Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

ĐƯA HỘ KINH DOANH VÀO LUẬT SẼ KÉO LÙI LUẬT DOANH NGHIỆP

TS. LÊ DUY BÌNH

Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những luật trong lĩnh vực kinh tế có chất lượng tốt nhất của Việt Nam kể từ khi bắt đầu Đổi mới.

Tuy nhiên, ý tưởng đưa hộ kinh doanh vào Luật Doanh nghiệp trong lần sửa đổi này, nếu thành hiện thực, sẽ làm sứt mẻ hình ảnh đẹp đẽ của Luật Doanh nghiệp.

Phá vỡ cấu trúc, tư tưởng và logic của Luật Doanh nghiệp

Đưa hộ kinh doanh thành một loại hình doanh nghiệp vào Luật Doanh nghiệp và vỡ cấu trúc và logic của luật, khiến bộ luật rất tiến bộ này trở thành một luật chứa đựng đầy mâu thuẫn về phương diện khoa học pháp lý và về thực tiễn.

Điều đó có thể đe dọa tới sự phát triển bền vững của khu vực hộ kinh doanh cá thể và không thể hiện được một triết lý và một phương pháp luận đầy đủ, tổng thể nhằm hỗ trợ sự phát triển của khu vực này. Thậm chí, ngáng đường cho những cải cách của khu vực hộ kinh doanh bởi những luật và quy định khác trong thời gian tới do đặt vị thế của hộ kinh doanh vào “một sự đã rồi”.

Luật Doanh nghiệp đã quy định đầy đủ các hình thức pháp lý như pháp nhân kinh doanh với các hình thức như cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, và thậm chí rất mở với các hình thức như doanh nghiệp TNHH một thành viên.

Luật Doanh nghiệp cũng quy định các hình thức cá nhân kinh doanh như doanh nghiệp tư nhân (đáng nhẽ ra phải được gọi là doanh nghiệp cá thể hoặc doanh nghiệp một chủ). Nếu đưa hộ kinh doanh vào luật, câu hỏi đặt ra là bản chất về tư cách pháp lý của hộ kinh doanh sẽ là gì. Continue reading

Advertisements

TÌM HIỂU VỀ CHỈ SỐ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là Báo cáo Môi trường kinh doanh (MTKD) – Doing Business (DB)) của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh. Đây là báo cáo thường niên, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2003. Báo cáo đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng thế giới tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu thành lập hoặc mở rộng hoạt động của một doanh nghiệp.

Báo cáo Môi trường kinh doanh lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 2003 (với tên gọi Doing Business 20041) xem xét 5 chỉ số và 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 (công bố ngày 31/10/2018) xếp hạng 190 nền kinh tế; gồm cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất. Qua các năm, số lượng các chỉ số và các nước khảo sát được mở rộng.

Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc tìm hiểu và cải thiện môi trường pháp lý và thực thi đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ số trong Doing Business thể hiện các nội dung sau:

– Thứ nhất, đo lường chất lượng các quy định; đánh giá được tính phức tạp thể hiện qua các quy định;

– Thứ hai, đo lường thời gian và chi phí tuân thủ các quy định (chẳng hạn như thời gian và chi phí thực hiện hợp đồng, thủ tục phá sản hay thương mại qua biên giới,…);

Continue reading

NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM – NĂNG SUẤT VÀ THỊNH VƯỢNG

TS. LÊ DUY BÌNH – Chuyên gia kinh tế của Economica Viet Nam

TÓM TẮT BÁO CÁO

Năm 2017, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã được ban hành, khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là một điểm mốc quan trọng do trong quá khứ, doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam đã phải trải qua một quá trình phát triển nhiều sóng gió. Trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân đã không được chính thức công nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại, lấp đầy những khoảng trống mà khu vực Nhà nước còn để lại. Năm 1986, chính sách “Đổi mới” đã được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ 6. Với chính sách Đổi Mới, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần. Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã dẫn đến một sự phát triển bùng nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam. Từ đó đến này, môi trường chính sách và pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân đã liên tục được cải thiện.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký gia tăng mạnh mẽ, phản ánh cả quá trình chính thức hoá hộ kinh doanh cũng như sự thành lập các doanh nghiệp mới. Tuy nhiên, có một khoảng cách đang ngày càng lớn dần giữa số lượng doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh và số lượng những doanh nghiệp đang thực sự hoạt động. Bên cạnh các doanh nghiệp được đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hộ kinh doanh đã và đang trở thành một cấu phần quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Sự mở rộng của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam song hành với sự giảm bớt về số lượng doanh nghiệp nhà nước và với sự tăng trưởng chậm chạp của khu vực hợp tác xã (kinh tế tập thể). Sự gia tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân đã dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ về tổng vốn của các doanh nghiệp tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp lớn vào việc hình thành tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khu vực doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Continue reading

QUYỀN RIÊNG TƯ TRÊN MẠNG

GS. PHAN DƯƠNG HIỆU – Đại học Limoges, Pháp

Trong một thế giới nhiều biến động, thì “lòng tin” là một yếu tố vô cùng quan trọng, là cơ sở thiết yếu cho sự phát triển. Việc trợ giúp bảo vệ thông tin cá nhân, yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ phải đạt chuẩn bảo mật cao, cho phép người dùng được quyền quyết định xử lý dữ liệu liên quan đến cá nhân (như truy vết những nơi lưu trữ, hay yêu cầu xóa vĩnh viễn dữ liệu cá nhân) là những biện pháp Chính phủ có thể làm để  gây lòng tin cho người dân, cho doanh nghiệp, cho các đối tác nước ngoài để tạo một môi trường phát triển lành mạnh.

An ninh quốc gia (public safety) và quyền riêng tư (privacy)

Việc đảm bảo đồng thời an ninh quốc gia và quyền riêng tư cho công dân và cho các tổ chức, doanh nghiệp luôn là một thách thức không nhỏ đối với các chính phủ.

Trong những hoàn cảnh đặc biệt nguy cấp, như sau một cuộc khủng bố, các chính phủ thường có xu hướng đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm an ninh (public safety) bằng cách cho phép can thiệp phần nào quyền riêng tư (privacy) của công dân. Đó là khi dân chúng đang hoang mang nên một bộ phận không nhỏ có thể có xu hướng nhượng bộ giảm quyền riêng tư để đổi lấy sự an toàn. Tuy nhiên, ngay cả trong những tình huống đặc biệt nguy cấp như vậy, sự đối thoại vẫn rất cần thiết để có những dự luật hợp lý, mức độ can thiệp quyền riêng tư ở mức tối thiểu, chấp nhận được và với một quy trình tường minh, chặt chẽ.

Continue reading

QUY CHẾ QUỐC TẾ CỦA NGHỆ SỸ

Thời gian qua, ở Việt Nam còn có những tranh luận về việc áp dụng Quy chế nghệ sỹ biểu diễn chuyên nghiệp, Civillawinfor xin trân trọng giới thiệu một cách tiếp cận về vấn đề này để các bạn tham khảo.

SUZANNE CAPIAU – Luật sư Đoàn Luật sư Bruxelles, Giáo sư Trường Đại học Bruxelles, Bỉ

I. Quy chế nghệ sỹ là gì?

Bản Khuyến cáo về địa vị của nghệ sỹ đã được thông qua năm 1980, dưới sự bảo trợ của UNESCO. Bản Khuyến cáo đã đưa ra một định nghĩa mở rộng về khái niệm “nghệ sỹ”, nhìn dưới góc độ xã hội học .

Trong khuôn khổ Khuyến cáo này,

1. Khái niệm “nghệ sỹ” được hiểu là người đã sáng tạo hay, bằng việc biễu diễn của mình, đã tham gia vào việc sáng tạo hay tái tạo các tác phẩm nghệ thuật, coi việc sáng tạo nghệ thuật như một yếu tố cơ bản của cuộc sống của mình, qua đó đã đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật và văn hoá, và được thừa nhận hoặc tìm cách để được thừa nhận là mình với tư cách nghệ sỹ, có bị ràng buộc hay không bằng một quan hệ công việc hay hiệp hội nào đó.”

Định nghĩa này chủ yếu quy chiếu đến khái niệm tác giả (người sáng tạo) và khái niệm nghệ sỹ biểu diễn (bằng việc biểu diễn của mình, đã tham gia vào việc sáng tạo hay tái tạo các tác phẩm nghệ thuật), nghĩa là đến các công ước về quyền tác giả và các quyền phái sinh của nghệ sỹ biểu diễn. Continue reading

BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC TRONG HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)

 TSKH. NGUYỄN THANH HOÀNG – Đại học Khoa học Xã hội – Nhân văn TP.HCM

1. Đặt vấn đề

Thực tế không một chính phủ nào có đủ khả năng trang trải mọi khoản đầu tư và chi phí cho dịch vụ công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng; do vậy, việc tìm kiếm các hình thức đầu tư mới, có sự tham gia của tư nhân trong đầu tư, cung cấp dịch vụ công là mối quan tâm của nhiều quốc gia, nhất là vào những thời điểm ngân sách bị suy giảm. Tuy nhiên, có rất nhiều hạn chế trong mối quan hệ đối tác giữa Nhà nước và Tư nhân (Public – Private – Partnership – PPP) do tính chất phức tạp từ mức độ của sự hợp tác, bản chất của mối quan hệ, khung pháp lý, cách tiếp cận không thống nhất về phát triển dự án, các biến đổi tác động theo thời gian của dự án. Hơn nữa, rủi ro ngày càng gia tăng nên các cam kết, hợp tác vốn, tối đa hóa sự hợp tác thông qua PPP trờ thành những thách thức to lớn (Ngân hàng Thế giới, không năm xuất bản). Do vậy, nghiên cứu về PPP, hiểu đúng về PPP để có sự áp dụng đúng đắn, đem lại lợi ích tối ưu là cần thiết.

Mặc dù, hình thức đầu tư đối tác công tư đã có từ lâu trên thế giới, nhưng mãi đến năm 2009 mới được ghi nhận chính thức tại Việt Nam theo Nghị định số 108/2009/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Xây dựng – Chuyển giao (BT), và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư và mới đây nhất là Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2015…

Continue reading

HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ: PHÂN TÍCH VỤ VIỆC PHILIP MORRIS KIỆN CHÍNH PHỦ ÚC VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

 ĐÀO KIM ANH & TRỊNH QUANG HƯNG –  Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, hoạt động đầu tư quốc tế đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những động lực chính đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các tranh chấp đầu tư cũng gia tăng nhanh chóng và ngày càng phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài (“NĐTNN”) và Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Với mục đích đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho NĐTNN và khuyến khích hoạt động đầu tư quốc tế, từ những năm 1960, pháp luật đầu tư quốc tế đã hình thành cơ chế cho phép NĐTNN trực tiếp khởi kiện Nhà nước ra trọng tài quốc tế. Mặc dù cơ chế này được đánh giá cao về tính độc lập và hiệu quả, thực tế áp dụng cho thấy cơ chế này bộc lộ những “lỗ hổng” và có nguy cơ bị lạm dụng bởi nhà đầu tư.

Một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây liên quan tới việc lạm dụng cơ chế giải quyết tranh chấp (GQTC) là hiện tượng treaty shopping. Đây là một kỹ thuật được nhà đầu tư thực hiện thông qua việc cố tình thành lập doanh nghiệp hoặc thay đổi cơ cấu sở hữu nhằm đạt được quốc tịch mong muốn để sau đó có thể khởi kiện Nhà nước theo một hiệp định đầu tư quốc tế (IIA) có lợi cho nhà đầu tư. Treaty shopping được thực hiện ngày càng nhiều và trở thành một vấn đề “nóng” trong nhiều vụ tranh chấp đầu tư. Như vậy, câu hỏi đặt ra là treaty shopping có phải là hành vi hợp pháp hay không? Trong thực tiễn tranh chấp, cơ quan xét xử giải quyết vấn đề này như thế nào? Quan trọng hơn, đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, làm thế nào để có thể phòng tránh nguy cơ bị nhà đầu tư khởi kiện thông qua kỹ thuật treaty shopping trong khi vẫn đảm bảo chính sách thu hút đầu tư nước ngoài? Bài viết dưới đây sẽ trả lời các câu hỏi trên thông qua việc nghiên cứu thực tiễn xét xử tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan tới treaty shopping, đặc biệt đi sâu phân tích vụ tranh chấp giữa Philip Morris và Chính phủ Úc – một trong những tranh chấp điển hình về vấn đề này.

Continue reading

CÙNG DÂN CHỨ ĐỪNG CHO DÂN

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV, tháng 10/2018): Phát triển bền vững trên ba trụ cột kinh tế – xã hội – môi trường, đảm bảo mọi thành viên trong xã hội có thể tham gia đóng góp và hưởng lợi tương xứng từ tăng trưởng, không để ai bị bỏ lại phía sau – đó là nền tảng của phát triển bao trùm” – Civillawinfor St.

JASON VON MEDING (Minh Châu dịch)

Trong hai bài viết đầu của loạt bài này, chúng ta đã khám phá những khía cạnh ít được chú ý tới về thái độ con người trong thảm họa: trong thâm tâm, mọi người đều TỐT. Khi tai họa ập đến, chúng ta thấy họ tạm thời gạt bỏ những mâu thuẫn cá nhân: Một cơ hội mở ra, để họ có thể tạo dựng những gì tốt đẹp hơn, không phải là của cải vật chất mà là sự gắn kết cộng đồng.

Bản chất của hiện tượng mà chúng ta quan sát được sau thảm họa là sự gắn kết và mối quan hệ giữa người với người. Tất cả chúng ta đều có nhu cầu được giúp đỡ người khác. Bất kể các nhà kinh tế học có nói gì đi nữa, chúng ta không sinh ra để cạnh tranh, mà để chia sẻ. Nhưng diễn giải của những nhà cầm quyền (và công cụ truyền thông của họ), vẫn được chấp nhận rộng rãi, lại nói điều ngược lại, đã đặt chúng ta trong trạng thái đối chọi với nhau (chẳng hạn như những người trẻ thường đòi hỏi quá nhiều quyền lợi), và đối chọi với chính Trái đất (phải hi sinh môi trường để đổi lấy lợi ích kinh tế) – nguồn duy trì sự sống cho chúng ta.

Nhưng những diễn giải đó là rào cản lớn nếu chúng ta muốn các cá nhân và cộng đồng trở nên an toàn và mạnh mẽ hơn trước các nguy cơ, và nếu chúng ta muốn tránh những quyết định có thể dẫn đến rủi ro cho những cộng đồng người (phần này đã được nhắc đến trong bài trước). Nếu chúng ta chấp nhận những “câu chuyện” tiêu cực về những người khác, chúng ta đang chọn việc tin vào một lời nói dối về chính mình, chúng ta chọn việc đánh giá thấp năng lực của mình.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: