YÊU CẦU VỀ “MỐI LIÊN HỆ GẮN BÓ” TRONG THỎA THUẬN CHỌN LUẬT THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CÓ THỂ THAM KHẢO

THS. PHAN HOÀI NAM – Khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Yêu cầu về “mối liên hệ gắn bó” trong thoả thuận chọn luật theo pháp luật EU và một số quốc gia thành viên

Nguyên tắc đồng thuận giữa các bên trong hợp đồng đã thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu và những nhà làm luật EU trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong quá trình thống nhất tư pháp quốc tế (TPQT) EU[1]. Trong đó, việc thống nhất các nội dung được thể chế hoá từ nguyên tắc tự định đoạt của các bên trong TPQT tại EU được xác định là tương đối khó. Bởi vì quyền tự định đoạt sẽ bị những giới hạn mang tính ràng buộc với các vấn đề liên quan đến quyền tài phán, lợi ích công cộng gắn với yếu tố chủ quyền quốc gia hoặc những giá trị khác mà nhà nước của các quốc gia thành viên mong muốn bảo vệ… Điều đó có nghĩa là những thoả thuận đó không thể ngăn được toà án của các quốc gia có thể từ chối sự thoả thuận trên cơ sở quyền tự định đoạt với những lý do liên quan đến chính sách công, những nguyên tắc cơ bản trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia thành viên[2]. Bên cạnh đó, những sự khác biệt về các lĩnh vực, phạm vi của sự đồng thuận được cho phép… cũng trở thành rào cản lớn cho quá trình này.

Tuy nhiên, trong những chừng mực nhất định, các quyền này đã được thừa nhận dựa trên việc đảm bảo tính dung hoà với lợi ích của các quốc gia thành viên, và đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp quy mà EU đã ban hành. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định Rome I[3], quy định về sự ưu tiên áp dụng nguồn luật theo sự thoả thuận giữa các bên trong tranh chấp hợp đồng mà không đặt ra yêu cầu về sự kết nối giữa nguồn luật được lựa chọn với tranh chấp hoặc các bên trong tranh chấp. Thực tiễn của EU cũng cho thấy, điều kiện về mối liên hệ gắn bó không được đề cập mà chỉ đặt ra yêu cầu về tính hiệu lực hiện hành của nguồn luật được lựa chọn[4]. Tuy nhiên, một cách gián tiếp, thông qua các quy định khác điều chỉnh về các điều kiện có hiệu lực của thoả thuận chọn luật tại Nghị định Rome I cũng như giải thích của Toà án Công lý Châu Âu (ECJ), yêu cầu về mối liên hệ gắn bó có thể xảy ra trong các trường hợp sau:

Continue reading

Advertisements

SỨC MẠNH MỀM CỦA VIỆT NAM VÀ ASEAN ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

 LÊ VĨNH TRƯƠNG

I. Tổng quan về sức mạnh mềm

Sức mạnh mềm có ba trụ cột văn hóa, giá trị, định hướng (thể chế và phương hướng) ứng với lịch sử, các giá trị hiện tại và sự dấn bước đến tương lai của một dân tộc trong hình thành và phát triển, trong lao động và chiến đấu giữ nước.1

“Sức mạnh mềm cũng là một dạng quyền lực; nếu không hợp nhất được sức mạnh mềm vào chiến lược quốc gia sẽ là một sai lầm nghiêm trọng.” Joseph Nye người đúc kết lại quyền lực mềm mại, nhu chế cương, nhuyễn khắc ngạnh, đã nhấn mạnh tầm quan trọng phải phát triển sức mạnh mềm và liên kết yếu tố này với các yếu tố truyền thống trong chiến lược quốc gia của Mỹ.

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng đã nhắc đến yếu tố sức mạnh mềm trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 172 .Trung Quốc tập trung hướng sức mạnh mềm đến Đông Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh. Ngoài hàng loạt viện trợ, hiệp định thương mại và đầu tư cũng như cam kết đầu tư, ở cả ba khu vực trên, Trung Quốc tích cực tuyên truyền văn hóa, ẩm thực, xiếc, múa truyền thống, phim ảnh và thảo dược. Họ đã xây dựng được 128 viện Khổng Giáo trên toàn thế giới và có kế hoạch xây thêm hàng trăm viện nữa nhằm truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc 3 .

Trong khi những tài sản của quyền lực cứng như quyền điều động quân đội hoàn toàn thuộc nhà nước để bảo vệ lợi ích công cộng, những tài sản khác của chung quốc gia như dầu khí, tài nguyên, công xưởng, máy bay dân dụng… có thể được chuyển giao cho sự kiểm soát tập thể trong tình hình khẩn cấp. Trái lại, nhiều nguồn lực của quyền lực mềm gần như tách riêng khỏi nhà nước và chỉ đóng góp một phần khi được huy động. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, văn hoá đại chúng Mỹ thường đối đầu với các chính sách nhà nước. Nếu cuộc chiến của chính giới là nhân danh tự do, thì các cuộc phản chiến cũng đã trưng ra tính chất cởi mở của nền dân chủ Mỹ và là chất xúc tác hàn gắn quan hệ Việt Mỹ những năm sau.

Sức mạnh mềm có mặt tại nhiều thực thể và phương diện đa dạng của quan hệ quốc gia và khu vực.

Continue reading

SƠ LƯỢC VỀ BREXIT: TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA VƯƠNG QUỐC ANH VÀ EU ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐỂ VƯƠNG QUỐC ANH RÚT RA KHỎI EU

 HỒNG LINH

I. TỔNG QUAN MỐI QUAN HỆ GIỮA ANH VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)

Mối quan hệ của Vương quốc Anh với EU từ lâu đã là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong xã hội nước Anh nói chung và chính trường Anh nói riêng. Trước khi tìm hiểu về Brexit, chúng ta cần nhìn lại một số sự kiện nổi bật trong quan hệ đầy sóng gió hơn 40 năm qua giữa Anh và EU.

1. SỰ HÌNH THÀNH EU

Sau khi cuộc chiến tranh Thế giới thứ nhất và thứ hai đã làm kiệt quệ nền kinh tế và mối quan hệ của các nước châu Âu, nhằm hàn gắn và kết nối lại các quốc gia này, ý tưởng về một Liên Minh châu Âu đã được hình thành từ năm 1945.

Tuy nhiên, vào năm 1951, khi Cộng đồng Than thép Châu Âu (ECSC) được thành lập, nước Anh đã từ chối tham gia cộng đồng này. Đến năm 1957, Anh quốc cũng đã từ chối lời mời tham gia Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) của sáu quốc gia sáng lập khác là Bỉ, Pháp, Ý, Luxembourg, Hà Lan và Tây Đức.

2. ANH GIA NHẬP EU

Sau khi nhận thấy Pháp và Đức có sự phục hồi kinh tế nhanh chóng sau chiến tranh và hình thành được một liên minh mạnh mẽ, các nhà lãnh đạo Anh đã thay đổi suy nghĩ của mình về việc gia nhập EEC. Nước này đã nộp đơn tham gia EEC vào năm 1961, nhưng đã bị bác bỏ hai lần bởi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle vào năm 1963 và 1967.

Continue reading

HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CÓ BAO NHIÊU BIỂN VÀ THỀM LỤC ĐỊA?

Hình ảnh có liên quan DƯƠNG DANH HUY – Qũy nghiên cứu Biển Đông

Trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, tồn tại tranh chấp đảo và tranh chấp biển. Vì Hoàng Sa, Trường Sa bị tranh chấp, câu hỏi “Hoàng Sa, Trường Sa có bao nhiêu biển?” có vai trò quan trọng cho tranh chấp biển. Mục đích chính của bài viết này không phải là trả lời câu hỏi trên mà là – bằng cách đưa ra những nguyên tắc, những cách phân loại, những bản đồ – đưa ra một số phương tiện để giúp người đọc suy nghĩ về một câu hỏi cực kỳ quan trọng cho tương lai Việt Nam mãi mãi về sau.

1. Ba loại tranh chấp biển tại Biển Đông

Tại Biển Đông, ngoài tranh chấp chủ quyền đối với đảo, còn tồn tại tranh chấp biển. Trong bài viết này, từ “biển” có thể bao gồm mặt biển, cột nước, đáy biển, lòng đất, và trong trường hợp của lãnh hải 12 hải lý thì bao gồm cả bầu trời.

Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thì những vùng biển này có thể bao gồm lãnh hải 12 hải lý, vùng tiếp giáp từ 12 đến 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế tối đa là 200 hải lý, thềm lục địa mở rộng bên ngoài 200 hải lý, và có thể cả biển quốc tế.

Đại khái, có thể chia Biển Đông thành những vùng biển sau:

1. Các vùng biển thuộc các đảo trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, bao gồm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough. Để ngắn gọn, bài viết này sẽ chỉ đề cập tới Hoàng Sa, Trường Sa. Để diễn đạt ngắn gọn, trong bài viết này, từ “đảo” và cụm từ “vùng biển thuộc đảo” sẽ được dùng để nói về các đảo bị tranh chấp, tức là các đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng sẽ không bao gồm các đảo không bị tranh chấp, thí dụ như  Lý Sơn, Phú Quý, Côn Sơn, Pratas. Continue reading

VAI TRÒ CỦA ÁN LỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ VÀO NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY LUẬT QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hình ảnh có liên quanTS. TRẦN THĂNG LONG – Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật TPHCM

Đặt vấn đề

Án lệ trong hệ thống thông luật (common law) có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở chỗ chúng được coi là nguồn luật không thành văn áp dụng để giải quyết các vấn đề tương tự và là cơ sở để đảm bảo sự nhất quán trong hoạt động xét xử. Việc nghiên cứu án lệ là một yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên và những người làm công tác pháp luật. Trong hệ thống các giáo trình và tài liệu nghiên cứu của nhiều nước, các án lệ luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể và sự thành công trong việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào việc tìm hiểu và vận dụng các án lệ. Trong khoa học luật quốc tế, án lệ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, chúng không những là sự tổng kết của quá trình vận dụng pháp luật vào hoạt động xét xử của các thẩm phán quốc tế mà còn là phương tiện quan trọng để xác định các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế và là cơ sở vật chất cho quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế. Mặc dù vậy, ở Việt Nam, án lệ thường được tiếp cận như một loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế và việc vận dụng án lệ vào hoạt động nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế còn tương đối hạn chế.

Bài viết này nhằm tìm hiểu vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật quốc tế, qua đó tìm hiểu ý nghĩa và sự cần thiết của việc vận dụng án lệ quốc tế trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn học luật quốc tế tại Việt Nam.

1.Vai trò của án lệ trong luật quốc tế

1.1. Khái niệm án lệ

Án lệ hay những bản án, quyết định xét xử của Tòa án quốc tế (judicial decisions) được xác định là một phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế hay đầy đủ hơn là “những phương tiện bổ trợ để xác định các quy tắc pháp luật” (subsidiary means for the determination of rules of law)[1]. Thuật ngữ “án lệ” được đề cập đến tại điều 38(1) Quy chế Tòa án quốc tế[2]. (Thuật ngữ “án lệ” trong bài viết này chỉ liên quan đến vấn đề vai trò của các án lệ quốc tế đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế). Continue reading

BÁC BỎ CÁI GỌI LÀ CHỨNG CỨ LỊCH SỬ CỦA TRUNG QUỐC VỀ CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG

VŨ ĐỨC LIÊM – Nghiên cứu sinh ngành Lịch sử Việt Nam tại Đại học Hamburg, CHLB Đức

Qua bằng chứng lịch sử của cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và Đông Nam Á trên Biển Đông, Phán quyết của Toà trọng tài thường trực (PCA) hôm 12/7/2016, phủ nhận các tuyên bố về vùng biển lịch sử của Trung Quốc trên biển Đông là một diễn biến mới quan trọng trong dài hạn trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, lần đầu tiên có một toàn án quốc tế ra phán quyết phủ nhận các tuyên bố về cái gọi là Đường chín đoạn cũng như phủ nhận tính pháp lí của việc Trung Quốc độc chiếm biển Đông và ngăn cản trái phép việc thực thi chủ quyền và đặc quyền kinh tế của các nước khác. VŨ ĐỨC LIÊM

Thứ hai, phán quyết của Tòa cho rằng không một đảo nào trên vùng tranh chấp Biển Đông có thể được coi là một đảo “đúng nghĩa” (tức là tự thân nó có thể hỗ trợ cho đời sống của con người). Vì thế, không một đảo nào có thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí với thềm lục địa. Phán quyết này rõ ràng không chỉ liên quan đến Trung Quốc hay Philippine mà còn ảnh hưởng đến tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền trong khu vực.

Thứ ba, phán quyết này cũng sẽ đẩy khu vực vào một tương quan mới, buộc các bên phải có chính sách phù hợp đi theo phán quyết này. Dù phán quyết của Tòa là không ràng buộc, nhưng rõ ràng sự phản ứng của Trung Quốc với tư cách là một siêu cường sẽ cho thấy cách thức và chiều hướng tình hình Biển Đông sẽ diễn biến. Có vẻ như ngay trong ngày đầu tiên sau phán quyết thì Trung Quốc đã chơi “không đẹp”. Một loạt sao Hoa ngữ đăng status ủng hộ Beijing trên Weibo. Làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan có vẻ như đang được dịp nổi lên ở Trung Hoa, và một sự khiêu khích rõ ràng khi cho máy bay dân sự hạ cánh xuống đá Vành Khăn thuộc Trường Sa. Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân cũng nói về khả năng nước này lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) ở Biển Đông.

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẢO TRONG PHÂN ĐỊNH BIỂN – NHÌN TỪ CÁC ÁN LỆ QUỐC TẾ GẦN ĐÂY VÀ LIÊN HỆ VỚI CÁC ĐẢO Ở BIỂN ĐÔNG

Kết quả hình ảnh cho biển Việt NamTHS. LÊ THỊ ANH ĐÀO – Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội

Ảnh hưởng của đảo trong phân định biển không được quy định rõ ràng trong UNCLOS[1]. Tuy nhiên, các án lệ gần đây của cơ quan tài phán quốc tế đã cho thấy các đảo có vai trò hạn chế trong phân định biển, đặc biệt là đối với các đảo nhỏ, xa bờ và nằm về sai phía của đường phân định. Trong bất kỳ diễn tiến nào, tất cả các đảo ở Biển Đông nước ta đều có hiệu lực hạn chế trong phân định biển. Nhận thức được triển vọng này có thể giúp các bên xem xét lại yêu sách chủ quyền của mình đối với các đảo để quản lý tốt hơn các tranh chấp ở Biển Đông cũng như cố gắng xây dựng cơ chế hợp tác phát triển chung trong khu vực.

Luật quốc tế hiện nay không quy định cụ thể về ảnh hưởng của đảo trong phân định vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia đối diện hoặc liền kề, mà chỉ gián tiếp đề cập đến thông qua “các hoàn cảnh đặc biệt/liên quan”[2]. Trên thực tế, sự hiện diện của đảo luôn được các quốc gia viện dẫn để yêu cầu sử dụng phương pháp phân định khác với phương pháp đường trung tuyến/cách đều hoặc để điều chỉnh đường trung tuyến/cách đều theo hướng có lợi cho quốc gia sở hữu đảo. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực tiễn cơ quan tài phán quốc tế giải quyết vấn đề ảnh hưởng của đảo trong phân định biển có ý nghĩa quan trọng nhằm làm rõ quy định của luật quốc tế có liên quan và tìm ra xu hướng chung trong việc xác định ảnh hưởng của đảo trong phân định biển.

1. nh hưởng của đảo đối với việc thiết lập đường trung tuyến/cách đều tạm thời

Đặc trưng đáng kể của luật quốc tế về phân định biển là được phát triển qua án lệ của các cơ quan tài phán quốc tế. Các án lệ này thể hiện ngày càng rõ xu hướng chuyển từ cách tiếp cận “hướng đến kết quả công bằng” (không ưu tiên phương pháp phân định nào) sang cách tiếp cận “điều chỉnh để đạt được kết quả công bằng”, nghĩa là cách tiếp cận bao gồm ba giai đoạn: (i) thiết lập đường trung tuyến/cách đều tạm thời; (ii) xem xét liệu có các hoàn cảnh đặc biệt/liên quan đòi hỏi điều chỉnh đường trung tuyến/cách đều tạm thời nhằm đạt được kết quả công bằng; (iii) kiểm tra liệu đường phân định có dẫn đến kết quả không công bằng hay không bằng cách áp dụng yếu tố tỷ lệ[3]. Khi thực hiện quá trình ba giai đoạn này, cơ quan tài phán quốc tế sẽ dựa trên cơ sở nguyên tắc công bằng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của đảo trong phân định.

Continue reading

HIỆN TRẠNG NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Kết quả hình ảnh cho BIỂN ĐÔNG  TRẦN TRỌNG DƯƠNG

Trong khi giới học thuật Trung Quốc đã chuẩn bị một chiến lược nghiên cứu cơ bản dài hơi về biển Đông bằng việc đào tạo các chuyên gia nghiên cứu biển vài ba chục năm trở lại đây, thì Việt Nam do nhiều điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, dường như đến giờ mới “tự mở cửa” cho chính mình. Và mặc dù đã được khai phóng tự do trong nghiên cứu học thuật, đã được đầu tư ở nhiều chỗ, song từ góc độ quản lý khoa học, các học giả ở Việt Nam hiện vẫn đang phải tự xoay xở trong những điều kiện khác nhau. Bài viết này là một lược sử diễn giải tình hình nghiên cứu Biển Đông thuộc phạm vi của khoa học xã hội và nhân văn1.

Diện tích nước ta bao gồm cả hai phần lãnh thổ và lãnh hải. Diện tích Biển Đông chiếm một tỷ lệ áp đảo so với đất liền. Nhưng các mối quan tâm của nhà nước và giới nghiên cứu tỏ ra tương đối rời rạc, nếu không muốn nói là nhiều khi bị lãng quên, hoặc cố tình quên lãng.

Để lược thuật được tình hình nghiên cứu Biển Đông của Việt Nam, bài viết này khảo sát trên dưới 12002 công bố khoa học  (chủ yếu bằng tiếng Việt), đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và các ấn phẩm (phần lớn là chuyên luận) được phát hành trong nước khoảng 40 năm trở lại đây (từ những năm 1970 đến 2014). Tiêu chí thống kê bao gồm: (1) đầu mục bài nghiên cứu, hoặc chuyên luận nghiên cứu; (2) Các lần xuất bản, công bố (tính cả trường hợp được tái bản).

Một ví dụ tiêu biểu như sau: “Phạm Hoàng Quân. 2008. Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc. Báo Tuổi trẻ, ngày 5/1/2008, tb. 2012. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển – Viện NC Phát triển TP.HCM. số 1/2012. tb. 2014a. Trong “Hoàng Sa- Trường Sa: nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc”. Nxb. Văn hóa Văn nghệ. Tp.HCM. tr.7-15”. Đây là một đơn vị điển hình cho mẫu khảo sát. Bài nghiên cứu này được công bố 3 lần ở 3 năm khác nhau (2008, 2012, và 2014) với các mức độ chỉnh sửa, bổ sung khác nhau, được công bố ở 3 kênh xuất bản (báo chí, tạp chí, và chuyên luận). Như thế, bài nhiên cứu này sẽ đồng thời được thống kê ở cả ba năm. Mặt khác, nếu là chuyên luận của một tác giả (một người viết) thì sẽ tương đương với 1 đơn vị; nếu là một tuyển tập bài viết thì các bài viết khác nhau ấy cũng được coi là một đơn vị (như trường hợp các công bố của Phạm Hoàng Quân trong ví dụ trên). Thêm nữa, nếu một chuyên luận được cấu thành từ các chương do nhiều tác giả khác nhau viết, thì mỗi chương sẽ tương ứng với một đơn vị thống kê. Về thời gian khảo sát, chúng tôi chia làm bốn giai đoạn, gồm (1) từ 1970 đến 1975, (2) giai đoạn từ 1980 đến 1984, (3) giai đoạn 1992 đến 1994, (4) giai đoạn từ 2010 đến 2014). Kết quả cụ thể được biểu diễn như biểu chỉ số công bố dưới đây.

Continue reading

%d bloggers like this: