân sự, vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được xem xét và xử lý theo khía cạnh hành chính. Mục tiêu của biện pháp hành chính trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ là bảo vệ lợi ích của người thứ ba và của xã hội, cũng chính là gián tiếp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền.

Đọc tiếp

CÓ NÊN ĐỊNH GIÁ CÁC QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

BÙI HUYỀN

Ngày càng có nhiều người công nhận rằng, quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản và công cụ của một doanh nghiệp có thể đóng góp đáng kể cho thành công của doanh nghiệp. Sự thật là việc tiềm lực này tồn tại cho các doanh nghiệp thu lợi từ các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ đã dẫn tới một mối quan tâm nhiều hơn về định giá các quyền sở hữu trí tuệ.

Ở đây nên quan tâm tới sự khác nhau giữa giá cả và giá trị của một tài sản sở hữu trí tuệ. Giá cả chủ yếu được xác định như những thứ mà một người mua sẵn sàng trả, trong một giao dịch bình thường dựa vào giá trị được nhận thấy của sản phẩm. Giá trị là trừu tượng nhưng những tính toán số lượng tất định dựa trên một loạt các phương pháp và luật lệ được kiểm định theo đúng trật tự. Nói cách khác, mặc dù giá trị sở hữu trí tuệ có thể ảnh hưởng tới việc định giá một tài sản sở hữu trí tuệ cũng không nhất thiết phải giống như việc định giá cả. Việc định giá thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác bao gồm thời gian, nhu cầu, lý do bán và những kỹ năng đàm phán của các bên liên quan.

Các công cụ được sử dụng cho việc định giá các sản phẩm sở hữu trí tuệ có thể giúp các doanh nghiệp quản lý các danh mục quyền sở hữu trí tuệ của họ một cách thực tế và hiệu quả hơn. Việc định giá các quyền sở hữu trí tuệ đưa ra một tiêu chuẩn so sánh hữu ích và cơ sở đàm phán về việc chuyển nhượng hoặc mua các tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ.

Trước khi một doanh nghiệp bắt tay vào việc định giá các giá trị tài sản quyền sở hữu trí tuệ thì cần phải trả lời các câu hỏi sau:

  • Tại sao doanh nghiệp quyết định định giá các quyền sở hữu trí tuệ?
  • Khi nào cần và sử dụng các thông tin (kết quả của việc định giá trị này)?
  • Quyền sở hữu trí tuệ nào cần được định giá?
  • Phương pháp định giá nào nên được áp dụng?
  • Những cân nhắc khi định giá quyền sở hữu trí tuệ

Đọc tiếp

THẾ NÀO LÀ ĐỒNG TÁC GIẢ?

VŨ THỊ PHƯƠNG ANH

Vụ tai tiếng về "đạo văn" mới đây làm nảy sinh ra một câu hỏi mà theo tôi lẽ ra phải được đặt ra từ lâu, ngay từ khi VN bắt đầu thực hiện đào tạo sau đại học trong nước, đó là: Thế nào là đồng tác giả (co-authorship)?

Câu hỏi này cần được đặt ra là vì trong vụ việc được báo chí đề cập đến gần đây, mặc dù bài báo ghi đến 4 tác giả (đồng nghĩa với việc cả 4 người cùng hưởng danh tiếng và có thể cả những quyền lợi khác nữa), nhưng đến lúc bài báo bị kết án là có đạo văn thì các tác giả khác lại nói rằng thực ra chỉ có một tác giả chính, còn những người khác không tham gia gì (tức sẽ không chịu trách nhiệm về việc đạo văn!)

Để trả lời câu hỏi đã đặt ra, tôi đã tìm trên mạng, và tìm được một bài viết rất đầy đủ, rõ ràng có tựa là "What is authorship, and what should it be? A survey of prominent guidelines for determining authorship in scientific publications", đăng trên tạp chí mạng Practical Assessment, Research and Evaluation. Bài báo rất hữu ích cho những người làm công tác quản lý khoa học công nghệ vì các tác giả đã bỏ công tổng hợp hết những hướng dẫn về "đồng tác giả" từ các tạp chí và hiệp hội lớn của các lĩnh vực khác nhau.

Dưới đây tôi chỉ đưa ra một định nghĩa về "co-authorship" mà tôi thấy là khá trùng với những gì tôi biết qua kinh nghiệm thời tôi đi học nước ngoài. Định nghĩa này cũng rút từ bài báo trên, ở trang 5, định nghĩa của Hiệp hội xã hội học Anh Quốc:

Everyone who is listed as an author should have made a substantial direct academic contribution to at least two of the four main components of a typical scientific project or paper; a) conception or design, b) data collection and processing, c) analysis and interpretation of the data, and d) writing substantial sections of the paper. Authorship should be reserved for those, and only those, who have made significant intellectual contribution to the research.

Đọc tiếp

%d bloggers like this: