Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HÒA ITALIA VÀ VƯƠNG QUỐC HÀ LAN TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. CỘNG HÒA ITALIA

Cải cách thị trường lao động

Thị trường lao động của Italia đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do tác động của khủng hoảng kinh tế và vấn đề nợ công. Số lượng doanh nghiệp vừa nhỏ chiếm tỷ lệ cao, tính linh hoạt của loại hình doanh nghiệp này đã bị hạn chế do sự thay đổi chậm chạp của các chính sách quản lý vĩ mô dẫn đến nhiều hệ lụy như: Cơ hội việc làm suy giảm; tính ổn định và an toàn của việc làm bị ảnh hưởng mạnh; khả năng tiếp cận thị trường và việc làm của người lao động ngày một khó khăn hơn…

Italia đang đẩy mạnh quá trình cải cách chính sách về lao động, thị trường lao động và an sinh xã hội. Việc cải cách tập trung nhiều đến các vấn đề về tuổi nghỉ hưu và tính bền vững tài chính Quỹ hưu trí bởi tác động của tỷ lệ già hóa tăng nhanh, tỷ lệ đóng hưởng bảo hiểm hưu trí chưa hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp cao (khoảng 9%), tỷ lệ lao động trẻ khá lớn (chiếm 40%)… và đời sống xã hội biến động do khủng hoảng kinh tế trầm trọng[1].

Quá trình cải cách tập trung vào sửa đổi pháp luật lao động, trong đó chú trọng hợp đồng lao động dài hạn linh hoạt, đa dạng các chế độ an sinh xã hội nhằm mục tiêu xây dựng thị trường lao động ổn định và bảo vệ người lao động tốt hơn. Nội dung cốt lõi của cải cách nhằm hướng tới bảo đảm an sinh xã hội và nhấn mạnh bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với bảo hiểm thất nghiệp, Chính phủ đã đưa ra các loại hình đa dạng hơn (bảo hiểm thất nghiệp thông thường, bất thường, khi bị sa thải và ngoại lệ) kèm theo là những điều kiện, yêu cầu cụ thể ràng buộc chặt chẽ về loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề … thay đổi tùy thuộc vào điều kiện thực tế từng năm. Mục tiêu của chế độ này là tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ và tiếp cận dịch vụ, hỗ trợ đào tạo lại, trong đó quan tâm đến lao động nữ.

Continue reading

Advertisements

TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN Ở CỘNG HÒA PHÁP

LUC BARBIER – Thẩm phán, Thành viên Hội đồng thẩm phán tối cao, Cộng hòa Pháp

Nước Pháp có khoảng 63 triệu dân trong đó khoảng 7.500 là thẩm phán (6.500 thẩm phán làm việc tại tòa, số còn lại làm việc tại các cơ quan trung ương của các bộ, ngành hoặc được biệt phái sang các cơ quan khác).

Ở Pháp, những người được gọi là thẩm phán bao gồm thẩm phán công tố và thẩm phán xét xử. Khác với nhiều nước khác, Pháp thiết lập một ngạch thẩm phán duy nhất. Việc đào tạo thẩm phán được tiến hành tại Trường thẩm phán quốc gia theo một chương trình chung và thẩm phán là người duy nhất có quyền quyết định sẽ trở thành thẩm phán đứng (thẩm phán công tố, vì đứng phát biểu tại phiên tòa) hoặc thẩm phán ngồi (thẩm phán xét xử, vì ngồi xét xử tại phiên tòa).

Để đảm bảo sự độc lập của cơ quan tư pháp, thẩm phán không thể được bổ nhiệm vào một vị trí mà họ không lựa chọn, trừ trường hợp bị xử lý kỷ luật theo quyết định của Hội đồng thẩm phán tối cao.

Hội đồng thẩm phán tối cao được thành lập theo Hiến pháp và có nhiệm vụ trợ giúp Tổng thống, cũng là Chủ tịch Hội đồng, trong việc bảo đảm sự độc lập của cơ quan tư pháp là nhiệm vụ mà Hiến pháp giao cho Tổng thống.

Hội đồng này là một thiết chế đặc biệt do có thành phần hỗn hợp. Hội đồng bao gồm các đại diện do các cơ quan nhà nước cao nhất chỉ định (Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện, Hội đồng toàn thể Tham chính viện) và các thẩm phán (12). (giải thích thêm về ban thẩm phán xét xử và ban thẩm phán công tố của Hội đồng, mỗi ban có 10 thành viên trong đó 6 thẩm phán và 4 người khác).

Continue reading

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT TẠI MỘT SỐ NƯỚC THEO HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW KIỂU ĐỨC Ở CHÂU ÂU: NHÌN TỪ VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ LATIN

TS. NGUYỄN NGỌC KIỆN – Trường Đại học Luật Huế

THS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

Tóm tắt

Giải thích pháp luật đóng vai trò quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn bởi giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật là hai vấn đề luôn tương hỗ và không thể tách rời nhau. Trong phạm vi bài viết, vấn đề giải thích pháp luật được phân tích dựa trên tinh thần của các thuật ngữ Latin, vốn đã được hình thành từ trong lòng nền pháp chế La Mã và được kế thừa tại các nước civil law kiểu Đức tại Châu Âu. Đồng thời bài viết cũng đề xuất một phương thức giải thích pháp luật mang tính đa diện được sử dụng rất phổ biến tại các nước theo hệ thống pháp luật civil law kiểu Đức.


Các nước civil law kiểu Đức quan niệm rằng giải thích pháp luật có liên quan mật thiết đến tính bất khả vẹn toàn của pháp luật. Bởi nếu pháp luật hoàn thiện và không có bất kỳ một sai sót nào thì cơ quan áp dụng pháp luật sẽ áp dụng trực tiếp mà không cần giải thích. Ngược lại, nếu thừa nhận pháp luật có khiếm khuyết, nói khác đi là mang tính bất khả vẹn toàn, thì pháp luật khi được áp dụng cần phải được giải thích. Giải thích pháp luật rõ ràng là không thể tách rời khỏi bản thân văn bản pháp luật. Hơn nữa, giải thích pháp luật phải được tiếp cận dưới cả hai góc độ là nội hàm và ngoại diên của điều khoản cần giải thích. Điều này cũng có nghĩa rằng cơ quan giải thích pháp luật phải tìm hiểu và giải thích cho được cả nội dung và hình thức của câu từ, đồng thời nắm bắt được các ý nghĩa và mục đích của văn bản. Ngoài ra, khi giải thích pháp luật, cơ quan giải thích cần phải sử dụng một biện pháp mang tính đa diện, kết hợp hài hòa giữa các thành tố: ngữ pháp, mục đích luận và lịch sử.

Continue reading

PHÂN BIỆT TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN VIÊN CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

GS.PIERRE DELVOLVÉ – Trường đại học tổng hợp Panthéon-Assas (Paris 2)

Tiêu đề bài tham luận của tôi là phân biệt trách nhiệm của cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước, trách nhiệm của cơ quan lập pháp, cơ quan tài phán và cơ quan hành chính. Trên thực tế, nếu tập hợp các yếu tố cơ bản của hai tiêu đề này thì có thể nhận thấy đây là sự phân tách các khía cạnh khác nhau của trách nhiệm bồi thường nhà nước để xác định trong từng trường hợp ai phải chịu trách nhiệm. Có ba cấp độ xác định người phải chịu trách nhiệm. Cấp độ thứ nhất là phân biệt trách nhiệm của các pháp nhân công pháp với nhau. Cấp độ thứ hai là phân biệt trách nhiệm trong nội bộ một pháp nhân công pháp, chủ yếu là ở cấp Nhà nước trung ương, giữa các cơ quan thuộc ba loại khác nhau : cơ quan lập pháp, cơ quan tài phán, cơ quan hành chính. Cấp độ thứ ba là xác định trong một cơ quan nhà nước hành động thông qua nhân viên của mình, ai là người phải chịu trách nhiệm, là cơ quan đó hay là nhân viên của cơ quan đó. Căn cứ vào ba cấp độ này, tôi sẽ trình bày cách thức xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước.

Cấp độ thứ nhất là phân biệt trách nhiệm của các pháp nhân công pháp với nhau. Tôi hơi ngần ngại khi đề cập đến vấn đề này vì báo cáo của đoàn Việt Nam và Trung Quốc hôm qua cho thấy là chỉ có một pháp nhân công pháp là Nhà nước và nếu phải thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước thì đó chỉ có thể là trách nhiệm của Nhà nước. Nhưng tôi cho rằng ngay cả trong một Nhà nước đơn nhất như Nhà nước Trung Quốc hay Nhà nước Việt Nam thì cũng đặt ra vấn đề phân định thẩm quyền và phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan khác nhau của Nhà nước.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở LIÊN BANG THỤY SỸ

ALFREDO SANTOS – Viện luật so sánh Thụy Sỹ, Lausanne

1. Khái quát về vấn đề phân chia thẩm quyền giữa Liên bang và các bang

Thuật ngữ « Confédération » trong Hiến pháp Thụy Sỹ bằng tiếng Pháp và tiếng Ý không còn phù hợp từ năm 1848. Thực vậy, kể từ thời điểm đó, Thụy Sỹ không còn là một liên hiệp Nhà nước mà là một Nhà nước liên bang hiện nay gồm 26 bang.

Trong một Nhà nước liên bang, việc phân chia thẩm quyền là vấn đề chủ chốt. Các quy định của Hiến pháp đưa ra câu trả lời cho vấn đề này và thể hiện cụ thể mô hình liên bang của một nước. Thực vậy, điều quan trọng nhất là phân chia thẩm quyền giữa Nhà nước liên bang và các bang thuộc Liên bang.

Trong trường hợp cụ thể của Liên bang Thụy Sỹ, Điều 3 Hiến pháp quy định ”điều khoản chung về thẩm quyền“ như sau:

Điều 3 – Các bang

Các bang có chủ quyền trong trường hợp chủ quyền đó không bị giới hạn bởi Hiến pháp liên bang và thực hiện tất cả các quyền không được giao cho Liên bang”.

Thuật ngữ chủ quyền chủ yếu có ý nghĩa về mặt lịch sử và mang tính chất tượng trưng. Nó nhắc lại một điều là chính các bang đã thành lập ra Liên bang chứ không phải ngược lại. Vào thời điểm soạn thảo Hiến pháp năm 1848, các bang vẫn còn có chủ quyền. Các nhà lập hiến năm 1874 và 1999 đã giữ lại thuật ngữ này như một “công trình”.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

BỘ TƯ PHÁP

I. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

1. Sự phát triển của quyền tiếp cận thông tin theo pháp luật quốc tế, pháp luật khu vực và pháp luật quốc gia

Quyền tiếp cận thông tin (hay còn gọi là quyền tự do thông tin hoặc quyền tiếp cận thông tin) được ghi nhận như một trong những quyền cơ bản của con người và được các văn kiện pháp lý quốc tế xếp trong nhóm các quyền dân sự – chính trị. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “quyền tiếp cận thông tin” được sử dụng để biểu đạt một loại quyền rất căn bản mà mọi người ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng, dù theo cách thức trực tiếp hay gián tiếp, đó là quyền được biết thông tin của nhà nước để thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.

a) Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin:

Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tại Thụy Điển trong Luật về Tự do báo chí[1]. Đạo luật này, một mặt, cho phép tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước”, mặt khác, công nhận cho công dân có quyền được “tiếp cận tài liệu công”[2]. Đây là hai khía cạnh cơ bản, quan trọng nhất trong nội hàm của khái niệm quyền tiếp cận thông tin. Về mặt lịch sử lập pháp, có lẽ trong suốt gần hai thế kỷ sau khi các nhà lập pháp Thụy Điển cho ra đời khái niệm quyền được thông tin nói trên, chưa ghi nhận được văn bản pháp lý nào chứa đựng những quy phạm tiến bộ hơn và sâu sắc hơn khái niệm quyền được thông tin của Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển.

Continue reading

TỔNG THUẬT PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

BỘ TƯ PHÁP

A. Văn bản pháp luật về bán đấu giá tài sản của các nước trên thế giới

Cũng tương tự như các ngành luật khác, pháp luật về bán đấu giá tài sản của các quốc gia trên thế giới về cơ bản được chia thành hai dòng pháp luật gồm pháp luật về bán đấu giá tài sản thành văn (pháp luật Châu Âu lục địa) và pháp luật án lệ (pháp luật Anh – Mỹ).

Theo đó, tại đa số các quốc gia, pháp luật về bán đấu giá tài sản được quy định trong các Bộ luật Dân sự, với tính chất là một đạo luật gốc, có vị trí quan trọng trong pháp luật dân sự của các nước như Bộ luật Dân sự và Bộ Luật thương mại Cộng hòa Pháp, Luật Thương mại Hoa kỳ, Luật Thương mại Cộng hòa liên bang Đức, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Bộ luật Dân sự Nhật Bản…). Một số quốc gia khác lại ban hành luật về bán đấu giá tài sản với tư cách là một đạo luật độc lập như Luật về bán đấu giá của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa…

B. Quy định pháp luật của các nước về đấu giá tài sản

I. Quy định chung

1. Khái niệm về đấu giá tài sản

Theo quan niệm truyền thống, đấu giá là việc mua bán hàng tài sản công khai mà những người mua sẽ trả giá từ giá thấp cho tới khi trả giá cao nhất và người bán đấu giá đồng ý bán bằng cách gõ búa. Dưới góc độ pháp lý, theo quy định cảu pháp luật của hầu hết các nước, định nghĩa về bán đấu giá tài sản thường được quy định trong những điều luật cụ thể: Chẳng hạn điều 3, Luật về bán đấu giá tài sản nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa năm 1996 quy định “Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất”. Đạo luật của Floriada năm 2003 đưa ra khái niệm “Bán đấu giá tuyệt đối” là cuộc bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng hoá sẽ được bán cho người trả giá cao nhất. Còn Quy chế của Ủy ban đấu giá bang Alabama (Hoa kỳ) đưa ra khái niệm: “Bán đấu giá là việc bán công khai một tài sản cho người trả giá cao nhất”.

Continue reading

CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ TẠI NHẬT BẢN

GS. SHUNICHI INOUE – Trường Cao đẳng Khoa học và Nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)

Không giống như những quốc gia Đông Á khác, Chính phủ Nhật Bản không bảo trợ cho chương trình kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) trong suốt quá trình quá độ dân số, trừ một khoảng thời gian rất ngắn.

Theo kết quả điều tra khảo sát định kỳ của Ban Dân số Liên Hiệp Quốc về những chính sách và chương trình dân số được ban hành chính thức, hành động cụ thể duy nhất của Chính phủ Nhật Bản trong việc tác động đến các xu thế dân số là nỗ lực điều chỉnh phân bố dân cư theo vùng tại Nhật Bản (Ban Dân số Liên Hiệp Quốc, 1995). Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu suy luận rằng Chính phủ không quan tâm đến các vấn đề dân số hay không hoạch định chính sách dân số.

Cũng như các quốc gia khác, những đặc trưng dân số của Nhật Bản có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, và Chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển này. Vậy thì tại sao Chính phủ lại không bảo trợ cho chương trình KHHGĐ? Tại sao mức sinh lại giảm tại Nhật Bản trong khi thiếu một chương trình như vậy? Những biến động dân số đã tác động đến phát triển kinh tế như thế nào và Chính phủ có vai trò gì trong việc định hướng các xu thế dân số để đáp ứng các nhu cầu kinh tế?

Chương này tập trung kiểm điểm từng bước phát triển của các chính sách dân số Nhật Bản và các mối quan hệ tương tác giữa những chính sách này với phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại hoá, đặc biệt là sau Đại chiến Thế giới thứ II.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: