NỀN CỘNG HÒA VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TOÀN CẦU

Kết quả hình ảnh cho DEVELOPMENT OF ECONOMY IN KOREA GS. KIM SANGBONG – Đại học Quốc gia Chonnam, Hàn Quốc

Người dịch: THS.VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG

Người hiệu đính: THS. TRẦN TUẤN PHONG

Nói về nền cộng hoà và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc hiện nay, tác giả đã đi đến khẳng định việc đề cao trách nhiệm xã hội đối với công chúng trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội có thể bị hạn chế và đe doạ, nếu nhà nước bị lợi ích kinh tế chi phối. Trong bối cảnh này, để duy trì một nhà nước cộng hoà như một thể chế chính trị thuộc về công chúng, trước hết cần phải làm cho các doanh nghiệp thực sự dân chủ và có khả năng điều tiết nguồn vốn cả về mặt xã hội lẫn về mặt chính trị.

Như chúng ta đều biết, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã phân biệt rõ nhà nước với gia đình, còn gọi là thành bang gia đình, hay lĩnh vực công lĩnh vực tư. Khi đó, người ta đã hiểu rằng, công việc chính trị không giống với việc quản lý gia đình. Trong khi chính trị là sự thực hiện quyền tự do công dân, còn quản lý gia đình nhằm mưu cầu sự giàu có. Nghĩa là, đối với người Hy Lạp và người La Mã cổ đại, kinh tế thuộc về lĩnh vực tư nhân.

Song, trong thời đại ngày nay, kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất của nhà nước (lĩnh vực công) và chi phối cả chính trị. Nhưng, tiền bạc thì lại không hàm chứa đặc tính công  như vậy, bởi nó hoàn toàn là sở hữu (mang tính) tư nhân. Khi việc theo đuổi sự giàu có (thịnh vượng về mặt vật chất) trở thành mục đích cao nhất của một quốc gia, thì nhà nước đó hẳn sẽ dần đánh mất đặc tính công và khi đó chế độ dân chủ sẽ rơi vào tình trạng bế tắc như chúng ta có thể thấy ở Hàn Quốc gần đây.

Tiếp tục đọc

Advertisements

ÁP DỤNG TƯ TƯỞNG CANH TÂN NHẬT BẢN TRONG CẢI CÁCH PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho legal reformTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

THS. PHẠM NGỌC LAM GIANG – Viện Nghiên cứu Châu Mỹ

Tư tưởng canh tân của người Nhật có thể coi phát xuất từ Fukuzawa Yukichi với tác phẩm kinh điển “Khuyến học” và hồi ký “Phúc ông tự truyện”***. Công cuộc cải cách pháp luật Việt Nam có thể áp dụng có chọn lựa một số ý tưởng từ tư tưởng canh tân này.

1. Tư tưởng canh tân Nhật Bản

Nhật Bản nổi tiếng thế giới ở việc nâng tầm triết học cho các hoạt động của con người, ví như: thần đạo (shinto), trà đạo, võ sĩ đạo, nhu đạo (judo), hiệp khí đạo (aikido), hoa đạo… Người Nhật nằm lòng câu nói “Samurai lạnh lùng như thanh kiếm của chàng, mặc dù chàng không quên ngọn lửa đã rèn nên thanh kiếm đó[1]. Ngạn ngữ này thể hiện tư tưởng ôn hòa, tự kiềm chế và kỷ luật xuyên suốt toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản và trong cuộc sống thường nhật[2].

Về cải cách giáo dục, W.Scott Morton nhận định người quảng bá sự học Tây phương nhiều nhất tại Nhật Bản là Yukichi Fukuzawa[3]. Tư tưởng canh tân Nhật Bản xuất phát từ quan điểm “Không dễ gì thoát ly hẳn những ảnh hưởng của Trung Hoa, song trong quá trình tiếp thu những hiểu biết mới do mối quan hệ qua lại với lục địa, người Nhật dần dần cảm thấy phải bảo vệ nền độc lập dân tộc của mình[4]. Chính vì vậy, “mặc dầu đất nước này rất trân trọng

giáo lý đạo Khổng từ thế kỷ XIII trở đi, nhưng không thấy triết học của Khổng giáo có vai trò chỉ đạo trong việc giải quyết những vấn đề chính trị nảy sinh trong thực tiễn[5]. Cụ thể hơn, Fukuzawa Yukichi phê bình lối học Trung Hoa “Học hành không bao gồm chủ yếu sự đeo đuổi không thực tế như học những chữ cái Trung Hoa rối rắm, đọc những đoạn cổ văn khó nắm được ý nghĩa hoặc ngâm vịnh và làm thơ[6]. Sau khi độc lập về tư tưởng với người Trung Quốc, người Nhật “chấm dứt chính sách bài ngoại” vào khoảng giữa thế kỷ XIX[7]. George Sansom kết luận “Nước Nhật từ đây hòa nhập với đời sống quốc tế. Tôn ty trật tự phong kiến cũng sụp đổ theo và đến năm 1867 chính quyền quân chủ được hoàn toàn khôi phục[8].

Tiếp tục đọc

KAIZEN NHẬT BẢN: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho japanese enterprises KAIZEN  TỐNG THÙY LINHViện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Triết lý quản lý của người Nhật – Kaizen đã được áp dụng rộng rãi và thành công tại các công ty Nhật trong vòng hơn 50 năm qua, đóng góp lớn vào sự phát triển của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Nhật Bản. Tuy nhiên, tại Việt Nam, Kaizen chỉ mới phổ biến trong vài năm gần đây và chỉ một số ít các doanh nghiệp quan tâm đến triết lý quản lý này. Bởi vậy, Kaizen chưa trở thành một triết lý quan trọng, chưa được hiểu và áp dụng đúng tại các công ty. Bài viết này xin góp phần giúp các doanh nghiệp Việt Nam hiểu thêm về tầm quan trọng của Kaizen – CẢI TIẾN LIÊN TỤC cũng như cách thức triển khai triết lý này trong hoạt động kinh doanh.

Muốn triển khai triết lý CẢI TIẾN LIÊN TỤC thành công, trước tiên các doanh nghiệp cần hiểu và tuân theo 10 nguyên tắc cốt lõi trong Kaizen.

1. Nguyên tắc thứ nhất: Tập trung vào khách hàng.

Một nguyên tắc bất biến hàng đầu trong quản trị kinh doanh hiện đại là sản xuất và cung cấp dịch vụ theo định hướng thị trường và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Một công ty định hướng khách hàng là một công ty có thể xác định rõ đối tượng khách hàng cũng như nhu cầu của họ và định vị khách hàng hiện tại tương lai của mình. Đây là công ty mà hoạt động sản xuất kinh doanh được quan sát bằng con mắt của chính khách hàng. Công ty thường xuyên giám sát giá trị của sản phẩm, dịch vụ đã và đang cung cấp cho khách hàng và luôn luôn tìm mọi cách để cải tiến chúng. Các công ty, xí nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức quản lý kiểu truyền thống lạc hậu trước đây đã không còn thích hợp và khó có thể tồn tại lâu dài. Khách hàng hiện nay có nhiều quyền hơn trong việc lựa chọn đối với những sản phẩm và dịch vụ mà họ muốn mua. Họ lựa chọn sản phẩm, dịch vụ dựa vào nhận thức về chất lượng và giá trị của chúng. Bởi vậy các doanh nghiệp cần nắm được những yếu tố quyết định giá trị và sự hài lòng của khách hàng. Khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp là phải đảm bảo có được sự nhận thức đầy đủ của tất cả mọi người trong công ty về khách hàng và đảm bảo sao cho không chỉ có những người trực tiếp liên quan đến việc bán hàng và dịch vụ mới là những người duy nhất trong công ty có thể đánh giá và hiểu biết khách hàng. Điều đó cũng có nghĩa là mọi người trong tổ chức đều phải suy nghĩ về công việc của họ dưới góc độ làm sao để cung cấp giá trị cho khách hàng.

Tiếp tục đọc

BẢN CHẤT TƯ CỦA HỘI ĐOÀN DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho partnershipTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

“Hội đoàn dân sự” (HĐDS) và “Xã hội dân sự” (XHDS) là những khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam gần đây. Kể từ “Đổi Mới”, tại Việt Nam, sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào hoạt động xóa đói giảm nghèo, nở rộ hoạt động của các đoàn hội dân sự tư nhân là một đối tượng cần nghiên cứu về khía cạnh pháp lý. Tiếp đến, khi Việt Nam gia nhập Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc đảm bảo các cam kết về XHDS được thực thi và truyền tải vào hoạt động lập pháp cần được nghiêm túc nghiên cứu và làm rõ, đặc biệt là vị trí của HĐDS trong dự thảo Luật về Hội…

1. Khái niệm “Hội đoàn dân sự”

1.1. Quan điểm Hoa Kỳ

Để hiểu khái niệm “hội đoàn dân sự” (civil/civic associations/organization), ta cần tìm hiểu khái niệm XHDS theo cách nhìn của người Mỹ. Theo đó, xuất phát từ quan điểm về chính quyền của John Locke “…hễ khi nào có một lượng người hợp nhất trong một xã hội, với tính cách là mỗi người rút khỏi quyền thực thi luật tự nhiên của mình và trao quyền lực đó cho cộng đồng, thi khi đó – và chỉ khi đó, nó là một xã hội chính trị, tức là một xã hội dân sự”[1], XHDS là “các yếu tố như tự do ngôn luận, tư pháp độc lập, vv, tạo nên một xã hội dân chủ” và “tổng hợp các tổ chức và định chế phi chính phủ thể hiện quyền lợi và ý chí của công dân; các cá nhân và tổ chức trong một xã hội mà độc lập với chính phủ”[2]; . Ví dụ, điển hình “Nước Mỹ vốn là một đất nước của các hội tự nguyện”[3], theo đó, câu “Hãy đăng ký gia nhập một hội nào đi!” [4] là lời khuyên của người Mỹ đối với hoạt động công cộng tại địa phương. Nguồn gốc của câu chuyện này đã được Alexis de Tocqueville chỉ ra rất rõ ràng “Những người Mỹ, bất luận lứa tuổi bao nhiêu, hoàn cảnh và địa vị xã hội thế nào, đều tham gia không mệt mỏi vào các hội. Khỏi nói đến các hội thương mại và kỹ nghệ là những đoàn thể mà hết thảy ai ai cũng là đoàn viên cả, bên cạnh đó còn cả nghìn hội khác, nào là tôn giáo, đạo đức, rất nghiêm túc hoặc rất thô sơ về ý nghĩa, mức độ rất bao trùm hoặc rất hẹp, quy mô khổng lồ hoặc rất nhỏ…Nếu ở bên Pháp, người ta thấy ở bất kỳ một hoạt động nào đều có một cơ quan chính phủ đứng ra chỉ đạo, và ở bên Anh, khu vực nào cũng có một vị trưởng quan, thì tại nước Mỹ, ở bất cứ vị trí tương tự nào như vậy đều có một hội” [5] (trong trích đoạn nêu trên, dịch giả Anh ngữ dùng từ “civil associations” để chỉ những hội này).

Tiếp tục đọc

VÀI NÉT VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT Ở CANADA

Kết quả hình ảnh cho CONSTRUCTION PROCESS OF LAW IN CANADATS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG – Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

I. Khái quát về các cơ quan tham gia vào quy trình xây dựng luật

Canada là quốc gia theo chế độ đại nghị (parliamentary system). Cơ cấu bộ máy quốc gia được tổ chức theo Hiến pháp năm 1867 và 1982. Chính quyền ở Canada là chính quyền 3 cấp: Liên bang, Bang (tỉnh) và địa phương. Mỗi cấp đều có hiến pháp hoặc hiến chương riêng, trong đó ghi khá rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền. Ví dụ, chính quyền liên bang lo các vấn đề thuộc về đối ngoại và các vấn đề có tính chất liên bang (như quốc phòng, đối ngoại, phát hành tiền, ngân hàng, quy chế quốc tịch/công dân, luật hình sự, bưu chính v.v.). Chính quyền bang lo các công việc như quản lý tài nguyên thiên nhiên, chính sách y tế, giáo dục, thực thi pháp luật ở địa phương, quyền sở hữu tài sản và quyền dân sự, quản lý tư pháp, tổ chức các chương trình phúc lợi v.v. Chính quyền địa phương (chính quyền cấp thành phố – municipal) lo các công việc thuộc về quy hoạch thành phố, phòng cháy chữa cháy, thư viện, ban hành các quy chế địa phương (local by-laws), cấp thoát nước, thu gom rác thải v.v.

Hoạt động xây dựng các đạo luật ở Canada (các đạo luật liên bang) liên quan tới 4 loại chủ thể cơ bản sau: (1) Chính phủ (Nội các) (đứng đầu là Thủ tướng); (2) Hạ viện (308 thành viên được dân chúng bầu đại diện cho cử tri các địa hạt bầu cử với nhiệm kỳ không quá 5 năm); (3) Thượng viện (gồm 105 thành viên được hình thành theo cơ chế bổ nhiệm để đại diện cho các vùng miền của Canada và được phục vụ trong Thượng viện kể từ khi bổ nhiệm cho tới khi nghỉ hưu vào năm 75 tuổi);[1] và (4) Đại diện của nữ hoàng (toàn quyền).

Trong thực tế, các sáng kiến lập pháp (dự thảo luật trình trước Nghị viện) thường đến từ phía Chính phủ (do các Bộ quản lý ngành đề xuất). Đây cũng là các dự luật mà khả năng được Nghị viện chấp thuận, thông qua là cao nhất. Sau khi dự luật được trình trước Nghị viện, mọi dự luật đều phải trải qua quá trình thảo luận, xem xét, đánh giá, thông qua hoặc không thông qua ở cả hai viện là Hạ viện và Thượng viện. Những dự luật được Hạ viện và Thượng viện thông qua sau đó sẽ được chuyển cho đại diện của Nữ hoàng (Toàn quyền) chuẩn thuận và công bố.

Tiếp tục đọc

SỬ DỤNG CHỨNG CỨ GIÁN TIẾP TRONG ĐIỀU TRA CẠNH TRANH – BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT VỤ VIỆC ĐIỀU TRA HÀNH VI THỎA THUẬN TẠI NHẬT BẢN

Kết quả hình ảnh cho Antitrust LawPHÙNG VĂN THÀNH – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương

Luật Chống độc quyền của Nhật Bản[1] được ban hành vào năm 1947. Luật này có mục đích giống như hầu hết pháp luật cạnh tranh của các nước khác trên thế giới là bảo vệ cạnh tranh, tạo hiệu quả kinh doanh, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, bảo vệ người tiêu dùng.

Luật Chống độc quyền Nhật Bản quy định không doanh nhân nào được tham gia vào những thỏa thuận hay hợp đồng với những nội dung tạo ra hạn chế thương mại bất hợp lý hay các hoạt động thương mại không bình đẳng (Khoản 1, Điều 6). Hạn chế thương mại bất hợp lý được hiểu là những hành vi kinh doanh, thực hiện bởi bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào, thông qua hợp đồng, thoả thuận hay bằng bất kỳ một hình thức nào khác không phụ thuộc vào tên gọi, trong một nỗ lực với các chủ thể kinh doanh khác, cùng hạn chế hoặc thực hiện những hành vi kinh doanh tương tự như ấn định, duy trì hoặc tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất, kỹ thuật, sản phẩm, với các bên hoặc doanh nghiệp đối thủ, mà do vậy, xâm phạm lợi ích công, gây ra hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trong một lĩnh vực thương mại cụ thể (Khoản 2, Điều 6).

Như vậy hành vi thoả thuận ấn định giá được coi là hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý theo Luật Chống độc quyền Nhật Bản. Đối với hành vi thoả thuận, thông thường, Ủy ban thương mại công bằng Nhật Bản (JFTC)phải xem xét, điều tra và chứng minh các yếu tố gồm (i) có hay không một thoả thuận, (ii) thoả thuận đó có phải giữa các đối thủ cạnh tranh không, và (iii) thoả thuận đó có nhằm hoặc có tác động hạn chế cạnh tranh không, có ảnh hưởng tiêu cực gì đối với sự phát triển của một ngành kinh tế nhất định nào không. Trong bản án do Toà tối cao Tokyo tuyên năm 1973 có giải thích tác động hạn chế cạnh tranh của thoả thuận là việc dẫn đến một tình trạng nào đó, bằng việc làm giảm sự cạnh tranh, có thể tạo cho một chủ thể kinh doanh xác định hay một hội nhóm doanh nghiệp khả năng thay đổi giá cả, chất lượng, số lượng và các điều kiện khác, để sau đó, tạo cho những chủ thể này một sức mạnh để kiểm soát thị trường.

2. Thông tin về vụ việc thoả thuận giữa các thành viên thuộc Hiệp hội bán lẻ xăng dầu tại Thành phố Hiroshima 1997

Chu trình lưu thông xăng dầu tại Nhật Bản như sau:

Tiếp tục đọc

PRAEDIALES SERVITUDES HAY LÀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ THEO PHÁP LUẬT LA MÃ

Lê Nguyễn Gia Thiện
Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

Nguyễn Thị Thùy Linh
Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Pháp luật La Mã thượng tôn và bảo vệ tuyệt đối quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình[1]. Theo đó, chủ sở hữu có quyền thực hiện tất cả các quyền đối với tài sản của mình từ chiếm hữu, mua bán, cầm cố, tặng cho, di chúc và thậm chí là từ bỏ tài sản. Các quyền này là tuyệt đối và pháp luật chỉ hạn chế chủ sở hữu thực hiện quyền của mình trong một số trường hợp rất hạn hữu. Tuy nhiên, bên cạnh chủ sỡ hữu, còn có một loại chủ thể khác dù không có tư cách chủ sỡ hữu nhưng vẫn có quyền sử dụng và hưởng các lợi ích[2] trên một tài sản nhất định. Pháp luật La Mã gọi những trường hợp này là servitudes, nghĩa là quyền hưởng dụng trên tài sản của người khác. Servitudes được phân thành hai loại là quyền hưởng dụng bất động sản của người khác (praediales servitudes) và quyền hưởng dụng tài sản không phải là bất động sản của người khác (personales servitudes)[3]. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về đặc điểm, phân loại, cũng như cách thức thiết lập, chấm dứt các praediales servitudes theo pháp luật La Mã.

1. Khái niệm, các nguyên tắc của praediales servitudes

1.1. Khái niệm

Praediales servitudes là quyền hưởng dụng của một người trên bất động sản của người khác nằm liền kề với bất động sản của mình[4]. Praediales servitudes là một loại tài sản, một quyền đối vật đặc biệt (jus in rem), vì thế nó đối kháng với tất cả các chủ thể khác. Quyền này thuộc về chủ của một bất động sản nhất định (bất động sản hưởng quyền – praedium dominans), tuy nhiên chủ bất động sản không thực hiện quyền này trên chính bất động sản của mình, mà lại thực hiện quyền trên bất động sản liền kề với nó (bất động sản chịu quyền – praedium serviens). Vì bản chất praediales servitudes gắn liền với các bất động sản liền kề, nên nếu một người sở hữu bất động sản nhưng không có bất động sản khác nằm liền kề, hay bản thân người đó không sở hữu bất động sản, thì đương nhiên người đó không có quyền này[5]. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ là chủ sở hữu của một bất động sản liền kề với bất động sản thuộc các tổ chức tôn giáo (res sacrea hayres religiosae) cũng không thể thực hiện quyền dụng ích của mình[6].

Tiếp tục đọc

KHÁI NIỆM VỀ HỘI TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP VÀ GÓP Ý HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM VỀ HỘI CỦA VIỆT NAM

TS. NGUYỄN VĂN QUÂN – Học viện Khoa học xã hội

HIẾN PHÁP NĂM 2013:

“Điều 25 

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:

“Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

“Điều 74. Pháp nhân

2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

“Điều 76. Pháp nhân phi thương mại

1. Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân phi thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

“Điều 82. Thành lập, đăng ký pháp nhân

1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.

3. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”
“Điều 101. Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.”.

CIVILLAWINFOR (Cập nhật, không có mục đích phản biện tác giả)

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về tự do hiệp hội ở các quốc gia khác là nhằm góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật về tự do hiệp hội phù hợp với yêu cầu thực tế và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã cam kết. Pháp là một trong những quốc gia có luật về hội sớm nhất (1901) và có sinh hoạt hội đoàn sôi động, với hơn 1,3 triệu hội đang hoạt động, ngân sách hoạt động 70 tỉ euros. Bài viết giới thiệu về khái niệm hội theo pháp luật của Pháp, từ đó đưa ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về hội của Việt Nam.

1. Khuôn khổ pháp lý của quyền về hội tại Pháp

1.1 Tự do về hội trong luật của Pháp

Hiến pháp hiện hành của Pháp không có điều khoản về lập hội. Tuyên ngôn nhân quyền 1789 cũng không nhắc tới, nhưng quyền lập hội được xem như một nguyên tắc căn bản có giá trị hiến định thông qua các phán quyết của Tham chính viện (Conseil d’Etat) và Hội đồng bảo hiến (Conseil constitutionnel).

Tiếp tục đọc

KINH NGHIỆM HẬU CHIẾN CHO VIỆT NAM: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CỦA TÂY ĐỨC SAU NĂM 1945

 TÔN THẤT THÔNG – CHLB ĐỨC

Tây Đức năm 1945 và Việt Nam năm 1975 khác biệt rất lớn trên nhiều mặt, nhưng đồng thời cũng có những điểm tương đồng mà người làm chính sách có thể căn cứ vào đó để tham khảo kinh nghiệm và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Tham luận này không đưa ra những đề nghị cụ thể, mà chỉ trình bày một cách tổng quát lịch sử phát triển Tây Đức trong 10 năm hậu chiến từ 1945-1955. Có ba vấn đề lý thú mà chúng ta có thể nghiên cứu thêm: 1) chính sách kinh tế hậu chiến, 2) chính sách dùng người với tinh thần hòa giải dân tộc, 3) chọn thế đứng chính trị và phương pháp đấu tranh. Trong giới hạn cho phép, phần trình bày sau đây đặt trọng điểm vào kinh tế hậu chiến. Đấy là chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội. Trước hết chúng ta đi tìm nguồn gốc của lý thuyết Tự do trong Trật tự được trường phái Freiburg khai phá, sau đó tóm tắt những luận đề cơ bản của của chính sách kinh tế lấy lý thuyết đó làm nền tảng. Khi chiến tranh chấm dứt, Alfred Müller-Armack đã dựa vào nền tảng lý thuyết đó, bổ sung thêm bằng những nhân tố xã hội và phác hoạ khung trật tự kinh tế cũng như một loạt chính sách kinh tế xã hội cho chính phủ Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức. Sự thành công của CHLB Đức cho đến hôm nay gắn liền mật thiết với chính sách Kinh tế Thị trường Xã hội với bốn khuôn mặt tiêu biểu: lý thuyết gia kinh tế Walter Eucken, luật gia Franz Böhm, chiến lược gia kinh tế Alfred Müller-Armack và chính trị gia có viễn kiến Ludwig Erhard. * Tham luận trình bày tại Hội thảo Berlin tháng 7 năm 2015 thời đại mới TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN Số 34 tháng 11, 2015 Tôn Thất Thông | Chính sách phát triển Tây Đức 2 Thời Đại Mới | Tháng11, 2015 Sau cùng chúng ta sẽ duyệt lại những sự kiện kinh tế quan trọng trong những năm hậu chiến đầu tiên và thử phân tích xem đâu là yếu tố quan trọng đã đưa kinh tế nước Đức vượt qua cả những nước đồng minh thắng trận chiếm đóng.

***

Không ít người cho rằng lấy kinh nghiệm Tây Đức để áp dụng cho Việt Nam là một việc làm ảo tưởng vì sự khác nhau và chênh lệch về mọi mặt giữa hai nước quá lớn. Tuy thế có hai khía cạnh đáng chú ý:

Tiếp tục đọc

19 QUYỀN CƠ BẢN – 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC

TÁC GIẢ BẢN DỊCH : NGUYỄN MINH TUẤN

Nguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức của Bundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây

Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào. 19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.

Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)

I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN (I. GRUNDRECHTE)

Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):

Artikel 1
[Menschenwürde;
Grundrechtsbindung der staatlichen Gewalt]

(1) Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen ist Verpflichtung aller staatlichen Gewalt.
(2) Das Deutsche Volk bekennt sich darum zu unverletzlichen und unveräußerlichen Menschenrechten als Grundlage jeder menschlichen Gemeinschaft, des Friedens und der Gerechtigkeit in der Welt.
(3) Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt und Rechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht.

Tiếng Việt (Vietnamesisch):

Điều 1
Bảo vệ nhân phẩm;
Sự ràng buộc của quyền lực nhà nước
bởi các quyền cơ bản

(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánh quyền lực nhà nước.

(2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khả xâm phạm và không thể bị lạm dụng như là nền tảng của cộng đồng, hoà bình và công lý trên toàn thế giới.

(3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc trực tiếp các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: