Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT TẠI MỘT SỐ NƯỚC THEO HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CIVIL LAW KIỂU ĐỨC Ở CHÂU ÂU: NHÌN TỪ VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ LATIN

TS. NGUYỄN NGỌC KIỆN – Trường Đại học Luật Huế

THS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

Tóm tắt

Giải thích pháp luật đóng vai trò quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn bởi giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật là hai vấn đề luôn tương hỗ và không thể tách rời nhau. Trong phạm vi bài viết, vấn đề giải thích pháp luật được phân tích dựa trên tinh thần của các thuật ngữ Latin, vốn đã được hình thành từ trong lòng nền pháp chế La Mã và được kế thừa tại các nước civil law kiểu Đức tại Châu Âu. Đồng thời bài viết cũng đề xuất một phương thức giải thích pháp luật mang tính đa diện được sử dụng rất phổ biến tại các nước theo hệ thống pháp luật civil law kiểu Đức.


Các nước civil law kiểu Đức quan niệm rằng giải thích pháp luật có liên quan mật thiết đến tính bất khả vẹn toàn của pháp luật. Bởi nếu pháp luật hoàn thiện và không có bất kỳ một sai sót nào thì cơ quan áp dụng pháp luật sẽ áp dụng trực tiếp mà không cần giải thích. Ngược lại, nếu thừa nhận pháp luật có khiếm khuyết, nói khác đi là mang tính bất khả vẹn toàn, thì pháp luật khi được áp dụng cần phải được giải thích. Giải thích pháp luật rõ ràng là không thể tách rời khỏi bản thân văn bản pháp luật. Hơn nữa, giải thích pháp luật phải được tiếp cận dưới cả hai góc độ là nội hàm và ngoại diên của điều khoản cần giải thích. Điều này cũng có nghĩa rằng cơ quan giải thích pháp luật phải tìm hiểu và giải thích cho được cả nội dung và hình thức của câu từ, đồng thời nắm bắt được các ý nghĩa và mục đích của văn bản. Ngoài ra, khi giải thích pháp luật, cơ quan giải thích cần phải sử dụng một biện pháp mang tính đa diện, kết hợp hài hòa giữa các thành tố: ngữ pháp, mục đích luận và lịch sử.

Continue reading

Advertisements

PHÂN BIỆT TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN VIÊN CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

GS.PIERRE DELVOLVÉ – Trường đại học tổng hợp Panthéon-Assas (Paris 2)

Tiêu đề bài tham luận của tôi là phân biệt trách nhiệm của cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước, trách nhiệm của cơ quan lập pháp, cơ quan tài phán và cơ quan hành chính. Trên thực tế, nếu tập hợp các yếu tố cơ bản của hai tiêu đề này thì có thể nhận thấy đây là sự phân tách các khía cạnh khác nhau của trách nhiệm bồi thường nhà nước để xác định trong từng trường hợp ai phải chịu trách nhiệm. Có ba cấp độ xác định người phải chịu trách nhiệm. Cấp độ thứ nhất là phân biệt trách nhiệm của các pháp nhân công pháp với nhau. Cấp độ thứ hai là phân biệt trách nhiệm trong nội bộ một pháp nhân công pháp, chủ yếu là ở cấp Nhà nước trung ương, giữa các cơ quan thuộc ba loại khác nhau : cơ quan lập pháp, cơ quan tài phán, cơ quan hành chính. Cấp độ thứ ba là xác định trong một cơ quan nhà nước hành động thông qua nhân viên của mình, ai là người phải chịu trách nhiệm, là cơ quan đó hay là nhân viên của cơ quan đó. Căn cứ vào ba cấp độ này, tôi sẽ trình bày cách thức xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước.

Cấp độ thứ nhất là phân biệt trách nhiệm của các pháp nhân công pháp với nhau. Tôi hơi ngần ngại khi đề cập đến vấn đề này vì báo cáo của đoàn Việt Nam và Trung Quốc hôm qua cho thấy là chỉ có một pháp nhân công pháp là Nhà nước và nếu phải thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước thì đó chỉ có thể là trách nhiệm của Nhà nước. Nhưng tôi cho rằng ngay cả trong một Nhà nước đơn nhất như Nhà nước Trung Quốc hay Nhà nước Việt Nam thì cũng đặt ra vấn đề phân định thẩm quyền và phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan khác nhau của Nhà nước.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở LIÊN BANG THỤY SỸ

ALFREDO SANTOS – Viện luật so sánh Thụy Sỹ, Lausanne

1. Khái quát về vấn đề phân chia thẩm quyền giữa Liên bang và các bang

Thuật ngữ « Confédération » trong Hiến pháp Thụy Sỹ bằng tiếng Pháp và tiếng Ý không còn phù hợp từ năm 1848. Thực vậy, kể từ thời điểm đó, Thụy Sỹ không còn là một liên hiệp Nhà nước mà là một Nhà nước liên bang hiện nay gồm 26 bang.

Trong một Nhà nước liên bang, việc phân chia thẩm quyền là vấn đề chủ chốt. Các quy định của Hiến pháp đưa ra câu trả lời cho vấn đề này và thể hiện cụ thể mô hình liên bang của một nước. Thực vậy, điều quan trọng nhất là phân chia thẩm quyền giữa Nhà nước liên bang và các bang thuộc Liên bang.

Trong trường hợp cụ thể của Liên bang Thụy Sỹ, Điều 3 Hiến pháp quy định ”điều khoản chung về thẩm quyền“ như sau:

Điều 3 – Các bang

Các bang có chủ quyền trong trường hợp chủ quyền đó không bị giới hạn bởi Hiến pháp liên bang và thực hiện tất cả các quyền không được giao cho Liên bang”.

Thuật ngữ chủ quyền chủ yếu có ý nghĩa về mặt lịch sử và mang tính chất tượng trưng. Nó nhắc lại một điều là chính các bang đã thành lập ra Liên bang chứ không phải ngược lại. Vào thời điểm soạn thảo Hiến pháp năm 1848, các bang vẫn còn có chủ quyền. Các nhà lập hiến năm 1874 và 1999 đã giữ lại thuật ngữ này như một “công trình”.

Continue reading

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

BỘ TƯ PHÁP

I. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

1. Sự phát triển của quyền tiếp cận thông tin theo pháp luật quốc tế, pháp luật khu vực và pháp luật quốc gia

Quyền tiếp cận thông tin (hay còn gọi là quyền tự do thông tin hoặc quyền tiếp cận thông tin) được ghi nhận như một trong những quyền cơ bản của con người và được các văn kiện pháp lý quốc tế xếp trong nhóm các quyền dân sự – chính trị. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “quyền tiếp cận thông tin” được sử dụng để biểu đạt một loại quyền rất căn bản mà mọi người ở tất cả các quốc gia đều có quyền được hưởng, dù theo cách thức trực tiếp hay gián tiếp, đó là quyền được biết thông tin của nhà nước để thỏa mãn các nhu cầu trong cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận.

a) Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin:

Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tại Thụy Điển trong Luật về Tự do báo chí[1]. Đạo luật này, một mặt, cho phép tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước”, mặt khác, công nhận cho công dân có quyền được “tiếp cận tài liệu công”[2]. Đây là hai khía cạnh cơ bản, quan trọng nhất trong nội hàm của khái niệm quyền tiếp cận thông tin. Về mặt lịch sử lập pháp, có lẽ trong suốt gần hai thế kỷ sau khi các nhà lập pháp Thụy Điển cho ra đời khái niệm quyền được thông tin nói trên, chưa ghi nhận được văn bản pháp lý nào chứa đựng những quy phạm tiến bộ hơn và sâu sắc hơn khái niệm quyền được thông tin của Luật về Tự do báo chí của Thụy Điển.

Continue reading

TỔNG THUẬT PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

BỘ TƯ PHÁP

A. Văn bản pháp luật về bán đấu giá tài sản của các nước trên thế giới

Cũng tương tự như các ngành luật khác, pháp luật về bán đấu giá tài sản của các quốc gia trên thế giới về cơ bản được chia thành hai dòng pháp luật gồm pháp luật về bán đấu giá tài sản thành văn (pháp luật Châu Âu lục địa) và pháp luật án lệ (pháp luật Anh – Mỹ).

Theo đó, tại đa số các quốc gia, pháp luật về bán đấu giá tài sản được quy định trong các Bộ luật Dân sự, với tính chất là một đạo luật gốc, có vị trí quan trọng trong pháp luật dân sự của các nước như Bộ luật Dân sự và Bộ Luật thương mại Cộng hòa Pháp, Luật Thương mại Hoa kỳ, Luật Thương mại Cộng hòa liên bang Đức, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Bộ luật Dân sự Nhật Bản…). Một số quốc gia khác lại ban hành luật về bán đấu giá tài sản với tư cách là một đạo luật độc lập như Luật về bán đấu giá của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa…

B. Quy định pháp luật của các nước về đấu giá tài sản

I. Quy định chung

1. Khái niệm về đấu giá tài sản

Theo quan niệm truyền thống, đấu giá là việc mua bán hàng tài sản công khai mà những người mua sẽ trả giá từ giá thấp cho tới khi trả giá cao nhất và người bán đấu giá đồng ý bán bằng cách gõ búa. Dưới góc độ pháp lý, theo quy định cảu pháp luật của hầu hết các nước, định nghĩa về bán đấu giá tài sản thường được quy định trong những điều luật cụ thể: Chẳng hạn điều 3, Luật về bán đấu giá tài sản nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa năm 1996 quy định “Bán đấu giá là hình thức bán và mua tài sản công khai, theo đó các tài sản và quyền tài sản được bán cho người trả giá cao nhất”. Đạo luật của Floriada năm 2003 đưa ra khái niệm “Bán đấu giá tuyệt đối” là cuộc bán đấu giá không yêu cầu giá khởi điểm tối thiểu mà hàng hoá sẽ được bán cho người trả giá cao nhất. Còn Quy chế của Ủy ban đấu giá bang Alabama (Hoa kỳ) đưa ra khái niệm: “Bán đấu giá là việc bán công khai một tài sản cho người trả giá cao nhất”.

Continue reading

CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ TẠI NHẬT BẢN

GS. SHUNICHI INOUE – Trường Cao đẳng Khoa học và Nhân văn (Đại học Nihon, Tokyo)

Không giống như những quốc gia Đông Á khác, Chính phủ Nhật Bản không bảo trợ cho chương trình kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) trong suốt quá trình quá độ dân số, trừ một khoảng thời gian rất ngắn.

Theo kết quả điều tra khảo sát định kỳ của Ban Dân số Liên Hiệp Quốc về những chính sách và chương trình dân số được ban hành chính thức, hành động cụ thể duy nhất của Chính phủ Nhật Bản trong việc tác động đến các xu thế dân số là nỗ lực điều chỉnh phân bố dân cư theo vùng tại Nhật Bản (Ban Dân số Liên Hiệp Quốc, 1995). Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu suy luận rằng Chính phủ không quan tâm đến các vấn đề dân số hay không hoạch định chính sách dân số.

Cũng như các quốc gia khác, những đặc trưng dân số của Nhật Bản có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, và Chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển này. Vậy thì tại sao Chính phủ lại không bảo trợ cho chương trình KHHGĐ? Tại sao mức sinh lại giảm tại Nhật Bản trong khi thiếu một chương trình như vậy? Những biến động dân số đã tác động đến phát triển kinh tế như thế nào và Chính phủ có vai trò gì trong việc định hướng các xu thế dân số để đáp ứng các nhu cầu kinh tế?

Chương này tập trung kiểm điểm từng bước phát triển của các chính sách dân số Nhật Bản và các mối quan hệ tương tác giữa những chính sách này với phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại hoá, đặc biệt là sau Đại chiến Thế giới thứ II.

Continue reading

BÁO CÁO MÔ HÌNH CƠ QUAN CẠNH TRANH – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

BỘ CÔNG THƯƠNG

A. Các yêu cầu đối với một cơ quan cạnh tranh hiệu quả

1. Yêu cầu về tính độc lập

Qua thực tế nghiên cứu các mô hình cơ quan cạnh tranh các nước, nhìn chung cơ quan cạnh tranh đều mang tính “lưỡng tính” hay bản chất là “hành chính bán tư pháp”. Điều này có nghĩa là cơ quan cạnh tranh vừa là cơ quan hành chính, chịu trách nhiệm thực thi các chính sách, pháp luật theo chỉ đạo của Chính phủ, vừa là cơ quan hoạt động mang tính tài phán khi có quyền ra quyết định điều tra, xử phạt và đưa ra các biện pháp chế tài đối với các bên có hành vi vi phạm pháp luật. Cách tiếp cận này cũng gợi mở ra một tư duy vượt khỏi cách tiếp cận truyền thống về phương pháp tổ chức bộ máy nhà nước phải được chi theo lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bên cạnh đó, sự kết hợp hai đặc tính “hành chính” và “tư pháp” là yếu tố đảm bảo cho cơ quan cạnh tranh thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Ví dụ rõ nét nhất về tính lưỡng tính của cơ quan cạnh tranh được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban thương mại lành mạnh của Nhật Bản. Căn cứ Luật của Nhật Bản, có thể chia chức năng của Uỷ ban này làm hai loại: chức năng hành chính và chức năng tư pháp. Chức năng hành chính bao gồm: (i) ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chống độc quyền; (ii) thực hiện phối hợp với các ngành khác trong việc soạn thảo luật và chính sách ngành; (iii) hợp tác quốc tế về cạnh tranh và chống độc quyền. Về thẩm quyền tư pháp, khi xử lý vụ việc vi phạm Luật chống độc quyền, Uỷ ban có thể thi hành Luật đối với vụ việc hoàn toàn dựa vào các điều khoản và cách hiểu như tòa án.

Continue reading

BẢO ĐẢM TÍNH THỐNG NHẤT PHÁP LUẬT TẠI CHLB ĐỨC

GS.TS. JÜRGEN W. SIMON – Đại học Tổng hợp Lüneburg, CHLB Đức

A. Khái quát chung về công tác xây dựng pháp luật

Công tác xây dựng pháp luật ở Đức có những nét đặc trưng được thể hiện qua việc xây dựng chặt chẽ các quy phạm trong nước và việc chấp nhận các quy phạm quốc tế hoặc quy phạm được xây dựng giữa các quốc gia (Cộng đồng Châu Âu). Mô hình xây dựng pháp luật này, với những lựa chọn khác nhau, là mô hình điển hình cho các quốc gia thành viên Cộng đồng Châu Âu. Xin giới thiệu dưới đây ba mô hình sau:

1. Thủ tục xây dựng pháp luật tiêu chuẩn của Đức

1.1. Quá trình thủ tục

Hoạt động xây dựng pháp luật tiêu chuẩn là cách thức thông thường được sử dụng để xây dựng pháp luật liên bang ở Đức. đồng thời, hoạt động xây dựng pháp luật này cho thấy được sự thống nhất và đồng bộ trong việc soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật. Dưới đây, tôi xin phác thảo qua hoạt động xây dựng pháp luật này và đưa ra những giải pháp về những khía cạnh được coi là quan trọng đảm bảo tính thống nhất, việc ban hành cũng như đưa ra các khuyến nghị cho công tác lập pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lần này, tôi chỉ có thể khái quát một phần các khía cạnh có liên quan do thời gian có hạn. Hơn nữa, các ý tưởng sẽ được đưa ra trong Chủ đề 2.

Hoạt động xây dựng pháp luật ở Đức được tiến hành theo những bước sau:

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: