Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC VỀ TÁI CƠ CẤU NGÂN HÀNG VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU

 TS. ĐÀO MINH TÚ – Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Là một nước phát triển và có mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng, cũng như nhiều nước phát triển khác, Hàn Quốc đã chịu tác động sâu sắc từ các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu và trong nước, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng là lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và bị tổn thương nặng nề nhất.

Để vực dậy nền kinh tế và hệ thống tài chính, ngân hàng sau các cuộc khủng hoảng, từ năm 1996 đến nay, Hàn Quốc đã buộc phải tiến hành nhiều đợt tái cơ cấu hệ thống tài chính nói chung và tái cơ cấu, xử lý nợ xấu hệ thống ngân hàng nói riêng bằng một hệ thống các giải pháp đột phá, mạnh mẽ và kịp thời với sự đồng thuận và quyết tâm cao trong nhận thức cũng như trong hành động từ Quốc hội, Chính phủ đến các chủ thể trong hệ thống tài chính, ngân hàng và doanh nghiệp, người dân về sự cần thiết, quan điểm và cách thức tái cơ cấu, xử lý nợ xấu. Nhờ đó, các đợt tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu của Hàn Quốc sau khủng hoảng đều đạt hiệu quả cao với mức chi phí tối thiểu.

Ủy ban Dịch vụ tài chính Hàn Quốc (FSC), Bảo hiểm Tiền gửi Hàn Quốc (KDIC), Cơ quan Dịch vụ tài chính Hàn Quốc (FSS), Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) và một số ngân hàng Hàn Quốc (Woori Bank…) đã chia sẻ kinh nghiệm thực thi quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu như sau:

1. Về hành lang pháp lý

Thiết lập hành lang pháp lý đầy đủ, kịp thời được xem là điều kiện tiên quyết, đảm bảo cho các biện pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu được thực thi nghiêm túc, nhanh chóng và công khai, minh bạch, hiệu quả, giảm thiểu tối đa các tranh chấp, xung đột lợi ích và những tác động bất lợi từ khủng hoảng.

Continue reading

Advertisements

PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TIÊU DÙNG: CẦN NỖ LỰC TỔNG THỂ

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch HĐTV Công ty Luật BASICO, Trọng tài viên VIAC

Trong tương lai, đầu tư tài chính cho tiêu dùng sẽ tiếp tục phát triển mạnh góp phần giảm cho vay nặng lãi, tín dụng đen. Theo đó cần có nhìn nhận đúng về vai trò của các công ty tài chính cũng từ chính những người tiêu dùng cũng như cơ quan quản lý.

Vai trò của các công ty tài chính tiêu dùng

Hiện tại, do dịch vụ cho vay cầm đồ chủ yếu là cho vay nóng và luôn phải yêu cầu khách hàng cầm cố tài sản, còn các ngân hàng ít cho vay tiêu dùng, nên các công ty tài chính có vai trò quan trọng trong việc phát triển tín dụng và tiêu dùng.

Tín dụng đen phát triển mạnh do vấn đề cung cầu. Thứ nhất, nhu cầu vay vốn rất lớn, đa dạng. Thứ hai, ngân hàng cũng hạn chế cho vay tiêu dùng nhỏ lẻ vì nhiều lý do như năng lực, quan điểm kinh doanh và các nguyên tắc hoạt động của ngân hàng đòi hỏi yêu cầu cao nên khó cho vay tiêu dùng. công ty tài chính khi tham gia lĩnh vực cho vay tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu cho vay nhanh, dịch vụ cung cấp phù hợp thị trường nhưng lãi suất thường cao gấp đôi, gấp ba so với ngân hàng. Tuy nhiên, lãi vay tiêu dùng của công ty tài chính so với tín dụng đen thấp hơn và ít rủi ro hơn. Việc cho vay hợp pháp này nếu phát triển được sẽ đáp ứng nhu cầu xã hội, hạn chế được tín dụng đen.

Có thể nói gần như chưa có sự cạnh tranh giữa các công ty tài chính vì trên thực tế mới chỉ có gần một chục công ty tài chính cho vay tiêu dùng, trong đó một số chỉ cho vay chuyên biệt trong một lĩnh vực như mua ô tô, xe máy hoặc chỉ hoạt động trong một tỉnh và chỉ có 2 – 3 công ty tài chính hoạt động trên phạm vi rộng ít nhiều có sự cạnh tranh. Nhiều người phải đi vay tại các tiệm cầm đồ, thậm chí tìm đến cả tín dụng đen với lãi suất rất cao. Trong khi đó, hiện thị trường với 90 triệu dân nhưng chỉ có vài công ty công ty tài chính cho vay thôi và độ phủ sóng, mạng lưới, sản phẩm… còn hạn chế.

Continue reading

BITCOIN: TIN TỐT VÀ XẤU VỀ TIỀN ẢO

NEAL KOBLITZ (Hảo Linh dịch)

Đầu tháng 11 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã khẳng định rằng: “việc phát hành, cung ứng, sử dụng bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm tại Việt Nam” do những rủi ro không thể lường trước.

Theo các chuyên gia, đúng là bitcoin có ẩn chứa nhiều rủi ro nhưng cũng đầy tiềm năng để thúc đẩy sự tự do, đổi mới sáng tạo của xã hội. Bài viết dưới đây của giáo sư Neal Koblitz, một trong hai tác giả độc lập sáng tạo ra Hệ mật đường cong Elliptic vào năm 1985, nền tảng cho công nghệ chữ kí số của Bitcoin nhằm phân tích về ảnh hưởng của đồng tiền này và cách tiếp cận nó

Bitcoin là gì và nó hoạt động như thế nào?

Tiền mặt là phương thức thanh toán chủ yếu cho đến gần đây. Ở nhiều nơi trên thế giới, giờ đây thanh toán bằng tiền mặt đã được thay thế bằng thanh toán điện tử, chủ yếu là thẻ tín dụng. Các hệ thống thanh toán này được kiểm soát bởi các ngân hàng lớn và sử dụng những đồng tiền chính phủ như USD, đồng Euro hay Yên Nhật.

Bitcoin là một loại tiền tệ mới, ra đời năm 2009, không cần một trung tâm kiểm soát như ngân hàng hay chính phủ, mà hoàn toàn do cộng đồng người dùng quản lý. Việc vận hành chính xác của nó được đảm bảo nhờ các tính chất toán học của một số công cụ mật mã.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG TIỀN ẢO: HAI LUỒNG QUAN ĐIỂM TRÁI CHIỀU

XUÂN THANH (Tổng hợp từ BIS tháng 9/2017; CNBC; Coindesk; FT, IMF, Reuters)

Còn quá sớm để khẳng định, các NHTW có nên phát hành tiền ảo hay không, trong bối cảnh rất khó đánh giá đầy đủ những rủi ro liên quan đến tiền ảo và công nghệ hỗ trợ tiền ảo vẫn chưa được sáng tỏ. Dưới đây là tổng hợp một số thông tin về vấn đề này.

Sau khi giảm xuống mức giá thấp nhất 2.951 USD vào giữa tháng 9/2017, ngày 18/9/2017, tiền ảo Bitcoin bắt đầu tăng giá trở lại, chấm dứt chuỗi ngày giảm giá kéo dài khoảng hai tuần lễ, khi chính phủ Trung Quốc rầm rộ triển khai kế hoạch đóng cửa các sàn giao dịch tiền ảo của Trung Quốc. Trong những ngày đầu tháng 10/2017, đồng tiền ảo này đang dao động quanh mức giá 4.500 USD, tăng trên 300% so với đầu năm, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức và cá nhân, nhất là các chuyên gia công nghệ và tầng lớp giàu có trong xã hội.

Yếu tố cơ bản dẫn đến xu hướng phục hồi này bắt nguồn từ những đồn đoán của các thành viên tham gia giao dịch tiền ảo với nhận định chung cho rằng, các sàn giao dịch tại Trung Quốc không còn khả năng chi phối thị trường tiền điện tử, những thị trường khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư do thể chế và tính thanh khoản cao.

Theo ghi nhận của thị trường, sau khi các sàn giao dịch Bitcoin Trung Quốc đóng cửa, nhiều nhà đầu tư đã nhanh chóng chuyển sang thị trường Nhật Bản, khiến khối lượng giao dịch tại thị trường này tăng mạnh trong ngắn hạn. Thậm chí, tỷ phú Tim Draper (nhà đầu tư mạo hiểm người Mỹ) còn đưa ra nhận định đầy lạc quan khi cho rằng, đây là tín hiệu tốt lành, tiền điện tử sẽ không bị thêm bất cứ quốc gia nào nữa khai tử. Theo trang tin Cointelegraph, thị phần giao dịch Bitcoin tại Nhật Bản đang dẫn đầu thế giới với tỷ trọng 50,75%.

Continue reading

BẢO LÃNH NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI: TỪ QUY ĐỊNH ĐẾN THỰC TIỄN

 KHUÊ NGUYỄN

Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao.

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 42 ngân hàng thương mại đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai cho khách hàng theo quy định tại Thông tư 13/2017/TT-NHNN. Bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi người mua nhà và làm lành mạnh thị trường bất động sản, được thị trường đánh giá cao. Song từ quy định tới thực tiễn triển khai đâu đó vẫn còn có những bất cập và vướng mắc cần tháo gỡ.

Tìm hiểu trên thị trường, cũng không hiếm các dự án bất động sản được ngân hàng cam kết bảo lãnh. Ngay từ năm 2015, BIDV và VietinBank ký kết hợp tác bảo lãnh dự án của Tập đoàn Đất Xanh, VPBank và SeABank ký kết bảo lãnh tại các dự án do Novaland triển khai. Năm 2016, TPBank cũng cam kết bảo lãnh cho người mua nhà tại dự án của Tập đoàn Nam Cường, PVcomBank bảo lãnh cho dự án Tabudec Plaza. SHB cũng cam kết bảo lãnh tiến độ siêu dự án Cocobay, cam kết bảo lãnh tài chính cho dự án Tara Residence…

Nhưng nếu so với con số 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai thì số dự án được ngân hàng bảo lãnh vẫn còn tương đối khiêm tốn. Điều này sẽ thay đổi trong thời gian tới. Bởi, nếu trước kia, các chủ đầu tư rao bán dự án nhà ở chỉ thông báo có ngân hàng đứng sau bảo lãnh thì nay cụ thể và rõ ràng hơn.

Continue reading

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

 TS. LÊ THỊ THÙY VÂN – Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, với nhiều biến động. Cùng với sự phát triển của thị trường, thể chế thị trường chứng khoán cũng từng bước được hoàn thiện về các mặt như thể chế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, thể chế về sản phẩm trên thị trường, thể chế về tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường, và thể chế về hệ thống giám sát giao dịch. Nhờ đó, trong 20 năm qua, thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô, sản phẩm phát triển đa dạng, cơ chế quản lý, giám sát ngày càng được hoàn thiện.

Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần được chú trọng trong quá trình phát triển TTCK như: TTCK phát triển thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường quốc tế, quy mô còn nhỏ so với các nước trong khu vực trong khi sản phẩm trên thị trường chưa đa dạng, chưa có nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp; đặc biệt khung khổ pháp lý vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục để đáp ứng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bài viết phân tích quá trình hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam, đánh giá những tác động tích cực và nhận diện một số vấn đề đặt ra đối với TTCK. Trên cơ sở đó, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện thể chế và phát triển bền vững TTCK Việt Nam đến năm 2020.

1. Quá trình hoàn thiện thể chế thị trường chứng khoán Việt Nam

Quá trình hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam tập trung vào 4 trọng tâm chính bao gồm: (i) Thể chế xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán; (ii) Thể chế về sản phẩm trên thị trường chứng khoán; (iii) Thể chế về tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán; và (iv) Thể chế về quản lý, giám sát.

Continue reading

VƯỚNG MẮC VỀ LÃI SUẤT, PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

 NGỌC TRÂM

Trong thời gian qua, do chưa có sự nhận thức thống nhất về các quy định pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng, dẫn đến tình trạng trong thực tiễn xét xử, cùng loại tranh chấp hợp đồng tín dụng, trong đó các bên thỏa thuận về lãi suất, thỏa thuận phạt vi phạm nhưng có Tòa án xử chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm; có Tòa án xử chỉ chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn mà không chấp nhận phạt vi phạm vì cho rằng tính lãi suất quá hạn đồng thời phạt vi phạm là “lãi chồng lãi”, “phạt chồng phạt”.

I. Một số hạn chế, vướng mắc

Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng trong thời gian qua có một số hạn chế, vướng mắc sau: Hợp đồng tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc do các bên thỏa thuận. Theo nguyên tắc này thì lãi suất, lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận; phạt vi phạm cũng do các bên thỏa thuận.

Lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm được quy định trong các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật.

1. Về lãi suất, phạt vi phạm hợp đồng

Có thể thấy, lãi suất, lãi suất nợ quá hạn và phạt vi phạm đều được quy định trong các bộ luật dân sự:

– BLDS năm 1995 (Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 313); phạt vi phạm (Điều 377); mức phạt vi phạm (Điều 378); quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (Điều 379); nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Điều 471); lãi suất Điều 473).

Continue reading

ĐIỀU LỆ MẪU ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG (Ban hành kèm theo Thông tư số 95/2017/TT-BTC ngày 22/9/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 6/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng)

ĐIỀU LỆ MẪU

ÁP DỤNG ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

ĐIỀU LỆ

CÔNG TY CỔ PHẦN

(Tên Công ty)

…, Ngày … tháng … năm 20 …

PHẦN MỞ ĐẦU

Điều lệ này được thông qua theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông tại đại hội tổ chức vào ngày … tháng … năm …

I. ĐỊNH NGHĨA CÁC THUẬT NGỮ TRONG ĐIỀU LỆ

Điều 1. Giải thích thuật ngữ

1. Trong Điều lệ này, những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a. "Vốn điều lệ" là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp và quy định tại Điều 6 Điều lệ này;

b. "Luật doanh nghiệp" là Luật doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;

c. "Luật chứng khoán" là Luật chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: