Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

BÁO CÁO MÔ HÌNH CƠ QUAN CẠNH TRANH – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

BỘ CÔNG THƯƠNG

A. Các yêu cầu đối với một cơ quan cạnh tranh hiệu quả

1. Yêu cầu về tính độc lập

Qua thực tế nghiên cứu các mô hình cơ quan cạnh tranh các nước, nhìn chung cơ quan cạnh tranh đều mang tính “lưỡng tính” hay bản chất là “hành chính bán tư pháp”. Điều này có nghĩa là cơ quan cạnh tranh vừa là cơ quan hành chính, chịu trách nhiệm thực thi các chính sách, pháp luật theo chỉ đạo của Chính phủ, vừa là cơ quan hoạt động mang tính tài phán khi có quyền ra quyết định điều tra, xử phạt và đưa ra các biện pháp chế tài đối với các bên có hành vi vi phạm pháp luật. Cách tiếp cận này cũng gợi mở ra một tư duy vượt khỏi cách tiếp cận truyền thống về phương pháp tổ chức bộ máy nhà nước phải được chi theo lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bên cạnh đó, sự kết hợp hai đặc tính “hành chính” và “tư pháp” là yếu tố đảm bảo cho cơ quan cạnh tranh thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Ví dụ rõ nét nhất về tính lưỡng tính của cơ quan cạnh tranh được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban thương mại lành mạnh của Nhật Bản. Căn cứ Luật của Nhật Bản, có thể chia chức năng của Uỷ ban này làm hai loại: chức năng hành chính và chức năng tư pháp. Chức năng hành chính bao gồm: (i) ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chống độc quyền; (ii) thực hiện phối hợp với các ngành khác trong việc soạn thảo luật và chính sách ngành; (iii) hợp tác quốc tế về cạnh tranh và chống độc quyền. Về thẩm quyền tư pháp, khi xử lý vụ việc vi phạm Luật chống độc quyền, Uỷ ban có thể thi hành Luật đối với vụ việc hoàn toàn dựa vào các điều khoản và cách hiểu như tòa án.

Continue reading

Advertisements

BẢO ĐẢM TÍNH THỐNG NHẤT PHÁP LUẬT TẠI CHLB ĐỨC

GS.TS. JÜRGEN W. SIMON – Đại học Tổng hợp Lüneburg, CHLB Đức

A. Khái quát chung về công tác xây dựng pháp luật

Công tác xây dựng pháp luật ở Đức có những nét đặc trưng được thể hiện qua việc xây dựng chặt chẽ các quy phạm trong nước và việc chấp nhận các quy phạm quốc tế hoặc quy phạm được xây dựng giữa các quốc gia (Cộng đồng Châu Âu). Mô hình xây dựng pháp luật này, với những lựa chọn khác nhau, là mô hình điển hình cho các quốc gia thành viên Cộng đồng Châu Âu. Xin giới thiệu dưới đây ba mô hình sau:

1. Thủ tục xây dựng pháp luật tiêu chuẩn của Đức

1.1. Quá trình thủ tục

Hoạt động xây dựng pháp luật tiêu chuẩn là cách thức thông thường được sử dụng để xây dựng pháp luật liên bang ở Đức. đồng thời, hoạt động xây dựng pháp luật này cho thấy được sự thống nhất và đồng bộ trong việc soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật. Dưới đây, tôi xin phác thảo qua hoạt động xây dựng pháp luật này và đưa ra những giải pháp về những khía cạnh được coi là quan trọng đảm bảo tính thống nhất, việc ban hành cũng như đưa ra các khuyến nghị cho công tác lập pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, trong lần này, tôi chỉ có thể khái quát một phần các khía cạnh có liên quan do thời gian có hạn. Hơn nữa, các ý tưởng sẽ được đưa ra trong Chủ đề 2.

Hoạt động xây dựng pháp luật ở Đức được tiến hành theo những bước sau:

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VỀ ĐẢM BẢO TÍNH THỐNG NHẤT, ĐỒNG BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

 MORINAGA TARO – Công tố viên và Luật sư Chính phủ, Cố vấn trưởng Dự án JICA về Hợp tác Pháp luật tại Việt Nam

Việc không đảm bảo được tính thống nhất trong xây dựng pháp luật có thể là một mối nguy hiểm hoặc cản trở nghiêm trọng đối với đời sống xã hội. Xấu hơn nữa, nó có thể dẫn tới sự mất ổn định của cả đất nước và hệ thống chính trị do thiếu sự tin tưởng của công chúng vào các luật và hệ thống pháp luật. Do vậy, để tránh gặp phải tình huống không mong đợi đó, các nước đã nỗ lực để thiết lập và duy trì một khuôn khổ mang tính hệ thống, cả về lý luận và tổ chức, để hài hoà hoá và đảm bảo tính thống nhất của hàng loạt các quy phạm và quy định cần thiết cho xã hội. Bản thân Nhật Bản cũng đã rất nỗ lực trong vấn đề này. Trong phần này, tôi muốn chia sẻ với các bạn một số thông tin về việc Nhật Bản đã xử lý vấn đề này như thế nào và các khả năng có thể khác từ kinh nghiệm của Nhật Bản mặc dù có sự khác biệt trong toàn bộ hệ thống pháp luật và lối suy nghĩ cơ bản. Ngoài ra, nếu thời gian cho phép, tôi xin chỉ ra một số đặc điểm trong cách làm luật của Việt Nam từ cách nhìn của một người nước ngoài và một số khuyến nghị nhằm cải thiện hơn nữa bí quyết xây dựng pháp luật.

Đảm bảo tính hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật ở Nhật Bản

Như mọi người đã biết, Nhật Bản nằm trong nhóm các nước có "hệ thống pháp luật thành văn” cùng với nhiều nước Châu Âu lục địa và phần lớn các nước châu Á khác trong đó có Việt Nam, nơi mà "pháp luật thành văn” là nguồn pháp luật cơ bản. Mặc dù từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng nhiều của Hoa Kỳ, thì các đạo luật khung thành văn cơ bản vẫn theo lối lục địa được tạo ra trong thời đại Meiji (1868-1912), bằng việc hăm hở "du nhập” tư tưởng và khái niệm của Đức (Prussian) và Pháp. Cao nhất trong toàn bộ hệ thống là Hiến pháp Nhật Hoàng (1889) mang mầu sắc Prussian, pháp luật đã hình thành các thứ bậc một cách lô gích trong nền quân chủ lập hiến. Sau khi thua trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai năm 1945, Nhật Bản tự chuyển đổi thành nước dân chủ kể cả về mặt pháp luật bằng việc thay Hiến pháp Nhật Hoàng bằng Hiến pháp hiện tại khác hẳn với Hiến pháp cổ về hệ tư tưởng và khái niệm cơ bản. Nhưng điều này không có nghĩa là tính thức bậc cơ bản của pháp luật bị phá vỡ.

Continue reading

TRUNG QUỐC VÀO TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO): CƠ HỘI VÀ THỬ THÁCH

Image result for Wto AND CHINATRẦN QUỐC HÙNG – Chuyên viên cao cấp của một Tổ chức Tài chính Quốc tế

Tóm tắt

Việc Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Ià một sự kiện Iịch sử trong nền kinh tế thế giới. Trung Quốc coi việc vào WTO Ià một quyết định có tính cách chiến Iược, nhằm củng cố và đẩy mạnh các cải cách kinh tế mà Trung Quốc đã thực hiện trong hơn hai thập kỷ qua. Trước khi vào WTO, Trung Quốc đã nhiều lần giảm thuế quan xuống mức thấp nhất trong các nước đang phát triển. Vì vậy, Trung Quốc có khả năng thực hiện các cam kết về giảm thuế quan theo Iịch trình WTO. Sau khi vào WTO, Trung Quốc sẽ trở thành một mắt xích rất quan trọng trong tiến trình sản xuất và phân phối toàn cầu. Cùng với thị trường nội địa khổng lồ, Trung Quốc sẽ thu hút đầu tư trực tiếp từ khắp thế giới. Ðây Ià thách thức Iớn cho các nước trong khu vực. Tuy nhiên, nếu các nước này Iinh động và nắm được thời cơ, thì cũng có thể dựa theo đà phát triển của Trung Quốc để kích thích nền kinh tế của nước mình.

I. Giới Thiệu

Trong tháng 9/2001 đã xảy ra hai sự kiện có khả năng thay đổi cục diện thế giới.1 Cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9 đã tạo ra nhiều thay đổi lớn trong quan hệ chính trị và an ninh giữa các nước. Sự kiện thứ hai là trong ngày 17/9, Trung Quốc (TQ) đã kết thúc quá trình đàm phán kéo dài 15 năm để gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO). Sự kiện này đánh dấu một bước trưởng thành của công cuộc cải cách kinh tế TQ : có khả năng và điều kiện để chấp nhận và thi hành luật lệ thương mại quốc tế, cũng như sự cạnh tranh của doanh nghiệp, hàng hoá và dịch vụ nước ngoài trong thị trường nội địa. Nó cũng thể hiện quyết tâm của giới lãnh đạo TQ muốn thúc đẩy quá trình cải cách lên một mức độ cao hơn, cụ thể là dùng thể chế và luật lệ quốc tế cũng như sự cạnh tranh để làm sức ép đẩy mạnh việc cải cách doanh nghiệp, ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Nếu thành công, TQ sẽ tiến một bước rất lớn trong việc hiện đại hoá và công nghiệp hoá, trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới.

Continue reading

ĐẠO ĐỨC SINH HỌC VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

JERRY SAINTE-ROSE – Công tố viên cao cấp tại Toà Phá án Cộng hòa Pháp, Chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực pháp luật về đạo đức sinh học

I. Giới thiệu về đạo đức sinh học

Đạo đức sinh học là gì?

Bác sỹ chuyên khoa ung thư người Mỹ Von-Pater, người đã đưa ra khái niệm này, định nghĩa rằng đó là sự kết hợp giữa những khám phá sinh học với những giá trị nhân bản. Các nhà nghiên cứu về sự sống và về cơ thể sống thì cho rằng đó là một cách tiếp cận mới trong quá trình đưa ra những quyết định về những vấn đề đạo đức và về việc sử dụng các công nghệ mới có liên quan đến cơ thể sống và đến sức khoẻ của con người.

Trong thực tế, thực tiễn đạo đức sinh học đã xuất hiện trước khi có thuật ngữ để chỉ thực tiễn đó. Vào cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà bác học thuộc mọi quốc gia đã tập hợp lại với nhau, bày tỏ sự lo lắng của họ trước việc sử dụng vũ khí hạt nhân và mong muốn định hướng cho tương lai. Quả bom nguyên tử đầu tiên ném xuống Nakasaki đã là một dấu hiệu của thực tiễn đạo đức sinh học.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA PHÁP VỀ HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

JEAN – MARIE COULONChánh án Toà Phúc thẩm Paris, Cộng hòa Pháp

Mục đích chính của việc hoà giải đó là khuyến khích việc giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên trước khi tiến hành tố tụng hoặc trong quá trình tố tụng. Hoà giải trong tố tụng dân sự là một nghĩa vụ của thẩm phán cả về mặt pháp lý và về mặt đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ này được quy định trong pháp luật quốc gia (Điều 21, Bộ luật TTDS mới của Pháp) và cả trong pháp luật của Liên minh Châu Âu.

Ở Pháp, có ba phương thức thường được áp dụng để giải quyết vụ việc theo thoả thuận giữa các bên : Tự hoà giải ; hoà giải ; trung gian. Vấn đề này còn bao hàm một nội dung nữa, đó là vấn đề tiếp cận pháp luật (trợ giúp pháp lý). Vấn đề tiếp cận pháp luật lại gồm hai nội dung : Tạo điều kiện cho người dân hiểu và nắm bắt được nội dung của các quy định pháp luật ; cung cấp cho người dân những phương tiện cần thiết để thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật.

1. Dàn xếp, tự hoà giải giữa các bên

Về phương thức giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp, tự hòa giải giữa các bên, theo quy định của Đạo luật năm 1998 và Nghị định hướng dẫn thi hành, việc dàn xếp và tạo điều kiện cho các bên tự hoà giải là lĩnh vực hoạt động của luật sư. Đạo luật năm 1998 quy định một khuôn khổ pháp lý rất chặt chẽ cho việc tiến hành tự hòa giải giữa các bên mà không có sự tham gia của thẩm phán, thậm chí là trước khi đưa vụ việc ra tòa.

Continue reading

CÁC NGHỀ TƯ PHÁP TRONG CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐƯƠNG ĐẠI

GS. JAUFFRET SPINOSI – Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp

Trên thế giới, các nghề luật, nghề tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp được tổ chức theo những mô hình rất đa dạng, xuất phát từ những đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ của người dân cũng như hệ thống pháp luật và các nguyên tắc tố tụng của mỗi quốc gia.

Có nhiều hoạt động yêu cầu phải có một đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp vụ. Ví dụ như trong một vụ kiện, đương sự phải có người đại diện trước Tòa, đồng thời quyền lợi của anh ta cũng phải được bảo vệ. Khi đã có bản án thì các quyết định của Tòa án phải được thi hành. Trong một thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải được đảm bảo an toàn cho đến khi Tòa đưa ra quyết định cuối cùng. Còn bên ngoài Tòa án, mọi người vẫn sinh sống, cưới xin, làm giàu và chết đi bình thường. Dấu vết của tất cả các sự kiện này cũng phải được thiết lập vì khi cần thiết, chúng ta phải có những bằng chứng để chứng minh và cần có những bằng chứng xác thực nhất.

Một luật gia duy nhất liệu có thể đảm nhận tất cả các công việc này không? Liệu có nên lập ra nhiều nghề khác nhau để chia xẻ những công việc này không?.

……

TRA CỨU NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY

SOURCE: Tham luận Hội thảo “Vai trò của các nghề bổ trợ tư pháp trong Nhà nước pháp quyền”, Nhà Pháp luật Việt – Pháp. TP. HCM. 1999

CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN HOA KỲ

GS.TS. PAMELA S. KATZ – Đại học Sage (New York), Học giả Chương trình Fulbright tại Việt Nam năm 2012-2013; Chương trình Fulbright tại Ấn Độ năm 2016

NCS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM

Dẫn nhập:

Hệ thống tòa án có thể được xem là chế định bền vững và ít thay đổi nhất tại Hoa Kỳ. Những nhà soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ đã tiên đoán được những thách thức mà nhánh quyền lực này gặp phải khi giải thích và thi hành pháp luật, đặt trong khung cảnh của một quốc gia liên bang, cũng như các bang trong tổng thể hệ thống chính quyền liên bang.

Những nhà lập hiến Hoa Kỳ đồng ý thiết lập một hệ thống tòa án lưỡng cấp, mà ở đó các tòa án liên bang, dù có thẩm quyền hạn chế, vẫn có những sự ảnh hưởng rất lớn khi các tòa này thực thi quyền tư pháp của mình. Hệ thống tự điều chỉnh theo chiều dọc của các tòa án, cũng như sự cân bằng và đối trọng giữa các nhánh quyền lực nhà nước, giúp hạn chế những sự lạm dụng quyền lực một cách tuyệt đối ở tất cả các nhánh quyền lực, bao gồm cả nhánh tư pháp.Sự cân bằng một cách hài hòa giữa tính ổn định và tính linh hoạt của hệ thống tòa án được duy trì một cách xác đáng trong nhiều thế kỷ, mặc dù trải qua không ít thách thức.Tuy nhiên, các thách thức phải đối mặt ngày nay thực sự phức tạp, đòi hỏi sự cố gắng của tất cả hệ thống nhằm khắc phục những khó khăn cũng như phát huy những thế mạnh của hệ thống tòa án Hoa Kỳ.

I. Hệ thống tòa án lưỡng cấp

Tồn tại hai hệ thống tòa án tại Hoa Kỳ, hệ thống tòa án liên bang được thiết lập bởi Hiến pháp Hoa kỳ và Đạo luật tư pháp liên bang , còn hệ thống tòa án bang được thiết lập bởi hiến pháp và luật của 50 bang khác nhau (US, 1879, Judicial Act). Theo Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ, các tòa án liên bang là những tòa án có thẩm quyền xét xử hạn chế. Các tòa án này chỉ có thể xét xử các vụ việc:

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: