THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM TRONG BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI

Kết quả hình ảnh cho smile children in vietnamPGS. TS. VŨ HOÀNG CÔNG – Tổng Biên tập Tạp chí Lý luận chính trị

Sự nghiệp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là bản chất của chủ nghĩa xã hội, là quá trình liên tục, cần có sự nỗ lực thực chất. Trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần xác định rõ những đối tượng và những quyền mang tính ưu tiên, cấp bách để tập trung đầu tư nguồn lực, tạo nên chuyển biến rõ rệt trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Thành tựu to lớn trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Thứ nhất, thành tựu về nhận thức trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Trước hết, chúng ta nhận thức rõ quyền con người là vấn đề hoàn toàn phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta cũng nhận thức rõ quyền con người được thể hiện cụ thể ở quyền công dân, song không đồng nhất với quyền công dân. Nếu quyền công dân có tính đặc thù, tùy thuộc vào trình độ phát triển trong mỗi giai đoạn lịch sử, phụ thuộc nhất định vào hệ giá trị mang tính quốc gia, dân tộc, thì quyền con người có tính phổ quát. Mỗi cá nhân cần phải được tôn trọng, được bảo vệ và ngày càng có điều kiện tốt hơn trong việc thỏa mãn các quyền về chính trị – dân sự, kinh tế – văn hóa – xã hội. Theo đó, đồng thời với việc tạo điều kiện để những người có năng lực vượt trội so với số đông có thể phát triển như mong muốn, những đối tượng bất lợi, dễ bị tổn thương cũng được chăm sóc, được tạo điều kiện để hòa nhập xã hội, khẳng định giá trị bản thân.
Mặt khác, chúng ta hiểu rõ việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người ở mỗi quốc gia là trách nhiệm của nhà nước có chủ quyền mà không tổ chức quốc tế, không một lực lượng bên ngoài nào có thể thay thế được. Việt Nam kiên quyết đấu tranh với những kẻ lợi dụng vấn đề quyền con người để thực hiện các hoạt động thù địch, phá hoại độc lập, chủ quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước, đồng thời tích cực hợp tác quốc tế trong thúc đẩy quyền con người.
Thứ hai, thành tựu trong xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên mọi lĩnh vực.

Tiếp tục đọc

Advertisements

XỬ LÝ TỐT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI

Hình ảnh có liên quanGS.TS. NGUYỄN XUÂN THẮNG – Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chínḥ quốc gia Hồ Chí Minh

Bảo đảm độc lập, tự chủ là nguyên tắc nhất quán trong hệ thống quan điểm hội nhập quốc tế của Đảng ta và là đường lối xuyên suốt trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới. Đổi mới tư duy về quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế góp phần đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực hiện nay trước những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh bên ngoài và tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước. Văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định, việc quán triệt và xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đất nước ta trong giai đoạn tới.

Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ thực tiễn 30 năm đổi mới

Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, đất nước ta phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng. Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài đã làm triệt tiêu các động lực phát triển; đất nước bị cô lập, bị cấm vận và lệ thuộc vào viện trợ từ bên ngoài. Đời sống của nhân dân rất khó khăn, nghèo đói tăng nhanh, nền kinh tế – xã hội có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, tư tưởng hoang mang lan rộng đặt chế độ chính trị trước thách thức to lớn.

Trước những khó khăn đó, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có chủ trương “tham gia sự phân công lao động quốc tế”, “mở mang quan hệ kinh tế và khoa học – kỹ thuật” với bên ngoài(1). Tinh thần của Đại hội VI toát lên một tiếp cận mới rằng, độc lập, tự chủ không có nghĩa là biệt lập, “đóng cửa” với thế giới, từ đó mở đường cho tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm đầu đổi mới. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiến thêm một bước với chủ trương cụ thể hơn: “Mở rộng, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại” và theo quan điểm chỉ đạo “thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát huy mạnh mẽ các lợi thế và nguồn lực bên trong”(2). Tuy nhiên, công cuộc đổi mới diễn ra chưa được bao lâu thì Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng và tan rã, khiến lòng dân dao động, lo ngại về con đường đi tiếp của đất nước ta. Trong hoàn cảnh đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 ra đời, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta trong sự nghiệp lãnh đạo toàn dân kiên định con đường đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là minh chứng hết sức sinh động và ý nghĩa về tầm quan trọng của việc giữ vững độc lập, tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển của đất nước ta trước những biến động to lớn của thời đại.

Tiếp tục đọc

NỀN CỘNG HÒA VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở HÀN QUỐC: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TOÀN CẦU

Kết quả hình ảnh cho DEVELOPMENT OF ECONOMY IN KOREA GS. KIM SANGBONG – Đại học Quốc gia Chonnam, Hàn Quốc

Người dịch: THS.VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG

Người hiệu đính: THS. TRẦN TUẤN PHONG

Nói về nền cộng hoà và kinh tế thị trường ở Hàn Quốc hiện nay, tác giả đã đi đến khẳng định việc đề cao trách nhiệm xã hội đối với công chúng trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, trước ảnh hưởng của kinh tế thị trường toàn cầu, lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội có thể bị hạn chế và đe doạ, nếu nhà nước bị lợi ích kinh tế chi phối. Trong bối cảnh này, để duy trì một nhà nước cộng hoà như một thể chế chính trị thuộc về công chúng, trước hết cần phải làm cho các doanh nghiệp thực sự dân chủ và có khả năng điều tiết nguồn vốn cả về mặt xã hội lẫn về mặt chính trị.

Như chúng ta đều biết, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã phân biệt rõ nhà nước với gia đình, còn gọi là thành bang gia đình, hay lĩnh vực công lĩnh vực tư. Khi đó, người ta đã hiểu rằng, công việc chính trị không giống với việc quản lý gia đình. Trong khi chính trị là sự thực hiện quyền tự do công dân, còn quản lý gia đình nhằm mưu cầu sự giàu có. Nghĩa là, đối với người Hy Lạp và người La Mã cổ đại, kinh tế thuộc về lĩnh vực tư nhân.

Song, trong thời đại ngày nay, kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất của nhà nước (lĩnh vực công) và chi phối cả chính trị. Nhưng, tiền bạc thì lại không hàm chứa đặc tính công  như vậy, bởi nó hoàn toàn là sở hữu (mang tính) tư nhân. Khi việc theo đuổi sự giàu có (thịnh vượng về mặt vật chất) trở thành mục đích cao nhất của một quốc gia, thì nhà nước đó hẳn sẽ dần đánh mất đặc tính công và khi đó chế độ dân chủ sẽ rơi vào tình trạng bế tắc như chúng ta có thể thấy ở Hàn Quốc gần đây.

Tiếp tục đọc

NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Kết quả hình ảnh cho FARMERS IN VIETNAMPGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright

Bối cảnh nghiên cứu: Người nông dân và tranh chấp trong thu hồi đất đai

Công nghiệp hóa, đô thị hóa đã và sẽ diễn ra ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới với tốc độ ngày càng nhanh. Trong quá trình đó, nông dân có thể sẽ là lực lượng xã hội chịu thiệt thòi nếu phúc lợi tạo ra từ công nghiệp hóa không được san sẻ cho họ một cách công bằng. Khi lợi ích giữa Nhà nước, các chủ đầu tư phát triển quỹ đất và người nông dân bị thu hồi đất không được phân bổ hài hòa, có nguy cơ xuất hiện nhiều tranh chấp liên quan đến thu hồi đất đai. Bài viết dưới đây bàn về các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai khi nông dân bị thu hồi đất. Những tranh chấp này cần được nhận diện và giải quyết một cách thỏa đáng từ góc độ chính sách và pháp luật.

Để công nghiệp hóa và đô thị hóa, tất yếu cần thu hồi đất nông thôn và đất nông nghiệp để chuyển thành đất công nghiệp, đất đô thị, với hy vọng hiệu quả sử dụng đất sẽ nâng cao, đất sẽ có giá hơn. Về kinh tế, theo một đánh giá của Ngân hàng thế giới và Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, khoảng một nửa tới 2/3 của cải của các dân tộc được gắn liền với đất đai [2]. Muốn trở thành quốc gia công nghiệp, hàng triệu nông dân phải mất nghề để chuyển sang khu vực công nghiệp hoặc dịch vụ, 60% dân số Việt Nam sống bằng nghề nông trong khu vực nông thôn chắc chắn sẽ tiếp tục giảm xuống 10-15%, hàng chục triệu nông dân sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức to lớn về sinh kế trong các thập niên tới đây. Tiếp tục đọc

CẢI CÁCH THỂ CHẾ: TỪ TẦM NHÌN ĐẾN THỰC TIỄN

Kết quả hình ảnh cho economic market researchNHÓM TÁC GIẢ: Vũ Thành Tự Anh (anhvt@fetp.edu.vn), Laura Chirot (chirot@mit.edu), David Dapice (david_dapice@harvard.edu), Huỳnh Thế Du (duht@fetp.edu.vn), Phạm Duy Nghĩa (nghiapd@fetp.vnn.vn), Dwight Perkins (dwight_perkins@harvard.edu), và Nguyễn Xuân Thành (thanhnx@fetp.edu.vn)

Đây là bài nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nhằm cung cấp bối cảnh cho hoạt động thảo luận chính sách diễn ra trong Chương trình Lãnh đạo Cao cấp Việt Nam (VELP) lần thứ năm, năm 2015 (Tại Trường Harvard Kennedy, 13-17/4/2015). Bài nghiên cứu trình bày những biện pháp cải cách thể chế một cách có hệ thống, trong đó tập trung vào nhánh lập pháp và tư pháp, để đưa Việt Nam đi theo mô hình phát triển bao trùm – là mô hình khả dĩ nhất để Đảng và Nhà nước đạt được các mục tiêu phát triển, nhờ đó khôi phục tính chính đáng của mình, đảm bảo ổn định xã hội và giữ vững chủ quyền quốc gia.

Phần 1. Thời khắc thực hiện cải cách hướng tới các thể chế bao trùm

1. Phát triển dưới tiềm năng và hệ lụy của nó Trong đúng ba thập kỷ kể từ Đổi mới từ 1986 đến 2015, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ trung bình 6,5%/năm.1 Tốc độ tăng trƣởng này quả là rất ấn tượng bởi kể từ Đại chiến Thế giới II chỉ có 13 quốc gia duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân trên 7% liên tục trong 30 năm. 2 Tuy nhiên, nếu so với các nền kinh tế được xem là những con rồng, con hổ trong khu vực, tốc độ tăng trưởng này còn rất khiêm tốn. Trong ba thập niên trước khủng hoảng tài chính châu Á, Malaysia và Indonesia tăng trưởng trung bình 7,3%, Thái Lan 7,7%, và Hàn Quốc 9,3%; còn sau ba thập niên kể từ chính sách “cải cách khai phóng”, Trung Quốc có mức tăng trưởng trung bình tới 10%. Như vậy, mặc dù Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng vẫn thua kém nhiều nền kinh tế trong khu vực. Tiếp tục đọc

NỢ XẤU AI TRẢ?

Kết quả hình ảnh cho BAD DEBTLS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Công ty Luật Hợp danh DC

Bản chất của nợ

Trong một quốc gia nợ được chia thành ba loại: nợ của chính phủ, của doanh nghiệp và của dân cư. Loại nợ sau cùng ở ta không có vì không có một định chế phổ biến cho việc mua nhà trả góp. Ở đây xin bàn đến nợ của các doanh nghiệp tức là của các ngân hàng thương mại. Thực sự ngân hàng không có nợ, nhưng vì họ cho vay mà không đòi lại được nên … dính nợ.

Về bản chất, theo các nhà kinh tế, nợ không phải là một điều gì xấu. Nó là một phương tiện có ích vì làm cho tiền đi đến chỗ nào cần nó nhất; từ chủ nợ có thừa sang con nợ cần tiền. Một thị trường nợ, ở tầm mức quốc gia hay quốc tế, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế; vì nó giúp cho nhiều con nợ ngày càng vay được những món nợ lớn với lãi suất ngày càng giảm. Theo báo The Economist, về mặt lịch sử có lẽ nợ là một định chế tài chính còn lâu đời hơn cả tiền bạc. Các nhà khảo cổ đã đào thấy các phiến đất sét của người ở Babylon ghi các món nợ phải trả từ 3000 năm trước Công nguyên. Dù được coi là cao cả như thế nhưng nợ vẫn không được kính trọng. Ở Đức, danh từ nợ (schuld) cũng có nghĩa là tội lỗi. Tại đó, những người đi vay được coi là phung phí và chủ nợ lúc đòi bị coi là người hám lợi và nhẫn tâm. Tâm lý ấy tồn tại là vì nợ là một cái gì không được tha thứ, phải được trả dầy đủ, đúng thời hạn, dù có chuyện gì xẩy ra nữa.

Nhìn vào bản chất của nợ như trên, ta thấy tựa bài ngô nghê. Ai nợ thì người ấy trả chứ còn gì nữa. Vâng. Điều ấy giống như lời tuyên bố dõng dạc của một vị chủ tịch tập đoàn lúc đương thời! Nhưng nếu người ấy không trả được thì sao? Thưa nó biến thành nợ xấu loại 5 sau khi quá hạn trả nợ 365 ngày? Nợ xấu loại 5 thì ai trả? Thưa nó được bán cho người khác!

Cơ chế mua bán nợ xấu

Bình thường cơ chế này có ba người chính: người bán nợ, tức là các ngân hàng thương mại (NBN), người mua nợ thứ nhất (NM1) và những người mua nợ thứ hai (NM2). Giả sử NBN có một món nợ là 100$; khi cho vay người ấy đã đòi một tài sản thế chấp được định giá là 130$; thí dụ là một villa cao cấp. Nay người đi vay không trả nợ và villa bán không có ai mua; vậy NBN đang ôm một đống gạch và không có tiền mặt để tiếp tục cho vay. Nay trên thị trường tài chính có NM1. Người này mua món nợ của NBN. Giá là 70$. NBN nhận được số tiền kia và họ kinh doanh tiếp. NM1 bây giờ có một villa và phải tìm cách bán đi, để lấy vốn và lãi về. Họ sẽ bán cho NM2. Tiếp theo, người NM2 bán cho NM2 khác. Những người này có nhiều. Họ mua bán lẫn cho nhau cho đến khi có người thực sự mua villa để ở. Các giao dịch ấy diễn ra được là vì nền kinh tế của một địa phương thay đổi theo chu kỳ: suy thoái – phục hồi – hưng thịnh. Khi mỗi chu kỳ xẩy ra có người mua vào, kẻ bán ra tùy theo vận hội và sự tiên đoán tình hình kinh tế của mỗi người. Những NM2 thường là những người có nhiều tiền và khi villa đã đến tay họ rồi thì nó có thể qua tay nhiều NM2 khác; có người sẽ được lãi; có người bị lỗ, tùy khả năng tiên đoán của họ. Người mua nhà để ở sẽ là người cuối cùng; họ không bán nữa. Vào lúc ấy, villa (nợ xấu) có thể không còn có giá 130$ nữa, mà có thể cao hơn, hay thấp hơn. Người được lời lãi hay chịu lỗ thực sự là người mua nhà để ở. Vậy họ chính là người ôm món nợ xấu. Tuy nhiên vì tất cả những người MN2 và người mua để ở chấp nhận lý lẽ thuận mua vừa bán nên không ai thấy thiệt hại vì cái villa kia. Ở xứ người là như thế, ở ta nó khác. Tiếp tục đọc

ÁP DỤNG TƯ TƯỞNG CANH TÂN NHẬT BẢN TRONG CẢI CÁCH PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho legal reformTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

THS. PHẠM NGỌC LAM GIANG – Viện Nghiên cứu Châu Mỹ

Tư tưởng canh tân của người Nhật có thể coi phát xuất từ Fukuzawa Yukichi với tác phẩm kinh điển “Khuyến học” và hồi ký “Phúc ông tự truyện”***. Công cuộc cải cách pháp luật Việt Nam có thể áp dụng có chọn lựa một số ý tưởng từ tư tưởng canh tân này.

1. Tư tưởng canh tân Nhật Bản

Nhật Bản nổi tiếng thế giới ở việc nâng tầm triết học cho các hoạt động của con người, ví như: thần đạo (shinto), trà đạo, võ sĩ đạo, nhu đạo (judo), hiệp khí đạo (aikido), hoa đạo… Người Nhật nằm lòng câu nói “Samurai lạnh lùng như thanh kiếm của chàng, mặc dù chàng không quên ngọn lửa đã rèn nên thanh kiếm đó[1]. Ngạn ngữ này thể hiện tư tưởng ôn hòa, tự kiềm chế và kỷ luật xuyên suốt toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản và trong cuộc sống thường nhật[2].

Về cải cách giáo dục, W.Scott Morton nhận định người quảng bá sự học Tây phương nhiều nhất tại Nhật Bản là Yukichi Fukuzawa[3]. Tư tưởng canh tân Nhật Bản xuất phát từ quan điểm “Không dễ gì thoát ly hẳn những ảnh hưởng của Trung Hoa, song trong quá trình tiếp thu những hiểu biết mới do mối quan hệ qua lại với lục địa, người Nhật dần dần cảm thấy phải bảo vệ nền độc lập dân tộc của mình[4]. Chính vì vậy, “mặc dầu đất nước này rất trân trọng

giáo lý đạo Khổng từ thế kỷ XIII trở đi, nhưng không thấy triết học của Khổng giáo có vai trò chỉ đạo trong việc giải quyết những vấn đề chính trị nảy sinh trong thực tiễn[5]. Cụ thể hơn, Fukuzawa Yukichi phê bình lối học Trung Hoa “Học hành không bao gồm chủ yếu sự đeo đuổi không thực tế như học những chữ cái Trung Hoa rối rắm, đọc những đoạn cổ văn khó nắm được ý nghĩa hoặc ngâm vịnh và làm thơ[6]. Sau khi độc lập về tư tưởng với người Trung Quốc, người Nhật “chấm dứt chính sách bài ngoại” vào khoảng giữa thế kỷ XIX[7]. George Sansom kết luận “Nước Nhật từ đây hòa nhập với đời sống quốc tế. Tôn ty trật tự phong kiến cũng sụp đổ theo và đến năm 1867 chính quyền quân chủ được hoàn toàn khôi phục[8].

Tiếp tục đọc

HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

Kết quả hình ảnh cho International integrationDỰ ÁN MUTRAP III

Hơn hai thập kỷ hội nhập chính là động cơ chủ yếu cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập và thực hiện các sáng kiến hội nhập, bao gồm tự do hóa đa phương thương mại và đầu tư, đàm phán song phương, thực thi các cam kết WTO, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập ASEAN, đàm phán các FTA khác và đàm phán trong khuôn khổ WTO. Mặc dù trong hơn hai thập kỷ qua, hội nhập kinh tế đã mang lại những lợi ích đáng kể, nhưng Việt Nam vẫn cần hội nhập sâu hơn nếu muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thập kỷ tới. 

Việt Nam bắt đầu Đổi Mới vào giữa những thập kỷ 80 thông qua tự do hóa và hội nhập đa phương. Sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết vào năm 1991 đã chấm dứt chế độ trao đổi hàng hóa và khuyến khích hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Vào giữa những năm 90, Việt Nam bắt đầu quá trình gia nhập WTO, đàm phán hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu và gia nhập ASEAN. Sau khi đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ năm 2001, Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007. Quá trình thực thi các cam kết trong WTO đã được thực hiện trong cả 1 thập kỷ qua và một số cam kết trong đàm phán cũng sẽ được thực hiện trong vài năm tới. Ngoài việc tham gia vào hội nhập khu vực ASEAN, Việt Nam cũng tham gia các FTA ASEAN cộng với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Úc và New Zealand. Bên cạnh đó, đàm phán của ASEAN về FTA với Ấn độ cũng đang có những bước tích cực và đàm phán FTA với EU cũng đang được thực hiện.

Nói chung, tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập. Thương mại và đầu tư ở Việt Nam đã phát triển từ cơ chế tương đối hạn chế sang cơ chế mở như hiện nay. Những kết quả đạt được về mặt kinh tế là rất ấn tượng:

• Tỷ trọng xuất khẩu (và nhập khẩu) trong nền kinh tế tăng gấp 10 lần từ 1988 đến 2008;

• Thu nhập đầu người tăng từ $130 vào đầu thập kỷ 90 lên   $800 vào 2008; và

• Tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể từ 58% năm 1993 xuống 13% năm 2008.

Tiếp tục đọc

KINH TẾ VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ LỰA CHỌN CHO THAY ĐỔI

Kết quả hình ảnh cho VIETNAM ECONOMY GS.TSKH. NGUYỄN QUANG THÁI & TS. BÙI TRINH

1. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam qua một số chỉ số vĩ mô

Tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2014 đạt khoảng 6%, đây là mức tăng trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào cấu trúc về sở hữu trong GDP giai đoạn này có thể thấy, đóng góp vào GDP của Việt Nam cơ bản là từ khu vực kinh tế cá thể, với tỷ lệ ổn định ở mức 32%; trong khi tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm khoảng 4%, thì khu vực đầu tư 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lại tăng khoảng 4%. Cấu trúc về sở hữu cho thấy, nền kinh tế Việt Nam hầu như không có sự thay đổi lớn về cấu trúc; các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn không thể phát triển; tỷ trọng của khu vực sở hữu này trong GDP rất thấp, chiếm khoảng 8% và không thay đổi trong cả giai đoạn 2005 – 2014.

Bảng 1. GDP giá thực tế theo thành phần kinh tế                      Đơn vị: %

 

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Sơ bộ 2014

Tổng số

100

100

100

100

100

100

100

100

100

100

Kinh tế nhà nước

37,62

36,69

35,35

35,07

34,72

29,34

29,01

29,39

29,01

28,73

Kinh tế ngoài nhà nước

47,22

47,24

47,69

47,50

47,97

42,96

43,87

44,62

43,52

43,33

Kinh tế tập thể

6,65

6,39

6,10

5,91

5,80

3,99

3,98

4,00

4,03

4,04

Kinh tế tư nhân

8,51

8,98

9,69

10,23

10,46

6,90

7,34

7,97

7,78

7,79

Kinh tế cá thể

32

32

32

31

32

32

33

33

32

32

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

15,16

16,07

16,96

17,43

17,31

15,15

15,66

16,04

17,36

17,89

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

..

..

..

..

..

12,55

11,46

9,95

10,11

10,05

Nguồn: TCTK

Tiếp tục đọc

MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Kết quả hình ảnh cho stock marketTSKH. NGUYỄN THÀNH LONG – Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – Bộ Tài chính

1. Mối quan hệ phát triển giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế

1.1. Quan hệ phát triển giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế

Một số nhà kinh tế chứng minh sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) có tác động tích cực, là nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển kinh tế. Nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn 1860 – 1963 tại 35 quốc gia của Raymond W. Goldsmith cho thấy, thị trường tài chính phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Theo kết quả nghiên cứu của Greenwood và Smith (1996), TTCK phát triển giúp tiết giảm chi phí huy động vốn, nhờ đó khuyến khích đầu tư, đặc biệt vào các lĩnh vực công nghệ cao. Bencivenga, Smith va Starr (1996), Levine (1991) cho rằng, sự thanh khoản của TTCK là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế. Kyle (1984), Hollmstrom và Tirole (1995) chứng minh được rằng, TTCK có mức độ thanh khoản tốt còn khiến nhà đầu tư quan tâm hơn tới hoạt động của các công ty đại chúng, nhờ đó cải thiện chất lượng quản trị công ty, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu đều có chung một nhận định là sự phát triển của thị trường tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của nền kinh tế và đây là mối quan hệ nhân quả trên nhiều phương diện. Đặc biệt, công trình của Robert G. King và Ross Levine từ nghiên cứu thực nghiệm tại hàng trăm quốc gia trong giai đoạn 1960 – 2000 được xem là có nhiều kết quả quan trọng. Thông qua các chỉ số tài chính về độ sâu, độ rộng và mức độ phát triển của thị trường tài chính, các nhà khoa học còn chỉ ra rằng, mức độ phát triển của thị trường tài chính còn là một chỉ báo tốt cho phép dự báo được mức độ tăng trưởng kinh tế từ 10 tới 30 năm sau. Robert G. King và Ross Levine sau đó mở rộng nghiên cứu này và đi đến kết luận rằng hệ thống tài chính càng phát triển thì càng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, do vậy, các chính sách nhằm phát triển thị trường tài chính có thể tác động tạo nền tảng để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng trong tương lai.

Tuy nhiên, cũng có một số nhà kinh tế chứng minh điều ngược lại. Chẳng hạn, Mayer (1988) cho rằng, những TTCK lớn nhất cũng không phải là nguồn tài trợ quan trọng cho doanh nghiệp. Stiglitz (1985, 1993) cho rằng, TTCK thanh khoản không phải là nhân tố góp phần hoàn thiện cơ chế quản trị công ty hay chế độ công bố thông tin. Theo Devereux và Smith (1994), việc chia sẻ rủi ro ở phạm vi toàn cầu trên thị trường vốn quốc tế có khi lại làm giảm tiết kiệm, cản trở sự phát triển của kinh tế. Shleifer và Summers (1988), Morck, Shleifer và Vishny (1990) cho rằng, sự phát triển của TTCK còn có thể làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế thông qua những ảnh hưởng tiêu cực nảy sinh từ các hoạt động thâu tóm, sáp nhập.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: