Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC TRONG HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)

 TSKH. NGUYỄN THANH HOÀNG – Đại học Khoa học Xã hội – Nhân văn TP.HCM

1. Đặt vấn đề

Thực tế không một chính phủ nào có đủ khả năng trang trải mọi khoản đầu tư và chi phí cho dịch vụ công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng; do vậy, việc tìm kiếm các hình thức đầu tư mới, có sự tham gia của tư nhân trong đầu tư, cung cấp dịch vụ công là mối quan tâm của nhiều quốc gia, nhất là vào những thời điểm ngân sách bị suy giảm. Tuy nhiên, có rất nhiều hạn chế trong mối quan hệ đối tác giữa Nhà nước và Tư nhân (Public – Private – Partnership – PPP) do tính chất phức tạp từ mức độ của sự hợp tác, bản chất của mối quan hệ, khung pháp lý, cách tiếp cận không thống nhất về phát triển dự án, các biến đổi tác động theo thời gian của dự án. Hơn nữa, rủi ro ngày càng gia tăng nên các cam kết, hợp tác vốn, tối đa hóa sự hợp tác thông qua PPP trờ thành những thách thức to lớn (Ngân hàng Thế giới, không năm xuất bản). Do vậy, nghiên cứu về PPP, hiểu đúng về PPP để có sự áp dụng đúng đắn, đem lại lợi ích tối ưu là cần thiết.

Mặc dù, hình thức đầu tư đối tác công tư đã có từ lâu trên thế giới, nhưng mãi đến năm 2009 mới được ghi nhận chính thức tại Việt Nam theo Nghị định số 108/2009/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Xây dựng – Chuyển giao (BT), và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư và mới đây nhất là Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2015…

Continue reading

Advertisements

HIỆN TƯỢNG TREATY SHOPPING TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ: PHÂN TÍCH VỤ VIỆC PHILIP MORRIS KIỆN CHÍNH PHỦ ÚC VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

 ĐÀO KIM ANH & TRỊNH QUANG HƯNG –  Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, hoạt động đầu tư quốc tế đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những động lực chính đối với sự phát triển kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các tranh chấp đầu tư cũng gia tăng nhanh chóng và ngày càng phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài (“NĐTNN”) và Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Với mục đích đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho NĐTNN và khuyến khích hoạt động đầu tư quốc tế, từ những năm 1960, pháp luật đầu tư quốc tế đã hình thành cơ chế cho phép NĐTNN trực tiếp khởi kiện Nhà nước ra trọng tài quốc tế. Mặc dù cơ chế này được đánh giá cao về tính độc lập và hiệu quả, thực tế áp dụng cho thấy cơ chế này bộc lộ những “lỗ hổng” và có nguy cơ bị lạm dụng bởi nhà đầu tư.

Một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây liên quan tới việc lạm dụng cơ chế giải quyết tranh chấp (GQTC) là hiện tượng treaty shopping. Đây là một kỹ thuật được nhà đầu tư thực hiện thông qua việc cố tình thành lập doanh nghiệp hoặc thay đổi cơ cấu sở hữu nhằm đạt được quốc tịch mong muốn để sau đó có thể khởi kiện Nhà nước theo một hiệp định đầu tư quốc tế (IIA) có lợi cho nhà đầu tư. Treaty shopping được thực hiện ngày càng nhiều và trở thành một vấn đề “nóng” trong nhiều vụ tranh chấp đầu tư. Như vậy, câu hỏi đặt ra là treaty shopping có phải là hành vi hợp pháp hay không? Trong thực tiễn tranh chấp, cơ quan xét xử giải quyết vấn đề này như thế nào? Quan trọng hơn, đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, làm thế nào để có thể phòng tránh nguy cơ bị nhà đầu tư khởi kiện thông qua kỹ thuật treaty shopping trong khi vẫn đảm bảo chính sách thu hút đầu tư nước ngoài? Bài viết dưới đây sẽ trả lời các câu hỏi trên thông qua việc nghiên cứu thực tiễn xét xử tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan tới treaty shopping, đặc biệt đi sâu phân tích vụ tranh chấp giữa Philip Morris và Chính phủ Úc – một trong những tranh chấp điển hình về vấn đề này.

Continue reading

CÙNG DÂN CHỨ ĐỪNG CHO DÂN

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV, tháng 10/2018): Phát triển bền vững trên ba trụ cột kinh tế – xã hội – môi trường, đảm bảo mọi thành viên trong xã hội có thể tham gia đóng góp và hưởng lợi tương xứng từ tăng trưởng, không để ai bị bỏ lại phía sau – đó là nền tảng của phát triển bao trùm” – Civillawinfor St.

JASON VON MEDING (Minh Châu dịch)

Trong hai bài viết đầu của loạt bài này, chúng ta đã khám phá những khía cạnh ít được chú ý tới về thái độ con người trong thảm họa: trong thâm tâm, mọi người đều TỐT. Khi tai họa ập đến, chúng ta thấy họ tạm thời gạt bỏ những mâu thuẫn cá nhân: Một cơ hội mở ra, để họ có thể tạo dựng những gì tốt đẹp hơn, không phải là của cải vật chất mà là sự gắn kết cộng đồng.

Bản chất của hiện tượng mà chúng ta quan sát được sau thảm họa là sự gắn kết và mối quan hệ giữa người với người. Tất cả chúng ta đều có nhu cầu được giúp đỡ người khác. Bất kể các nhà kinh tế học có nói gì đi nữa, chúng ta không sinh ra để cạnh tranh, mà để chia sẻ. Nhưng diễn giải của những nhà cầm quyền (và công cụ truyền thông của họ), vẫn được chấp nhận rộng rãi, lại nói điều ngược lại, đã đặt chúng ta trong trạng thái đối chọi với nhau (chẳng hạn như những người trẻ thường đòi hỏi quá nhiều quyền lợi), và đối chọi với chính Trái đất (phải hi sinh môi trường để đổi lấy lợi ích kinh tế) – nguồn duy trì sự sống cho chúng ta.

Nhưng những diễn giải đó là rào cản lớn nếu chúng ta muốn các cá nhân và cộng đồng trở nên an toàn và mạnh mẽ hơn trước các nguy cơ, và nếu chúng ta muốn tránh những quyết định có thể dẫn đến rủi ro cho những cộng đồng người (phần này đã được nhắc đến trong bài trước). Nếu chúng ta chấp nhận những “câu chuyện” tiêu cực về những người khác, chúng ta đang chọn việc tin vào một lời nói dối về chính mình, chúng ta chọn việc đánh giá thấp năng lực của mình.

Continue reading

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở CỘNG HÒA PHÁP VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

 RÉMI BOUCHEZ – Thành viên tham chính viện Cộng hoà Pháp

So với các quốc gia khác ở Châu Âu thì khu vực doanh nghiệp nhà nước của Pháp có khá nhiều điểm đặc thù, xuất phát từ chính sách can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Trong giai đoạn đầu, tức là trong suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế được thực hiện một cách trực tiếp dưới hai hình thức. Hình thức thứ nhất là các cơ quan Nhà nước trực tiếp tiến hành quản lý các hoạt động sản xuất. Hình thứ thứ hai là Nhà nước ký kết các hợp đồng với doanh nghiệp tư nhân và thông qua đó giao cho tư nhân thực hiện các dịch vụ công. Các dịch vụ như vận tải đường sắt, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường đều được thực hiện dưới hình thức giao khoán cho doanh nghiệp tư nhân.

Các doanh nghiệp nhà nước lớn của Pháp chỉ bắt đầu xuất hiện vào những năm 1935 – 1940 trên cơ sở quốc hữu hoá, xuất phát từ những yêu cầu thực tại của nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng năm 1929 và nhu cầu tái thiết đất nước sau chiến tranh thế giới thứ II. Trong giai đoạn này, khu vực kinh tế nhà nước thực sự đã được hình thành với một số doanh nghiệp có quy mô lớn trong các lĩnh vực như giao thông vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất vũ khí và công nghiệp xe hơi. Làn sóng quốc hữu hoá lần thứ hai đã diễn ra vào năm 1982, xuất phát từ sự thay đổi chính sách vĩ mô. Một loạt ngân hàng cùng 5 tập đoàn công nghiệp lớn của Nhà nước đã được hình thành vào giai đoạn này. Có thể nói những năm 1980 là thời kỳ phát triển cực thịnh của khu vực doanh nghiệp nhà nước bởi vì vào thời kỳ này, đại đa số các doanh nghiệp lớn đều là của Nhà nước, và doanh nghiệp nhà nước sử dụng tới hơn 10% tổng số người lao động trong cả nước. Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRỰC TUYẾN – KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

HÀ CÔNG ANH BẢO & LÊ HẰNG MỸ HẠNH – Đại học Ngoại thương Hà Nội

1. Đt vn đ

Giải quyết tranh chấp trực tuyền (ODR) có phải là một công cụ sáng tạo và hữu hiệu một nước đang phát triển như Việt Nam? Vài tháng trước, khi muốn mua sách: “Jack ma: The Biography of a Self-Made Billionaire and CEO of Alibaba Group” do nhà xuất bản My Ebook Publishing House xuất bản, đề cập cách thức Jack Ma xây dựng đế chế thương mại điện tử, khách hàng phải đặt sách từ trang bán hàng trực tuyến ở Hoa Kỳ vì ở Việt Nam không bán. Sự hài lòng của khách hàng khi nhận được cuốn sách cho đến khi đọc đến giữa cuốn sách mới phát hiện một số trang không có chữ. Trước tình huống đó, khách hàng đã liên hệ với người bán thì được trả lời rằng họ chỉ là chợ trung gian thương mại điện tử cho các công ty khác mở gian hàng trực tuyến, do đó họ không chịu trách nhiệm cho vấn đề này. Trong trường hợp này, khách phải làm gì để bảo vệ lợi ích cho mình? Có thể thấy nhiều vấn đề phát sinh từ một giao dịch trực tuyến phổ biến và có giá trị nhỏ như vậy. Khách hàng có nên sang Hoa kỳ để đòi lại công lý cho mình? Hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng giải quyết vụ việc này? Nếu kiện thì chi phí nó sẽ gấp bao nhiều lần so với việc đặt lại một cuốn sách khác hoặc khách hàng phải chấp nhận rằng mình không may mắn khi mua phải cuốn sách không hoàn hảo? Để khắc phục các vấn đề này một cơ chế giải quyết tranh chấp được lựa chọn (ADR- Alternative Dispute Resolution) được thực hiện bằng trực tuyến đã ra đời với tên gọi là giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution).

Ngày nay, ODR đã vượt ra khỏi lĩnh vực thương mại điện tử hay kinh doanh điện tử, ODR còn được áp dụng các vấn đề như tranh chấp tên miền, vấn đề luật gia đình, bảo vệ người tiêu dùng hay giải quyết các tranh chấp ngoại tuyến (offline) truyền thống (MM Albornoz và NG Martin, 2012). Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình phát triển kinh tế đã mang lại nhiều thành công ở các nước phát triển, ODR là một trong những minh chứng của nhận định này (Gabriela R. Szlak, 2012), đó cũng là sự khác biệt giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bài viết này sẽ làm rõ những vấn đề lý luận về ODR, phân tích thực trạng các điều kiện của Việt Nam nhằm trả lời câu hỏi: có thích hợp khi áp dụng ODR tại Việt Nam hiện nay không?.

Continue reading

BÀN VỀ VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

PIERRE BÉZARD – Chánh tòa danh dự, Tòa Thương mại, Tòa Phá án Pháp

ALAIN LACABARATS – Chánh tòa, Tòa Phúc thẩm Paris

1. Pierre Bézard:

Vấn đề đầu tiên là xác định vị trí của Bộ luật dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam và sự thống nhất của Bộ luật dân sự với các văn bản pháp luật khác. Về vấn đề này, tôi chưa trao đổi ý kiến với ông Lacabarats nên chắc chắn là mỗi chúng tôi sẽ trình bày với quý vị quan điểm riêng của mình, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm của chúng ta, các luật gia, cũng không khác xa nhau lắm vì chúng ta cùng được đào tạo từ các trường đại học luật và có nhiệm vụ thực thi một hệ thống pháp luật như nhau. Tuy vậy, sẽ có những điểm mà chúng tôi có thể có ý kiến khác nhau nhưng điều đó sẽ góp phần làm cho cuộc trao đổi, thảo luận của chúng ta phong phú hơn.

Liên quan đến vị trí của Bộ luật dân sự, Bộ luật dân sự không chỉ bao gồm các quy định cụ thể mà còn phải được nhìn nhận như một bản “Hiến pháp” trong hệ thống luật tư. Nó thể hiện suy nghĩ và bản sắc của một dân tộc. Chính trong Bộ luật dân sự, chúng ta có thể tìm thấy các nguyên tắc cho phép xác định thực trạng nền văn hóa, văn minh của một dân tộc, cũng như các nguyên tắc cơ bản mà dân tộc đó phải tuân theo. Riêng cá nhân tôi nghĩ rằng Bộ luật dân sự là một bộ luật cơ bản và có thể gọi là văn bản cao nhất điều chỉnh lĩnh vực tư.

Là một văn bản mà Nhà nước quy chiếu đến để ban hành pháp luật và thể hiện bản sắc văn hóa của một dân tộc nên chắc chắn, Bộ luật dân sự phải bao gồm các nguyên tắc chung trong tất cả các lĩnh vực như quyền nhân thân, quan hệ gia đình, quan hệ láng giềng vv… Theo tôi, Bộ luật dân sự phải quy định các nguyên tắc chung này. Điều đó không có nghĩa là không được phép dẫn chiếu đến các quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, đối với một người nước ngoài muốn biết thực trạng phát triển của một đất nước thì phải nghiên cứu các quy định trong Bộ luật dân sự của nước đó. Tôi cho rằng Bộ luật dân sự không nên quy định quá chi tiết.

Continue reading

ĐƠN KÊU CỨU CỦA BA HUÂN TỪ GÓC NHÌN ĐA CHIỀU

 NGUYỄN THÙY DƯƠNG & NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO – Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự

Gần đây, các phương tiện truyền thông liên tiếp đưa tin về sự kiện chấm dứt hợp tác giữa Công ty Ba Huân và Quỹ đầu tư VinaCapital. Tuy nhiên, bài viết này không bàn về khía cạnh pháp lý của tranh chấp hợp đồng giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital mà thay vào đó sẽ phân tích lý do và những hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu trong vụ việc Công ty Ba Huân nói riêng và những trường hợp doanh nghiệp gửi đơn kêu cứu nói chung. Cần lưu ý rằng các dữ kiện được tiết lộ qua thông tin báo chí về tranh chấp giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital hiện nay chưa đủ để khẳng định ai đúng ai sai trong vụ việc này.

Căn nguyên của việc gửi đơn kêu cứu

Việc Công ty Ba Huân gửi đơn kêu cứu tới Thủ tướng Chính phủ khiến các tác giả nhớ tới một thuật ngữ vui là “đơn hươu cao cổ”. Thuật ngữ này được sử dụng bởi một số cán bộ trong cơ quan Nhà nước để chỉ những đơn kêu cứu với danh sách kính gửi đôi khi dài đến cả một trang giấy, kính gửi từ Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ trưởng, từ Quốc hội đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Xét về khía cạnh pháp lý, “đơn kêu cứu” của doanh nghiệp không thuộc bất kỳ một biện pháp giải quyết tranh chấp hay vướng mắc chính thống nào. Nếu là tranh chấp thương mại như vụ việc của Công ty Ba Huân thì thông thường con đường giải quyết tranh chấp sẽ là thương lượng. Nếu thương lượng không thành công thì các bên sẽ lựa chọn trọng tài hoặc khởi kiện ra toà (tuỳ thoả thuận) và khi đó sẽ có “đơn khởi kiện”. Nếu là vướng mắc giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước thì khi đó doanh nghiệp có thể lựa chọn khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành chính, tương ứng sẽ có “đơn khiếu nại”, “đơn tố cáo” hay “đơn khởi kiện”. Lưu ý rằng những dạng thức đơn này đều được quy định trong hệ thống pháp luật với các quy định cụ thể từ nội dung đơn, chủ thể tiếp nhận đơn đến quy trình thụ lý và giải quyết… Trái ngược với các hình thức đơn chính thống, “đơn kêu cứu” không được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng lại đang xuất hiện từng ngày, từng giờ và trong mọi lĩnh vực. Điều này là do đâu?.

Continue reading

BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN NĂM 2016 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

PHẦN I. Kinh tế thế giới và Việt Nam

1. Tổng quan kinh tế thế giới

Năm 2016, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, thương mại toàn cầu suy giảm, thị trường tài chính biến động. Điều hành chính sách tiền tệ vẫn theo xu hướng nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngoại trừ một số nước trong đó có Mỹ. Theo đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) từng bước thắt chặt chính sách tiền tệ (điều chỉnh tăng lãi suất Fed Fund vào ngày 14/12/2016), trong khi hầu hết các ngân hàng trung ương khác như BOE, BOJ, ECB, PboC… duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Thị trường tài chính quốc tế biến động phức tạp do tác động của sự kiện Brexit, diễn biến tăng giá mạnh của đồng USD sau bầu cử Tổng thống Mỹ và quyết định nâng lãi suất của FED. Lạm phát toàn cầu bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại trong bối cảnh giá hàng hóa cơ bản và giá dầu phục hồi, nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp.

1.1. Tăng trưởng kinh tế thế giới

Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016 đạt 3,1%, thấp hơn mức 3,4% của năm 2015 và không đồng đều giữa các khu vực.

Kinh tế Mỹ, tăng trưởng 1,6%, thấp hơn 2,5% của năm 2015, tuy nhiên hoạt động kinh tế bước đầu chuyển biến tích cực kể đầu từ Quý II/2016. Thị trường chứng khoán, bất động sản tiếp tục phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5% cuối năm 2015 xuống 4,7% cuối năm 2016. Chiến thắng của Tân Tổng thống MỸ Donald Trump khiến thị trường kỳ vọng lạm phát tại Mỹ sẽ tăng nhanh và sự kiện FED tăng lãi suất trong phiên họp nhày 14/12/2016 đã khiến đồng USD lên giá mạnh. Thâm hụt ngân sách tăng lần đầu tiên trong 5 năm, chiếm 3,2% GDP (năm 2015: 2,5% GDP), nhưng vẫn tương đương với mức trung bình đã duy trì 40 năm  qua. Lạm phát tăng từ mức 0,1% năm 2015 lên 1,3% năm 2016.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: