BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)
Advertisements

TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP TẠI CỘNG HÒA PHÁP

 NATHALIE CHAUVETCơ quan Lý lịch Tư pháp Quốc gia Cộng hòa Pháp

1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia

1.1 Lịch sử hình thành

Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia là cơ quan cấp trung ương trực thuộc Vụ Hình sự và Ân xá của Bộ Tư pháp Cộng hòa Pháp. Bộ Tư pháp Cộng hòa Pháp có 2 vụ lớn là Vụ Dân sự và Ấn tín (Luật tư) và Vụ Hình sự và Ân xá (Luật hình sự). Ngoài ra, còn có Vụ Quản lý tòa án chịu trách nhiệm quản lý các cơ quan xét xử, thẩm phán và công chức nhà nước làm việc trong các cơ quan đó, Vụ Hành chính chịu trách nhiệm quản lý các trại giam và Vụ Bảo trợ tư pháp thanh thiếu niên chịu trách nhiệm quản lý các trường hợp phạm tội là trẻ em.

Ở Pháp, trước đây lý lịch tư pháp do các tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng nơi sinh của đương sự quản lý. Sau đó Bộ Tư Pháp đã thành lập Trung tâm Lý lịch tư pháp trung ương, trực thuộc Vụ Hình sự và Ân xá. Đến năm 1966, Trung tâm này được chuyển về thành phố Nantes. Luật số 80-2 ngày 4/1/1980 (được pháp điển hóa thành các Điều từ 768 đến 781 và R.62 đến R.90 của Bộ luật Tố tụng hình sự) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc tin học hóa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và thành lập một trung tâm dữ liệu điện tử thống nhất về lý lịch tư pháp vẫn đặt tại Nantes thay thế cho Trung tâm Lý lịch tư pháp trung ương. Trung tâm này có tên gọi là Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (Trung tâm) bắt đầu hoạt động từ năm 1982.

Continue reading

Advertisements

HIẾN PHÁP NGÀY 4 THÁNG 10 NĂM 1958 CỦA CỘNG HOÀ PHÁP (CÁC LẦN SỬA ĐỔI ĐẾN NĂM 2000)

CÁO THỊ

1° Bản chữ in nghiêng của Điều 11 của Hiến pháp có hiệu lực trong các điều kiện quy định trong các luật và luật về tổ chức cần thiết áp dụng theo Điều 46 của Luật Hiến pháp số 2008-724 ngày 23 tháng 7 năm 2008;

2° Điều 88-5 không áp dụng đối với việc tham gia hội thảo liên chính phủ mà do Hội đồng Châu Âu quyết định triệu tập trước ngày 01 tháng 07 năm 2004, theo Điều 47 của Luật Hiến pháp số n0 2008-724 ngày 23 tháng 7 năm 2008.

Từ khi có hiệu lực đến nay, Hiến pháp của Cộng hoà Pháp đã qua 15 lần sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là từ năm 1992 trở lại đây, cùng với quá trình xây dựng Liên minh châu Âu, hầu như năm nào Pháp cũng tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Tuy nhiên, trong tất cả các lần sửa đổi Hiến pháp, chỉ có lần sửa đổi năm 1962 là lần sửa đổi quan trọng nhất, chuyển sang áp dụng chế độ bầu cử Tổng thống theo nguyên tắc trực tiếp và phổ thông đầu phiếu.

Cụ thể các lần sửa đổi Hiến pháp là như sau:

– Tháng 11/1962: Bầu Tổng thống theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu;

– Tháng 12/1963: Sửa đổi, bổ sung các quy định về khoá họp của Nghị viện;

– Tháng 10/1974: Quy định trường hợp có thể chuyển một đạo luật thông thường (Xem chú thích trang 3) sang cho Hội đồng Hiến pháp xem xét khi có đề nghị của 60 đại biểu Hạ viện hoặc 60 Thượng nghị sỹ;

Continue reading

PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VỀ BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN VÀ CÁC GỢI Ý CHO VIỆT NAM

TS. NGUYỄN THỊ KIM NGÂN – Khoa Pháp luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

1. Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Singapore

1.1 Các văn bản pháp luật của Singapore về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Ngày 15/10/2012, Nghị viện Singapore thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (DLCN)[1]. Luật công nhận quyền của các cá nhân trong việc bảo vệ các DLCN của chính họ, đồng thời thừa nhận sự cần thiết của việc các tổ chức tiến hành thu thập, sử dụng và tiết lộ thông tin cá nhân vì những mục đích phù hợp với những hoàn cảnh nhất định. Bên cạnh Luật Bảo vệ DLCN, một số văn bản pháp luật chuyên ngành của Singapore cũng quy định về vấn đề này như: Luật An ninh mạng và máy tính; Luật Bí mật công vụ, Luật Thống kê; Luật Giao dịch điện tử, Luật Ngân hàng, Luật Viễn thông[2]. Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích quy định của Luật Bảo vệ DLCN năm 2012.

1.2 Nội dung cơ bản của Luật bảo vệ DLCN năm 2012

a. Định nghĩa DLCN

Theo quy định của Điều 2.1 Luật Bảo vệ DLCN, DLCN là các dữ liệu, dù đúng hay sai, về một cá nhân mà có thể xác định được danh tính của họ từ các dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác mà các tổ chức có hoặc có thể có quyền truy cập. Một số loại thông tin được loại trừ khỏi định nghĩa DLCN: thông tin liên hệ kinh doanh; thông tin về một cá nhân được lưu lại trong các bản ghi đã tồn tại ít nhất 100 năm; thông tin cá nhân về một người đã mất hơn 10 năm; thông tin cá nhân đã được công khai.

Continue reading

BẮT GIỮ TÀU BIỂN THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP

YVES TASSEL – Giáo sư luật học, Trường Đại học Nantes

ABEL PANSARD – Thừa phát lại

Tôi xin các bạn lưu ý là trong lĩnh vực pháp luật cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống, chúng ta phải hình dung ra được hai thái cực của chúng. Ở đây, một thái cực có liên quan đến khía cạnh kỹ thuật của pháp luật, còn thái cực kia liên quan đến các ý tưởng chủ quan của con người, ở mức độ nào đó, đó là những ý tưởng, những quan niệm về văn hoá, về chính trị. Cả hai thái cực này đều rất quan trọng, có thể chi phối các lĩnh vực của pháp luật, kể cả trong lĩnh vực luật hàng hải. Khi đi sâu nghiên cứu về pháp luật, ta có thể thấy đây là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, có thể chia thành nhiều ngành luật khác nhau.

Về mặt truyền thống pháp lý, chúng tôi phân biệt rất rõ ràng một bên là các quan hệ giữa các cá nhân với nhau và một bên là các quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước và với các chủ thể của Nhà nước. Dựa vào đó, chúng tôi phân ra làm hai ngành luật chủ yếu là ngành tư pháp và ngành công pháp. Tuy nhiên, khi đi sâu hơn vào ngành tư pháp, chúng ta còn thấy rất nhiều mối quan hệ khác nhau giữa các cá nhân. Như vậy, ngành luật tư pháp còn có thể được chia thành rất nhiều ngành luật nhỏ nữa, ví dụ như luật hôn nhân gia đình, luật thương mại hay luật tư pháp quốc tế. Và đôi khi, ở Pháp người ta còn nói đến luật hàng hải. Tuy nhiên, luật hàng hải là một ngành luật rất đặc biệt vì nó điều chỉnh các vật và các sự kiện có liên quan đến biển, mà biển là một không gian trên đó không phải lúc nào cũng có quyền tài phán của các quốc gia. Trong khi đó, chủ quyền của một quốc gia trên phần lãnh thổ (đất liền) là tuyệt đối. Do đó, tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động trên lãnh thổ đều xuất phát từ những cơ quan lập pháp của quốc gia đó. Nhưng, những quy phạm pháp luật liên quan đén biển và các phương tiện đi lại trên biển chủ yếu thuộc lĩnh vực luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là đặc thù của pháp luật hàng hải: Có liên quan đến biển và các phương tiện giao thông, các sự kiện xảy ra trên biển. Chúng ta có thể nhận thấy điều này thông qua pháp luật về bắt giữ tàu biển.

Continue reading

XÁC ĐỊNH HÀNH VI VI PHẠM TRÊN CƠ SỞ BẢN CHẤT PHẢN CẠNH TRANH CỦA HÀNH VI THEO PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CHÂU ÂU

 PHÙNG VĂN THÀNH – Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương

I. Giới thiệu và phân loại hành vi theo Điều 101, TFEU

Điều 101 trong Hiệp ước hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU – Treaty on the Functioning of the European Union) là một trong những điều khoản cơ bản làm nền tảng pháp lý cho pháp luật cạnh tranh hay pháp luật chống độc quyền của Châu Âu. Điều 101 quy định mọi thoả thuận giữa các chủ thể trên thị trường, quyết định của hiệp hội và các hành vi phối hợp khác mà có thể gây ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên và mang tính chất hoặc có tác động ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch bóp méo cạnh tranh trên thị trường chung trong liên minh đều bị cấm bởi không phù hợp với tinh thần và mục tiêu chung của thị trường.

Trước tiên có thể thấy quy định trên đây đã nêu rõ hai dạng hành vi khác nhau dựa trên mức độ cam kết giữa các thành viên tham gia đó là hành vi thoả thuận và hành vi phối hợp. Thoả thuận là trường hợp có sự trao đổi, gặp gỡ và đi đến thống nhất ý chí (meeting of mind) giữa hai hay nhiều chủ thể kinh doanh trên thị trường về một hay một số các yếu tố kinh doanh. Vì vậy, trong trường hợp thoả thuận thường có sự cam kết cao nhất của các thành viên đối với những nội dung đã được thống nhất, ít nhất là về mặt hình thức. Trong nhiều trường hợp các bên tham gia thoả thuận còn đặt ra các hình thức hay biện pháp chế tài để đảm bảo thực hiện các nội dung đã cam kết. Thoả thuận có thể thông qua nhiều hình thức khác nhau như thoả thuận miệng (trao đổi miệng trực tiếp, điện thoại…) hoặc bằng văn bản (email, thư tín, quyết định cuộc họp, biên bản cuộc họp, biên bản thoả thuận…). Trong trường hợp hành vi phối hợp không có sự thống nhất và tính cam kết cao như thoả thuận. Đây là trường hợp giữa các doanh nghiệp có sự ngầm hiểu với nhau về một vấn đề nào đó và từ đó có thể đưa ra những hành vi kinh doanh mang tính tương đồng.

Continue reading

HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH Ở HOA KỲ VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM

THS. HỒ MINH THÀNH – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

Chính sách của các quốc gia nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền kết hôn đối với người đồng tính có sự khác biệt đáng kể trên toàn cầu. Theo Chiến dịch Nhân quyền, hôn nhân đồng giới là hợp pháp ở 20 quốc gia, hợp pháp ở một số khu vực tài phán ở 2 quốc gia, phạm tội hình sự ở 75 quốc gia và bị trừng phạt bằng cái chết ở 10 quốc gia[1]. Trong khi các cuộc tranh luận về quyền của người đồng tính đã diễn ra trong nhiều thập kỷ, chỉ mới gần đây, hôn nhân đồng tính(HNĐT) mới vươn lên dẫn đầu chương trình nghị sự xã hội ở nhiều nước châu Âu và châu Mỹ. Tại Hoa Kỳ, bên cạnh sự thay đổi chính sách về thừa nhận hôn nhân đồng giới, Toà án tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết rằng, quyền kết hôn của các cặp đồng giới sẽ được bảo vệ trên toàn bộ 50 bang của nước này từ năm 2015. Phán quyết này đã được sự hưởng ứng và ủng hộ của dư luận xã hội. Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Pew 2017a cho thấy, sự ủng hộ cho HNĐT đã tăng từ 35% trong năm 2001 lên 62% trong năm 2017[2]

1. Khái quát về hôn nhân đồng tính theo pháp luật Hoa Kỳ

1.1. Cặp đôi đồng giới đầu tiên kết hôn hợp pháp trong lịch sử Hoa Kỳ

Ngày 18/05/1970, hai người đàn ông là Jack Baker và Micheal McConell đã nộp đơn cho Thư ký Toà án Gerald R. Nelson tại Hạt Hennepin để yêu cầu đăng ký kết hôn (ĐKKH). Tuy nhiên Thư ký Toà án này đã từ chối đơn vì hai người yêu cầu ĐKKH có cùng giới tình. Không đồng tình với quyết định đó, cặp đôi này đã khởi kiện với lập luận, pháp luật vào thời điểm hiện tại không hề có quy định cấm kết hôn đồng giới và họ hoàn toàn đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 1, 4, 8 và 9 Hiến pháp Mỹ. Tuy nhiên, nỗ lực của họ thất bại, kể cả sau khi đã đệ đơn kháng cáo lên toà án cấp cao[3]. Sau đó, Baker và McConnell đã nộp đơn ĐKKH lại, lần này là tại Hạt Blue Earth và họ đã thành công trong việc xin giấy phép kết hôn ngay trước khi Tòa án Minnesota tạm dừng giấy phép kết hôn đối với các cặp đồng giới[4]. Cặp đôi này, do đó, được xem như là "cặp đôi đồng giới đầu tiên kết hôn hợp pháp trong lịch sử"[5]. Đây có thể được xem như là một sự may mắn khi quyết định cấm KHĐT năm 1972 "không hồi tố đối trường hợp của Baker và McConnell" vì hai người đã có được giấy ĐKKH và đã kết hôn "đủ sáu tuần" trước đó.

Continue reading

MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN, THẨM PHÁN, CÁN BỘ TÒA ÁN TẠI CỘNG HÒA PHÁP

1. Điều 64, Hiến pháp 1958 của Cộng hoà Pháp quy định:

Tổng thổng đảm bảo cho sự độc lập của các cơ quan tư pháp. Hội đồng thẩm phán tối cao có trách nhiệm giúp tổng thống thực hiện nhiệm vụ này“.

2. Thành phần và cơ chế hoạt động của Hội đồng thẩm phán tối cao:

– Tổng thống Cộng hoà Pháp là chủ tịch Hội đồng. Chưởng ấn, Bộ trưởng Tư pháp là phó chủ tịch Hội đồng.

– Hội đồng thẩm phán xét xử.

– Hội đồng công tố.

– Phiên họp toàn thể của Hội đồng.

3. Thẩm quyền

* Bổ nhiệm thẩm phán

– Bổ nhiệm thẩm phán xét xử

– Bổ nhiệm công tố viên (Hội đồng chỉ được tham khảo ý kiến).

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CỦA CỘNG HÒA PHÁP VÀ THẢO LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN DỰ THẢO LUẬT CỦA VIỆT NAM

Thẩm phán JÉRÔME DEHARVENG  –  Bộ Tư pháp, Cộng hòa Pháp

Với sự tham gia thảo luận của Luật sư HUBERT DE FREMONT

Trước hết, tôi xin trình bày một số vấn đề chung trong lĩnh vực pháp luật về phá sản doanh nghiệp với các nguyên tắc chung để xử lý các trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Đây là thuật ngữ hay được sử dụng trong các hội nghị quốc tế. Ở đây, người ta hay nói đến việc mất khả năng thanh toán hơn là phá sản doanh nghiệp.

Ngày nay hầu hết tất cả các nước đã bỏ khái niệm xử lý phá sản kèm theo chế tài đối với các doanh nghiệp. Trong nhiều thế kỷ trước đây, xử lý phá sản là thủ tục nhằm áp dụng các chế tài đối với các con nợ không thanh toán được các khoản nợ của mình. Hiện nay, chúng ta đã có một quan niệm mới hiện đại hơn về vấn đề này. Thủ tục xử lý phá sản doanh nghiệp được hiểu là thủ tục xử lý tập thể đối với tài sản của những con nợ không thanh toán được các khoản nợ của mình. Thủ tục xử lý tập thể đã thay thế thủ tục đòi nợ của từng chủ nợ đối với con nợ, nghĩa là khi đã mở thủ tục phá sản doanh nghiệp mang tính tập thể như vậy, quyền đòi nợ cá nhân của mỗi chủ nợ riêng lẻ sẽ tạm thời bị chấm dứt. Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: