Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TỔNG QUÁT PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CỘNG HÒA PHÁP

 GS. DENIS MAZEAUD Đại học Paris II, Panthéon-Assas, Cộng hòa Pháp

Pháp luật về trách nhiệm dân sự (TNDS) trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1804 được quy định tất cả chỉ trong 5 điều khoản. Pháp luật TNDS trong BLDS năm 2011 vẫn được quy định trong những điều khoản đó, những thay đổi hầu như chỉ mang tính chất bổ sung, trên thực tế không có nhiều ý nghĩa. Khoảng 20 điều khoản bổ sung này đều liên quan đến căn cứ chính để quy trách nhiệm, cơ chế để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra (trách nhiệm sản phẩm). Như vậy, trong BLDS, ngoài Luật trách nhiệm sản phẩm năm 1998, pháp luật về TNDS không thay đổi nhưng hiện đại và được phát triển nhờ hai cách sau đây:

Một mặt, tuy pháp luật của Pháp thuộc hệ thống pháp luật thành văn, các quy phạm pháp luật được pháp điển hóa nhưng điều này không hoàn toàn đúng với pháp luật về TNDS vì hệ thống pháp luật này vẫn phát triển dù bộ luật không sửa đổi. Pháp luật chung về TNDS chủ yếu được xây dựng nhờ án lệ của các Tòa án. Trong pháp luật của Pháp, chúng tôi có một tòa án tư pháp đặc biệt: đó là Tòa Phá án, tòa án cao nhất trong hệ thống tòa án tư pháp. Tòa Phá án đã đưa ra những quy định quan trọng về TNDS, chẳng hạn như tất cả các quy định liên quan đến quyền đòi bồi thường. Trong BLDS 1804 và BLDS hiện nay, quý vị sẽ không tìm thấy bất cứ quy định nào về quyền đòi bồi thường, nguyên tắc bồi thường toàn bộ hay ảnh hưởng của lỗi do người bị thiệt hại gây ra đối với thiệt hại của chính người đó cũng như các quy định về các hình thức bồi thường thiệt hại bằng tiền, trợ cấp, bằng hiện vật tương đương v.v… Như vậy, để có thể nắm rõ được pháp luật về TNDS của Pháp, cần phải hiểu rằng chính các thẩm phán đã cải cách và phát triển pháp luật về TNDS từ thế kỷ 19.

Mặt khác, từ khoảng 3 thập kỷ cuối của thế kỷ 20, có sự khôi phục lại ảnh hưởng của nhà lập pháp vốn trước đây không can thiệp nhiều vào lĩnh vực TNDS. Các nhà lập pháp đã thông qua những văn bản chính về TNDS quy định các cơ chế bồi thường thiệt hại. Từ năm 1985, ở Pháp, nhiều luật liên quan đến bồi thường thiệt hại đã được thông qua và tạo nên những thay đổi lớn trong lĩnh vực TNDS; trong đó có ba luật quan trọng sau đây:

– Luật Bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông năm 1985

– Luật Bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật năm 1998

– Luật Bồi thường thiệt hại do dịch vụ y tế năm 200t.

Continue reading

Advertisements

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ LUẬT CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

BỘ TÀI CHÍNH

Báo cáo này khảo sát quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán của các quốc gia thuộc nhóm bao gồm: các nước phát triển (Mỹ, Nhật), các nước có nền kinh tế chuyển đổi (Nga, Ba Lan), các nước Asean (Thái Lan, Philippines, Malaysia) và các nước Châu Á khác (Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc). Đây là nhóm các nước có những đặc điểm kinh tế đặc trưng riêng, đại diện cho nhóm các thị trường chứng khoán phát triển các mức độ khác nhau. Bên cạnh đó, Báo cáo cũng đánh giá tổng quan đối với các hệ thống luật về chứng khoán đang tồn tại khác để có một cái nhìn toàn diện về chính sách phát triển và quản lý hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung trên thế giới.

Trong phạm vi Báo cáo, nhóm nghiên cứu tập trung về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán thuộc phạm vi hướng dẫn của Luật Chứng khoán tại các nước nói trên. Các quy định khác liên quan đến chứng khoán theo Luật Doanh nghiệp, trên thị trường OTC, pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước thực hiện theo Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh nghiệp không được đề cập trong Báo cáo này.

Nội dung Báo cáo chia làm 02 phần bao gồm: Phần I là những đánh giá tổng quan về phạm vi điều chỉnh tại văn bản luật về chứng khoán và TTCK; Phần II Báo cáo tập trung nghiên cứu quy định cụ thể của các nước được khảo sát trên cơ sở 07 tiêu chí cơ bản dựa trên các nhóm Chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Đề nghị xây dựng Luật Chứng khoán (sửa đổi), cụ thể như sau:

(1) Về hàng hóa trên thị trường chứng khoán (bao gồm chào bán chứng khoán, công ty đại chúng) Continue reading

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

 NGUYỄN BÍCH THẢO – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG – Học viện Tư pháp, Cơ sở TP.HCM

1. Vai trò, ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án dân sự 

Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động đưa các bản án, quyết định về dân sự của tòa án ra thi hành trên thực tế nhằm hiện thực hóa quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án đã được xác định trong bản án, quyết định. THADS đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin của người dân vào tòa án và hệ thống tư pháp nói chung, bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền tiếp cận công lý và quyền được xét xử công bằng [1]. Trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức THADS khác nhau, trong đó có 4 mô hình chủ yếu: (1) mô hình dựa vào tòa án (courtcontrolled enforcement) như ở Đan Mạch, Italia, Tây Ban Nha, (2) mô hình kết hợp nhiều thiết chế (multiple-institution-controlled enforcement) như ở Mỹ, Anh, Đức, Áo, (3) mô hình dựa vào cơ quan thi hành án chuyên trách thuộc nhánh hành pháp (public sector specialist enforcement) như ở Nga, các nước thuộc Liên Xô cũ, Phần Lan, Thụy Điển), và mô hình thi hành án tư nhân và bán tư nhân (private or quasi-private sector specialist enforcement) như ở Pháp, Bỉ, Hà Lan [2; 5].

Continue reading

PHÁP ĐIỂN HÓA VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN: KINH NGHIỆM ITALIA

 BERNARDO GIORGIO MATTARELLA – Nghiên cứu viên Đại học Roma III

Tình trạng hiện nay của hệ thống quy phạm Italia có thể được môt tả bằng các thuật ngữ sau đây: sự lạm phát mạnh của các quy phạm, sự đánh mất tính tập trung của các bộ pháp điển truyền thống và xu hướng phi pháp điển hóa của các ngành luật trước kia được pháp điển hóa một cách đầy đủ, việc sử dụng ngẫu nhiên các văn bản duy nhất, xu hướng pháp điển hóa một phần của luật hành chính, sự thay thế bằng các pháp điển hóa tư. Trong tổng thể, chúng ta thường xử lý các vấn đề có phạm vi tổng quát, như sự dồi dào của các quy phạm et sự tăng về số lượng của các luật chuyên ngành, bằng các phương tiện phụ và chỉ áp dụng trên một phần phạm vi, như việc phê chuẩn các luật nguyên tắc và việc xây dựng các văn bản duy nhất.

Trong bài viết này[2], trước hết chúng tôi tiến hành xem xét tình hình trong các lĩnh vực chủ yếu của luật, đặc biệt trong pháp luật hành chính. Lạm phát quy phạm sẽ được mô tả trong các nguyên nhân của lạm phát và các hậu quả của lạm pháp. Sau đó chúng tôi sẽ nêu các giải pháp được thông qua cho đến nay và đánh giá các xu hướng mới hơn cả và các viễn cảnh tương lai. Tiếp theo, chúng tôi sẽ xem xét những điểm có lợi mà việc sử dụng pháp điển hóa tích cực hơn có thể mang lại, nhằm thực hiện có hiệu quả Nhà nước pháp quyền với hai khía cạnh chủ yếu: việc các cơ quan công quyền tuân thủ các quy phạm pháp luật và sự đảm bảo các quyền cá nhân. Continue reading

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC HỆ THỐNG TÒA ÁN TẠI CỘNG HÒA PHÁP

 MARC MOINARD – Thẩm phán, nguyên Tổng thư ký Bộ Tư pháp,  Cộng hòa Pháp

 I. Vấn đề đổi mới bản đồ tư pháp của Cộng hòa Pháp

 Thay đổi bản đồ tư pháp là một cuộc cải cách dù khó khăn nhưng cần thiết. Trong hai thập kỉ vừa qua tại Pháp, các Bộ trưởng Bộ Tư pháp thường né tránh chủ đề này vì động tới hệ thống tổ chức tòa án hay bản đồ tư pháp tức là động tới các quyền lợi được cho là chính đáng của nhiều chủ thể khác nhau và sẽ có rất nhiều phong trào phản đối. Thật vậy, khi có quyết định xóa bỏ một Tòa án để tập trung nguồn lực vào các Tòa án có quy mô lớn hơn, thường có nhiều phản đối rất mạnh mẽ. Đầu tiên là phản ứng dữ dội của các thẩm phán vì họ sắp phải di chuyển tới một Tòa án khác (chúng tôi đã thuyên chuyển 1500 thẩm phán và trung bình một ngày họ phải đi khoảng 50 – 100 km để tới được nơi làm việc mới) và tất nhiên sẽ có những thẩm phán sẽ mất vị trí công tác trước đây của họ. Với việc thay đổi bản đồ tư pháp, cuộc sống của các thẩm phán bị xáo trộn. Tiếp đến là phản ứng của các đại biểu dân cử của các địa phương nơi có Tòa án bị xóa bỏ. Và cuối cùng là sự phản đối của các luật sư – những người phản đối quyết liệt việc thay đổi bản đồ tư pháp vì họ phải thay đổi địa bàn làm việc quen thuộc trước đây của họ.

Tuy nhiên, việc thay đổi bản đồ tư pháp vẫn phải diễn ra.

Như vậy việc làm hi sinh quyền lợi riêng vì sự nghiệp chung đã từng là một thách thức làm nản lòng phần lớn các Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Đợt cải cách gần đây nhất diễn ra cách đây 50 năm, tức là vào năm 1958 khi tướng De Gaulle trở thành Tổng thống Pháp. Trong vòng 4 tháng, tướng De Gaulle đã làm thay đổi toàn bộ hệ thống tư pháp của Pháp. Trong chương trình tranh cử của mình, Tổng thống Pháp đương nhiệm Sarkozy đã đưa việc thay đổi bản đồ tư pháp như một ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Việc thay đổi bản đồ tư pháp đã diễn ra một cách hết sức khó khăn trong vòng 8 tháng.

Continue reading

QUYỀN RIÊNG TƯ TRÊN MẠNG

GS. PHAN DƯƠNG HIỆU – Đại học Limoges, Pháp

Trong một thế giới nhiều biến động, thì “lòng tin” là một yếu tố vô cùng quan trọng, là cơ sở thiết yếu cho sự phát triển. Việc trợ giúp bảo vệ thông tin cá nhân, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phải đạt chuẩn bảo mật cao, cho phép người dùng được quyền quyết định xử lý dữ liệu liên quan đến cá nhân (như truy vết những nơi lưu trữ, hay yêu cầu xóa vĩnh viễn dữ liệu cá nhân) là những biện pháp Chính phủ có thể làm để  gây lòng tin cho người dân, cho doanh nghiệp, cho các đối tác nước ngoài để tạo một môi trường phát triển lành mạnh.

An ninh quốc gia (public safety) và quyền riêng tư (privacy)

Việc đảm bảo đồng thời an ninh quốc gia và quyền riêng tư cho công dân và cho các tổ chức, doanh nghiệp luôn là một thách thức không nhỏ đối với các chính phủ.

Trong những hoàn cảnh đặc biệt nguy cấp, như sau một cuộc khủng bố, các chính phủ thường có xu hướng đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm an ninh (public safety) bằng cách cho phép can thiệp phần nào quyền riêng tư (privacy) của công dân. Đó là khi dân chúng đang hoang mang nên một bộ phận không nhỏ có thể có xu hướng nhượng bộ giảm quyền riêng tư để đổi lấy sự an toàn. Tuy nhiên, ngay cả trong những tình huống đặc biệt nguy cấp như vậy, sự đối thoại vẫn rất cần thiết để có những dự luật hợp lý, mức độ can thiệp quyền riêng tư ở mức tối thiểu, chấp nhận được và với một quy trình tường minh, chặt chẽ.

Continue reading

QUY CHẾ QUỐC TẾ CỦA NGHỆ SỸ

Thời gian qua, ở Việt Nam còn có những tranh luận về việc áp dụng Quy chế nghệ sỹ biểu diễn chuyên nghiệp, Civillawinfor xin trân trọng giới thiệu một cách tiếp cận về vấn đề này để các bạn tham khảo.

SUZANNE CAPIAU – Luật sư Đoàn Luật sư Bruxelles, Giáo sư Trường Đại học Bruxelles, Bỉ

I. Quy chế nghệ sỹ là gì?

Bản Khuyến cáo về địa vị của nghệ sỹ đã được thông qua năm 1980, dưới sự bảo trợ của UNESCO. Bản Khuyến cáo đã đưa ra một định nghĩa mở rộng về khái niệm “nghệ sỹ”, nhìn dưới góc độ xã hội học .

Trong khuôn khổ Khuyến cáo này,

1. Khái niệm “nghệ sỹ” được hiểu là người đã sáng tạo hay, bằng việc biễu diễn của mình, đã tham gia vào việc sáng tạo hay tái tạo các tác phẩm nghệ thuật, coi việc sáng tạo nghệ thuật như một yếu tố cơ bản của cuộc sống của mình, qua đó đã đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật và văn hoá, và được thừa nhận hoặc tìm cách để được thừa nhận là mình với tư cách nghệ sỹ, có bị ràng buộc hay không bằng một quan hệ công việc hay hiệp hội nào đó.”

Định nghĩa này chủ yếu quy chiếu đến khái niệm tác giả (người sáng tạo) và khái niệm nghệ sỹ biểu diễn (bằng việc biểu diễn của mình, đã tham gia vào việc sáng tạo hay tái tạo các tác phẩm nghệ thuật), nghĩa là đến các công ước về quyền tác giả và các quyền phái sinh của nghệ sỹ biểu diễn. Continue reading

HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ: PHÂN TÍCH VỤ VIỆC PHILIP MORRIS KIỆN CHÍNH PHỦ ÚC VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

 ĐÀO KIM ANH & TRỊNH QUANG HƯNG –  Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, hoạt động đầu tư quốc tế đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những động lực chính đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các tranh chấp đầu tư cũng gia tăng nhanh chóng và ngày càng phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài (“NĐTNN”) và Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Với mục đích đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho NĐTNN và khuyến khích hoạt động đầu tư quốc tế, từ những năm 1960, pháp luật đầu tư quốc tế đã hình thành cơ chế cho phép NĐTNN trực tiếp khởi kiện Nhà nước ra trọng tài quốc tế. Mặc dù cơ chế này được đánh giá cao về tính độc lập và hiệu quả, thực tế áp dụng cho thấy cơ chế này bộc lộ những “lỗ hổng” và có nguy cơ bị lạm dụng bởi nhà đầu tư.

Một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây liên quan tới việc lạm dụng cơ chế giải quyết tranh chấp (GQTC) là hiện tượng treaty shopping. Đây là một kỹ thuật được nhà đầu tư thực hiện thông qua việc cố tình thành lập doanh nghiệp hoặc thay đổi cơ cấu sở hữu nhằm đạt được quốc tịch mong muốn để sau đó có thể khởi kiện Nhà nước theo một hiệp định đầu tư quốc tế (IIA) có lợi cho nhà đầu tư. Treaty shopping được thực hiện ngày càng nhiều và trở thành một vấn đề “nóng” trong nhiều vụ tranh chấp đầu tư. Như vậy, câu hỏi đặt ra là treaty shopping có phải là hành vi hợp pháp hay không? Trong thực tiễn tranh chấp, cơ quan xét xử giải quyết vấn đề này như thế nào? Quan trọng hơn, đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, làm thế nào để có thể phòng tránh nguy cơ bị nhà đầu tư khởi kiện thông qua kỹ thuật treaty shopping trong khi vẫn đảm bảo chính sách thu hút đầu tư nước ngoài? Bài viết dưới đây sẽ trả lời các câu hỏi trên thông qua việc nghiên cứu thực tiễn xét xử tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan tới treaty shopping, đặc biệt đi sâu phân tích vụ tranh chấp giữa Philip Morris và Chính phủ Úc – một trong những tranh chấp điển hình về vấn đề này.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: