Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

BÀN VỀ VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

PIERRE BÉZARD – Chánh tòa danh dự, Tòa Thương mại, Tòa Phá án Pháp

ALAIN LACABARATS – Chánh tòa, Tòa Phúc thẩm Paris

1. Pierre Bézard:

Vấn đề đầu tiên là xác định vị trí của Bộ luật dân sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam và sự thống nhất của Bộ luật dân sự với các văn bản pháp luật khác. Về vấn đề này, tôi chưa trao đổi ý kiến với ông Lacabarats nên chắc chắn là mỗi chúng tôi sẽ trình bày với quý vị quan điểm riêng của mình, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm của chúng ta, các luật gia, cũng không khác xa nhau lắm vì chúng ta cùng được đào tạo từ các trường đại học luật và có nhiệm vụ thực thi một hệ thống pháp luật như nhau. Tuy vậy, sẽ có những điểm mà chúng tôi có thể có ý kiến khác nhau nhưng điều đó sẽ góp phần làm cho cuộc trao đổi, thảo luận của chúng ta phong phú hơn.

Liên quan đến vị trí của Bộ luật dân sự, Bộ luật dân sự không chỉ bao gồm các quy định cụ thể mà còn phải được nhìn nhận như một bản “Hiến pháp” trong hệ thống luật tư. Nó thể hiện suy nghĩ và bản sắc của một dân tộc. Chính trong Bộ luật dân sự, chúng ta có thể tìm thấy các nguyên tắc cho phép xác định thực trạng nền văn hóa, văn minh của một dân tộc, cũng như các nguyên tắc cơ bản mà dân tộc đó phải tuân theo. Riêng cá nhân tôi nghĩ rằng Bộ luật dân sự là một bộ luật cơ bản và có thể gọi là văn bản cao nhất điều chỉnh lĩnh vực tư.

Là một văn bản mà Nhà nước quy chiếu đến để ban hành pháp luật và thể hiện bản sắc văn hóa của một dân tộc nên chắc chắn, Bộ luật dân sự phải bao gồm các nguyên tắc chung trong tất cả các lĩnh vực như quyền nhân thân, quan hệ gia đình, quan hệ láng giềng vv… Theo tôi, Bộ luật dân sự phải quy định các nguyên tắc chung này. Điều đó không có nghĩa là không được phép dẫn chiếu đến các quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, đối với một người nước ngoài muốn biết thực trạng phát triển của một đất nước thì phải nghiên cứu các quy định trong Bộ luật dân sự của nước đó. Tôi cho rằng Bộ luật dân sự không nên quy định quá chi tiết.

Continue reading

Advertisements

ĐƠN KÊU CỨU CỦA BA HUÂN TỪ GÓC NHÌN ĐA CHIỀU

 NGUYỄN THÙY DƯƠNG & NGUYỄN THỊ DIỆU THẢO – Văn phòng Luật sư NHQuang và Cộng sự

Gần đây, các phương tiện truyền thông liên tiếp đưa tin về sự kiện chấm dứt hợp tác giữa Công ty Ba Huân và Quỹ đầu tư VinaCapital. Tuy nhiên, bài viết này không bàn về khía cạnh pháp lý của tranh chấp hợp đồng giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital mà thay vào đó sẽ phân tích lý do và những hệ quả của việc gửi đơn kêu cứu trong vụ việc Công ty Ba Huân nói riêng và những trường hợp doanh nghiệp gửi đơn kêu cứu nói chung. Cần lưu ý rằng các dữ kiện được tiết lộ qua thông tin báo chí về tranh chấp giữa Công ty Ba Huân và VinaCapital hiện nay chưa đủ để khẳng định ai đúng ai sai trong vụ việc này.

Căn nguyên của việc gửi đơn kêu cứu

Việc Công ty Ba Huân gửi đơn kêu cứu tới Thủ tướng Chính phủ khiến các tác giả nhớ tới một thuật ngữ vui là “đơn hươu cao cổ”. Thuật ngữ này được sử dụng bởi một số cán bộ trong cơ quan Nhà nước để chỉ những đơn kêu cứu với danh sách kính gửi đôi khi dài đến cả một trang giấy, kính gửi từ Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ trưởng, từ Quốc hội đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Xét về khía cạnh pháp lý, “đơn kêu cứu” của doanh nghiệp không thuộc bất kỳ một biện pháp giải quyết tranh chấp hay vướng mắc chính thống nào. Nếu là tranh chấp thương mại như vụ việc của Công ty Ba Huân thì thông thường con đường giải quyết tranh chấp sẽ là thương lượng. Nếu thương lượng không thành công thì các bên sẽ lựa chọn trọng tài hoặc khởi kiện ra toà (tuỳ thoả thuận) và khi đó sẽ có “đơn khởi kiện”. Nếu là vướng mắc giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước thì khi đó doanh nghiệp có thể lựa chọn khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện hành chính, tương ứng sẽ có “đơn khiếu nại”, “đơn tố cáo” hay “đơn khởi kiện”. Lưu ý rằng những dạng thức đơn này đều được quy định trong hệ thống pháp luật với các quy định cụ thể từ nội dung đơn, chủ thể tiếp nhận đơn đến quy trình thụ lý và giải quyết… Trái ngược với các hình thức đơn chính thống, “đơn kêu cứu” không được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng lại đang xuất hiện từng ngày, từng giờ và trong mọi lĩnh vực. Điều này là do đâu?.

Continue reading

BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN NĂM 2016 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

PHẦN I. Kinh tế thế giới và Việt Nam

1. Tổng quan kinh tế thế giới

Năm 2016, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, thương mại toàn cầu suy giảm, thị trường tài chính biến động. Điều hành chính sách tiền tệ vẫn theo xu hướng nới lỏng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngoại trừ một số nước trong đó có Mỹ. Theo đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) từng bước thắt chặt chính sách tiền tệ (điều chỉnh tăng lãi suất Fed Fund vào ngày 14/12/2016), trong khi hầu hết các ngân hàng trung ương khác như BOE, BOJ, ECB, PboC… duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Thị trường tài chính quốc tế biến động phức tạp do tác động của sự kiện Brexit, diễn biến tăng giá mạnh của đồng USD sau bầu cử Tổng thống Mỹ và quyết định nâng lãi suất của FED. Lạm phát toàn cầu bắt đầu có dấu hiệu tăng trở lại trong bối cảnh giá hàng hóa cơ bản và giá dầu phục hồi, nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp.

1.1. Tăng trưởng kinh tế thế giới

Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2016 đạt 3,1%, thấp hơn mức 3,4% của năm 2015 và không đồng đều giữa các khu vực.

Kinh tế Mỹ, tăng trưởng 1,6%, thấp hơn 2,5% của năm 2015, tuy nhiên hoạt động kinh tế bước đầu chuyển biến tích cực kể đầu từ Quý II/2016. Thị trường chứng khoán, bất động sản tiếp tục phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5% cuối năm 2015 xuống 4,7% cuối năm 2016. Chiến thắng của Tân Tổng thống MỸ Donald Trump khiến thị trường kỳ vọng lạm phát tại Mỹ sẽ tăng nhanh và sự kiện FED tăng lãi suất trong phiên họp nhày 14/12/2016 đã khiến đồng USD lên giá mạnh. Thâm hụt ngân sách tăng lần đầu tiên trong 5 năm, chiếm 3,2% GDP (năm 2015: 2,5% GDP), nhưng vẫn tương đương với mức trung bình đã duy trì 40 năm  qua. Lạm phát tăng từ mức 0,1% năm 2015 lên 1,3% năm 2016.

Continue reading

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THÂN HỮU VÀ QUYỀN BẢO VỆ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI GIÀU

TRẦN LỆ THÙY

Giá sách của Học viện Chính trị Quốc gia
Không phải ngẫu nhiên mà cuốn “Tại sao các quốc gia thất bại” của hai giáo sư trường đại học Harvard Acemoglu và Robinson lại nằm trang trọng trên giá sách thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bên cạnh các tên tuổi như nhà kinh tế được giải Nobel Joseph Stiglitz. Cuốn sách này nổi tiếng vì giải thích rằng các nước mãi nghèo là do bị một nhóm nhỏ giàu có và quyền thế thao túng cho lợi ích riêng của mình, bằng cách hy sinh lợi ích của công chúng.

Năm 2017, Việt Nam được dự đoán sẽ có số người siêu giàu tăng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ tới. Đồng thời, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ban hành Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân, nhấn mạnh việc “xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành lợi ích nhóm, gây hậu quả xấu về kinh tế-xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân”.

Câu hỏi ở đây không phải là việc có cần xóa bỏ nhóm người giàu và quyền thế hay không, mà là làm thế nào để kiềm chế và giảm được lợi ích nhỏ hẹp có thể gây hại đến lợi ích chung.

Continue reading

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015: MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI, QUAN TRỌNG, MANG TÍNH ĐỘT PHÁ HƯỚNG TỚI PHỤC VỤ SỰ PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC

PGS.TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – Nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban soạn thảo dự án Bộ luật dân sự năm 2015

Ngày 24 tháng 11 năm 2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là BLDS năm 2015),[1] có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Mục tiêu của việc ban hành BLDS năm 2015 đã được Chính phủ xác định rõ khi trình Quốc hội và được tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội đồng tình, được nhân dân đồng thuận (qua việc lấy ý kiến nhân dân) là trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 cần xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.[2]

Thực hiện nhất quán mục tiêu cơ bản này, trên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống pháp luật dân sự Việt Nam, thành tựu của các Bộ luật dân sự năm 1995 và năm 2005, đúc rút kinh nghiệm điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự qua 30 năm đất nước đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, BLDS năm 2015 được Quốc hội thông qua đã ghi nhận nhiều nội dung mới, quan trọng, mang tính đột phá cả về nhận thức và tư duy lập pháp trong việc hoàn thiện cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ dân sự trong đời sống hàng ngày của cá nhân, pháp nhân.

Những nội dung mới này được thể hiện qua một số phương diện cơ bản sau đây: Continue reading

NHỮNG TỪ KHÓA THỜI THƯỢNG

 PIERRE DARRIULAT (Phạm Ngọc Điệp dịch)

Khoảng hai mươi năm trước, người ta thường nhắc đến bền vững; mọi thứ phải sao cho bền vững. Năm ngoái, ta thường nghe Cách mạng 4.0 và Internet of things (Vạn vật kết nối Internet). Năm nay chúng ta cũng có nhiều từ khóa mới: sáng tạo, đổi mới, và khởi nghiệp… Thói quen sử dụng những ngôn từ có tính thời thượng dĩ nhiên là mốt thôi chứ chúng chẳng có tác động gì đến ý nghĩa sâu xa của từ ngữ, thậm chí thuần túy là cơ hội cho một vài người nào đó làm kinh doanh.

Với đổi mới và sáng tạo cũng vậy. Chẳng phải đến bây giờ chúng ta mới đổi mới và sáng tạo, loài người vốn không ngừng đổi mới và sáng tạo một cách ngoạn mục từ hàng triệu năm nay đấy thôi.

Thế mà gần đây ở các đại học, cả công và tư, người ta tạo ra nhiều chương trình học mới: trước đây là những chương trình thạc sĩ về quản lý và tiếp thị, ngày nay lại đang nở rộ thạc sĩ về đổi mới và sáng tạo trong quản lý. Chúng ta thừa hiểu những phẩm chất của một người lãnh đạo tốt không phải là những thứ có thể học được ở trường lớp; đó là năng lực và sự chính trực trong nhân cách và hành xử, ở mức độ khiến những người mà bạn quản lý hoặc lãnh đạo nể phục và kính trọng. Điều ấy có được vì sự công tâm, phẩm chất đạo đức và tri thức, tính nhân văn và tinh thần cống hiến của bạn cho sự nghiệp mà bạn đang phụng sự, chứ không phải bởi bạn đã từng tham gia khóa học thạc sĩ về quản lý, lãnh đạo, sáng tạo và đổi mới nào đó. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh hay đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu cần phải tham gia những khóa học kiểu như vậy. Nhưng ngày nay, khoa học chính trị cũng không tránh khỏi chạy theo xu hướng thời thượng, với một số tài liệu1 mới xuất bản gần đây như Hồ Chí Minh: sáng tạo, đổi mới do Bùi Đình Phong hoặc Tư tưởng Hồ Chí Minh về “lãnh đạo thông minh” do Nguyễn Hữu Đông xuất bản.

Continue reading

VỀ TUỔI NGHỈ HƯU CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DỰ THẢO SỬA ĐỔI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012

PGS TS. LÊ THỊ HOÀI THU Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Tuổi nghỉ hưu theo pháp luật hiện hành

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Luật BHXH (sửa đổi), tuổi nghỉ hưu của người lao động thuộc lực lượng dân sự tại Việt Nam hiện nay được chia thành các nhóm sau:

Nhóm 01: Người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

Nhóm 02: Người lao động có đủ 15 năm làm việc ở vùng có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên hoặc có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành (nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi).

Nhóm 03: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%:

– Nếu nghỉ hưu năm 2017: Nam đủ 52 tuổi, nữ đủ 47 tuổi;

– Nếu nghỉ hưu năm 2018: Nam đủ 53 tuổi, nữ đủ 48 tuổi;

– Nếu nghỉ hưu năm 2019: Nam đủ 54 tuổi, nữ đủ 49 tuổi;

– Nếu nghỉ hưu từ năm 2020 trở đi: Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi;

Continue reading

BẢO HIỂM XÃ HỘI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM

TS. PHẠM ĐỖ NHẬT TÂN 

1. Văn bản pháp luật quy định về bảo hiểm xã hội cho người lao động  nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Các quy định trong các Luật hiện hành liên quan tới việc điều chỉnh người lao động nước ngoài tham gia BHXH cho thấy:

Bảo hiểm y tế

Căn cứ theo khoản 2 Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, quy định như sau: “Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến BHYT”. Bên cạnh đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 12 quy định: “1. Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động)”. Theo đó, pháp luật về BHYT không có sự phân biệt đối với người lao động là công dân Việt Nam hay người lao động là công dân nước ngoài. Tức là người lao động nước ngoài cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật BHYT hiện hành và phải tham gia BHYT nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 03 tháng trở lên.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: