SƠ LƯỢC VỀ BREXIT: TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA VƯƠNG QUỐC ANH VÀ EU ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐỂ VƯƠNG QUỐC ANH RÚT RA KHỎI EU

 HỒNG LINH

I. TỔNG QUAN MỐI QUAN HỆ GIỮA ANH VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

Mối quan hệ của Vương quốc Anh với EU từ lâu đã là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong xã hội nước Anh nói chung và chính trường Anh nói riêng. Trước khi tìm hiểu về Brexit, chúng ta cần nhìn lại một số sự kiện nổi bật trong quan hệ đầy sóng gió hơn 40 năm qua giữa Anh và EU.

1. SỰ HÌNH THÀNH EU

Sau khi cuộc chiến tranh Thế giới thứ nhất và thứ hai đã làm kiệt quệ nền kinh tế và mối quan hệ của các nước châu Âu, nhằm hàn gắn và kết nối lại các quốc gia này, ý tưởng về một Liên Minh châu Âu đã được hình thành từ năm 1945.

Tuy nhiên, vào năm 1951, khi Cộng đồng Than thép Châu Âu (ECSC) được thành lập, nước Anh đã từ chối tham gia cộng đồng này. Đến năm 1957, Anh quốc cũng đã từ chối lời mời tham gia Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) của sáu quốc gia sáng lập khác là Bỉ, Pháp, Ý, Luxembourg, Hà Lan và Tây Đức.

2. ANH GIA NHẬP EU

Sau khi nhận thấy Pháp và Đức có sự phục hồi kinh tế nhanh chóng sau chiến tranh và hình thành được một liên minh mạnh mẽ, các nhà lãnh đạo Anh đã thay đổi suy nghĩ của mình về việc gia nhập EEC. Nước này đã nộp đơn tham gia EEC vào năm 1961, nhưng đã bị bác bỏ hai lần bởi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle vào năm 1963 và 1967.

Continue reading

Advertisements

CÔNG CHỨNG VIÊN VỚI VAI TRÒ LÀ BỔ TRỢ VIÊN TƯ PHÁP

Kết quả hình ảnh cho NOTARY  MICHEL CORDIER – Chủ tịch danh dự Hội đồng công chứng tối cao Pháp
 
Trong hệ thống luật Anh-Mỹ, khi soạn thảo hợp đồng, các bên gặp nhau, có sự trợ giúp của người tư vấn riêng của mình và khi có tranh chấp hoặc khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên yêu cầu sự can thiệp của thẩm phán. Còn hệ thống luật Châu Âu lục địa chủ yếu dựa trên các quy định pháp luật thành văn nằm trong các bộ luật. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng và Nhà nước, với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và an toàn pháp lý của các quan hệ hợp đồng, uỷ quyền cho một nhà chuyên nghiệp do mình bổ nhiệm và giám sát để thực hiện chức năng đó.

Chúng ta đều biết rằng nhà chuyên nghiệp đó chính là công chứng viên. Với sự can thiệp của công chứng viên, thủ tục tư pháp có một ngoại lệ vì nhiệm vụ của công chứng viên là phải rất thận trọng trước khi thực hiện hợp đồng để đảm bảo tính hợp pháp của hợp đồng, sự công bằng trong hợp đồng và cả việc bảo quản hợp đồng. Như vậy, công chứng viên giữ vai trò chủ chốt để đảm bảo trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ trợ tư pháp, một vai trò mà tôi gọi là thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp.

Tôi cho rằng chính vai trò mang tính chất phòng ngừa này của công chứng viên là một điểm thuận lợi trong hệ thống luật thành văn so với hệ thống luật Anh-Mỹ. Trong hệ thống Anh-Mỹ, ngoài điều bà SPINOZI đã nói rằng dịch vụ công chứng là một loại dịch vụ pháp lý hai tốc độ, còn có một điểm đặc trưng nữa là trong một môi trường hoàn toàn tự do và khắc nghiệt, với nhu cầu tiên quyết là tìm kiếm lợi nhuận, dịch vụ pháp lý thực sự là một loại hàng hoá chịu sự điều tiết của quy luật kinh tế thị trường, của cơ chế cạnh tranh nên phải được đem ra trao đổi, mua bán, phải nâng cao thị phần và trên cơ sở đó, mặt hàng này phải được quảng cáo và không tuân thủ một biểu giá nào cả. Nhưng cùng với dòng chảy của thời gian, người ta phát hiện ra rằng dịch vụ pháp lý đi theo quy luật này đã nhanh chóng kéo theo những hậu quả tai hại. Việc chạy theo các yêu cầu về bồi thường thiệt hại đã làm cho hệ thống dịch vụ này thực sự trở thành một cỗ máy làm phát sinh tranh chấp, tiêu tốn một khoản chi phí rất lớn trong nền kinh tế của một đất nước, ngoài ra còn phải tính đến chi phí bảo hiểm phát sinh từ việc chạy theo các khoản tiền bồi thường thiệt hại.

Continue reading

NỀN CỘNG HÒA VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TOÀN CẦU

Kết quả hình ảnh cho DEVELOPMENT OF ECONOMY IN KOREA GS. KIM SANGBONG – Đại học Quốc gia Chonnam, Hàn Quốc

Người dịch: THS.VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG

Người hiệu đính: THS. TRẦN TUẤN PHONG

Nói về nền cộng hoà và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc hiện nay, tác giả đã đi đến khẳng định việc đề cao trách nhiệm xã hội đối với công chúng trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội có thể bị hạn chế và đe doạ, nếu nhà nước bị lợi ích kinh tế chi phối. Trong bối cảnh này, để duy trì một nhà nước cộng hoà như một thể chế chính trị thuộc về công chúng, trước hết cần phải làm cho các doanh nghiệp thực sự dân chủ và có khả năng điều tiết nguồn vốn cả về mặt xã hội lẫn về mặt chính trị.

Như chúng ta đều biết, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã phân biệt rõ nhà nước với gia đình, còn gọi là thành bang gia đình, hay lĩnh vực công lĩnh vực tư. Khi đó, người ta đã hiểu rằng, công việc chính trị không giống với việc quản lý gia đình. Trong khi chính trị là sự thực hiện quyền tự do công dân, còn quản lý gia đình nhằm mưu cầu sự giàu có. Nghĩa là, đối với người Hy Lạp và người La Mã cổ đại, kinh tế thuộc về lĩnh vực tư nhân.

Song, trong thời đại ngày nay, kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất của nhà nước (lĩnh vực công) và chi phối cả chính trị. Nhưng, tiền bạc thì lại không hàm chứa đặc tính công  như vậy, bởi nó hoàn toàn là sở hữu (mang tính) tư nhân. Khi việc theo đuổi sự giàu có (thịnh vượng về mặt vật chất) trở thành mục đích cao nhất của một quốc gia, thì nhà nước đó hẳn sẽ dần đánh mất đặc tính công và khi đó chế độ dân chủ sẽ rơi vào tình trạng bế tắc như chúng ta có thể thấy ở Hàn Quốc gần đây.

Continue reading

ÁP DỤNG TƯ TƯỞNG CANH TÂN NHẬT BẢN TRONG CẢI CÁCH PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho legal reformTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

THS. PHẠM NGỌC LAM GIANG – Viện Nghiên cứu Châu Mỹ

Tư tưởng canh tân của người Nhật có thể coi phát xuất từ Fukuzawa Yukichi với tác phẩm kinh điển “Khuyến học” và hồi ký “Phúc ông tự truyện”***. Công cuộc cải cách pháp luật Việt Nam có thể áp dụng có chọn lựa một số ý tưởng từ tư tưởng canh tân này.

1. Tư tưởng canh tân Nhật Bản

Nhật Bản nổi tiếng thế giới ở việc nâng tầm triết học cho các hoạt động của con người, ví như: thần đạo (shinto), trà đạo, võ sĩ đạo, nhu đạo (judo), hiệp khí đạo (aikido), hoa đạo… Người Nhật nằm lòng câu nói “Samurai lạnh lùng như thanh kiếm của chàng, mặc dù chàng không quên ngọn lửa đã rèn nên thanh kiếm đó[1]. Ngạn ngữ này thể hiện tư tưởng ôn hòa, tự kiềm chế và kỷ luật xuyên suốt toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản và trong cuộc sống thường nhật[2].

Về cải cách giáo dục, W.Scott Morton nhận định người quảng bá sự học Tây phương nhiều nhất tại Nhật Bản là Yukichi Fukuzawa[3]. Tư tưởng canh tân Nhật Bản xuất phát từ quan điểm “Không dễ gì thoát ly hẳn những ảnh hưởng của Trung Hoa, song trong quá trình tiếp thu những hiểu biết mới do mối quan hệ qua lại với lục địa, người Nhật dần dần cảm thấy phải bảo vệ nền độc lập dân tộc của mình[4]. Chính vì vậy, “mặc dầu đất nước này rất trân trọng

giáo lý đạo Khổng từ thế kỷ XIII trở đi, nhưng không thấy triết học của Khổng giáo có vai trò chỉ đạo trong việc giải quyết những vấn đề chính trị nảy sinh trong thực tiễn[5]. Cụ thể hơn, Fukuzawa Yukichi phê bình lối học Trung Hoa “Học hành không bao gồm chủ yếu sự đeo đuổi không thực tế như học những chữ cái Trung Hoa rối rắm, đọc những đoạn cổ văn khó nắm được ý nghĩa hoặc ngâm vịnh và làm thơ[6]. Sau khi độc lập về tư tưởng với người Trung Quốc, người Nhật “chấm dứt chính sách bài ngoại” vào khoảng giữa thế kỷ XIX[7]. George Sansom kết luận “Nước Nhật từ đây hòa nhập với đời sống quốc tế. Tôn ty trật tự phong kiến cũng sụp đổ theo và đến năm 1867 chính quyền quân chủ được hoàn toàn khôi phục[8].

Continue reading

KAIZEN NHẬT BẢN: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho japanese enterprises KAIZEN  TỐNG THÙY LINHViện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Triết lý quản lý của người Nhật – Kaizen đã được áp dụng rộng rãi và thành công tại các công ty Nhật trong vòng hơn 50 năm qua, đóng góp lớn vào sự phát triển của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, tại Việt Nam, Kaizen chỉ mới phổ biến trong vài năm gần đây và chỉ một số ít các doanh nghiệp quan tâm đến triết lý quản lý này. Bởi vậy, Kaizen chưa trở thành một triết lý quan trọng, chưa được hiểu và áp dụng đúng tại các công ty. Bài viết này xin góp phần giúp các doanh nghiệp Việt Nam hiểu thêm về tầm quan trọng của Kaizen – CẢI TIẾN LIÊN TỤC cũng như cách thức triển khai triết lý này trong hoạt động kinh doanh.

Muốn triển khai triết lý CẢI TIẾN LIÊN TỤC thành công, trước tiên các doanh nghiệp cần hiểu và tuân theo 10 nguyên tắc cốt lõi trong Kaizen.

1. Nguyên tắc thứ nhất: Tập trung vào khách hàng.

Một nguyên tắc bất biến hàng đầu trong quản trị kinh doanh hiện đại là sản xuất và cung cấp dịch vụ theo định hướng thị trường và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Một công ty định hướng khách hàng là một công ty có thể xác định rõ đối tượng khách hàng cũng như nhu cầu của họ và định vị khách hàng hiện tại tương lai của mình. Đây là công ty mà hoạt động sản xuất kinh doanh được quan sát bằng con mắt của chính khách hàng. Công ty thường xuyên giám sát giá trị của sản phẩm, dịch vụ đã và đang cung cấp cho khách hàng và luôn luôn tìm mọi cách để cải tiến chúng. Các công ty, xí nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức quản lý kiểu truyền thống lạc hậu trước đây đã không còn thích hợp và khó có thể tồn tại lâu dài. Khách hàng hiện nay có nhiều quyền hơn trong việc lựa chọn đối với những sản phẩm và dịch vụ mà họ muốn mua. Họ lựa chọn sản phẩm, dịch vụ dựa vào nhận thức về chất lượng và giá trị của chúng. Bởi vậy các doanh nghiệp cần nắm được những yếu tố quyết định giá trị và sự hài lòng của khách hàng. Khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp là phải đảm bảo có được sự nhận thức đầy đủ của tất cả mọi người trong công ty về khách hàng và đảm bảo sao cho không chỉ có những người trực tiếp liên quan đến việc bán hàng và dịch vụ mới là những người duy nhất trong công ty có thể đánh giá và hiểu biết khách hàng. Điều đó cũng có nghĩa là mọi người trong tổ chức đều phải suy nghĩ về công việc của họ dưới góc độ làm sao để cung cấp giá trị cho khách hàng.

Continue reading

BẢN CHẤT TƯ CỦA HỘI ĐOÀN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho partnershipTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

“Hội đoàn dân sự” (HĐDS) và “Xã hội dân sự” (XHDS) là những khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam gần đây. Kể từ “Đổi Mới”, tại Việt Nam, sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào hoạt động xóa đói giảm nghèo, nở rộ hoạt động của các đoàn hội dân sự tư nhân là một đối tượng cần nghiên cứu về khía cạnh pháp lý. Tiếp đến, khi Việt Nam gia nhập Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc đảm bảo các cam kết về XHDS được thực thi và truyền tải vào hoạt động lập pháp cần được nghiêm túc nghiên cứu và làm rõ, đặc biệt là vị trí của HĐDS trong dự thảo Luật về Hội…

1. Khái niệm “Hội đoàn dân sự”

1.1. Quan điểm Hoa Kỳ

Để hiểu khái niệm “hội đoàn dân sự” (civil/civic associations/organization), ta cần tìm hiểu khái niệm XHDS theo cách nhìn của người Mỹ. Theo đó, xuất phát từ quan điểm về chính quyền của John Locke “…hễ khi nào có một lượng người hợp nhất trong một xã hội, với tính cách là mỗi người rút khỏi quyền thực thi luật tự nhiên của mình và trao quyền lực đó cho cộng đồng, thi khi đó – và chỉ khi đó, nó là một xã hội chính trị, tức là một xã hội dân sự”[1], XHDS là “các yếu tố như tự do ngôn luận, tư pháp độc lập, vv, tạo nên một xã hội dân chủ” và “tổng hợp các tổ chức và định chế phi chính phủ thể hiện quyền lợi và ý chí của công dân; các cá nhân và tổ chức trong một xã hội mà độc lập với chính phủ”[2]; . Ví dụ, điển hình “Nước Mỹ vốn là một đất nước của các hội tự nguyện”[3], theo đó, câu “Hãy đăng ký gia nhập một hội nào đi!” [4] là lời khuyên của người Mỹ đối với hoạt động công cộng tại địa phương. Nguồn gốc của câu chuyện này đã được Alexis de Tocqueville chỉ ra rất rõ ràng “Những người Mỹ, bất luận lứa tuổi bao nhiêu, hoàn cảnh và địa vị xã hội thế nào, đều tham gia không mệt mỏi vào các hội. Khỏi nói đến các hội thương mại và kỹ nghệ là những đoàn thể mà hết thảy ai ai cũng là đoàn viên cả, bên cạnh đó còn cả nghìn hội khác, nào là tôn giáo, đạo đức, rất nghiêm túc hoặc rất thô sơ về ý nghĩa, mức độ rất bao trùm hoặc rất hẹp, quy mô khổng lồ hoặc rất nhỏ…Nếu ở bên Pháp, người ta thấy ở bất kỳ một hoạt động nào đều có một cơ quan chính phủ đứng ra chỉ đạo, và ở bên Anh, khu vực nào cũng có một vị trưởng quan, thì tại nước Mỹ, ở bất cứ vị trí tương tự nào như vậy đều có một hội” [5] (trong trích đoạn nêu trên, dịch giả Anh ngữ dùng từ “civil associations” để chỉ những hội này).

Continue reading

VÀI NÉT VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT Ở CANADA

Kết quả hình ảnh cho CONSTRUCTION PROCESS OF LAW IN CANADATS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG – Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

I. Khái quát về các cơ quan tham gia vào quy trình xây dựng luật

Canada là quốc gia theo chế độ đại nghị (parliamentary system). Cơ cấu bộ máy quốc gia được tổ chức theo Hiến pháp năm 1867 và 1982. Chính quyền ở Canada là chính quyền 3 cấp: Liên bang, Bang (tỉnh) và địa phương. Mỗi cấp đều có hiến pháp hoặc hiến chương riêng, trong đó ghi khá rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền. Ví dụ, chính quyền liên bang lo các vấn đề thuộc về đối ngoại và các vấn đề có tính chất liên bang (như quốc phòng, đối ngoại, phát hành tiền, ngân hàng, quy chế quốc tịch/công dân, luật hình sự, bưu chính v.v.). Chính quyền bang lo các công việc như quản lý tài nguyên thiên nhiên, chính sách y tế, giáo dục, thực thi pháp luật ở địa phương, quyền sở hữu tài sản và quyền dân sự, quản lý tư pháp, tổ chức các chương trình phúc lợi v.v. Chính quyền địa phương (chính quyền cấp thành phố – municipal) lo các công việc thuộc về quy hoạch thành phố, phòng cháy chữa cháy, thư viện, ban hành các quy chế địa phương (local by-laws), cấp thoát nước, thu gom rác thải v.v.

Hoạt động xây dựng các đạo luật ở Canada (các đạo luật liên bang) liên quan tới 4 loại chủ thể cơ bản sau: (1) Chính phủ (Nội các) (đứng đầu là Thủ tướng); (2) Hạ viện (308 thành viên được dân chúng bầu đại diện cho cử tri các địa hạt bầu cử với nhiệm kỳ không quá 5 năm); (3) Thượng viện (gồm 105 thành viên được hình thành theo cơ chế bổ nhiệm để đại diện cho các vùng miền của Canada và được phục vụ trong Thượng viện kể từ khi bổ nhiệm cho tới khi nghỉ hưu vào năm 75 tuổi);[1] và (4) Đại diện của nữ hoàng (toàn quyền).

Trong thực tế, các sáng kiến lập pháp (dự thảo luật trình trước Nghị viện) thường đến từ phía Chính phủ (do các Bộ quản lý ngành đề xuất). Đây cũng là các dự luật mà khả năng được Nghị viện chấp thuận, thông qua là cao nhất. Sau khi dự luật được trình trước Nghị viện, mọi dự luật đều phải trải qua quá trình thảo luận, xem xét, đánh giá, thông qua hoặc không thông qua ở cả hai viện là Hạ viện và Thượng viện. Những dự luật được Hạ viện và Thượng viện thông qua sau đó sẽ được chuyển cho đại diện của Nữ hoàng (Toàn quyền) chuẩn thuận và công bố.

Continue reading

SỬ DỤNG CHỨNG CỨ GIÁN TIẾP TRONG ĐIỀU TRA CẠNH TRANH – BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT VỤ VIỆC ĐIỀU TRA HÀNH VI THỎA THUẬN TẠI NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho Antitrust LawPHÙNG VĂN THÀNH – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương

Luật Chống độc quyền của Nhật Bản[1] được ban hành vào năm 1947. Luật này có mục đích giống như hầu hết pháp luật cạnh tranh của các nước khác trên thế giới là bảo vệ cạnh tranh, tạo hiệu quả kinh doanh, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, bảo vệ người tiêu dùng.

Luật Chống độc quyền Nhật Bản quy định không doanh nhân nào được tham gia vào những thỏa thuận hay hợp đồng với những nội dung tạo ra hạn chế thương mại bất hợp lý hay các hoạt động thương mại không bình đẳng (Khoản 1, Điều 6). Hạn chế thương mại bất hợp lý được hiểu là những hành vi kinh doanh, thực hiện bởi bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào, thông qua hợp đồng, thoả thuận hay bằng bất kỳ một hình thức nào khác không phụ thuộc vào tên gọi, trong một nỗ lực với các chủ thể kinh doanh khác, cùng hạn chế hoặc thực hiện những hành vi kinh doanh tương tự như ấn định, duy trì hoặc tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất, kỹ thuật, sản phẩm, với các bên hoặc doanh nghiệp đối thủ, mà do vậy, xâm phạm lợi ích công, gây ra hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trong một lĩnh vực thương mại cụ thể (Khoản 2, Điều 6).

Như vậy hành vi thoả thuận ấn định giá được coi là hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý theo Luật Chống độc quyền Nhật Bản. Đối với hành vi thoả thuận, thông thường, Ủy ban thương mại công bằng Nhật Bản (JFTC)phải xem xét, điều tra và chứng minh các yếu tố gồm (i) có hay không một thoả thuận, (ii) thoả thuận đó có phải giữa các đối thủ cạnh tranh không, và (iii) thoả thuận đó có nhằm hoặc có tác động hạn chế cạnh tranh không, có ảnh hưởng tiêu cực gì đối với sự phát triển của một ngành kinh tế nhất định nào không. Trong bản án do Toà tối cao Tokyo tuyên năm 1973 có giải thích tác động hạn chế cạnh tranh của thoả thuận là việc dẫn đến một tình trạng nào đó, bằng việc làm giảm sự cạnh tranh, có thể tạo cho một chủ thể kinh doanh xác định hay một hội nhóm doanh nghiệp khả năng thay đổi giá cả, chất lượng, số lượng và các điều kiện khác, để sau đó, tạo cho những chủ thể này một sức mạnh để kiểm soát thị trường.

2. Thông tin về vụ việc thoả thuận giữa các thành viên thuộc Hiệp hội bán lẻ xăng dầu tại Thành phố Hiroshima 1997

Chu trình lưu thông xăng dầu tại Nhật Bản như sau:

Continue reading

%d bloggers like this: