Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

QUAN NIỆM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ NƯỚC TA

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Hai cấp xét xử là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở nước ta nói chung, trong đó có tư pháp dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới. Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử, thiết nghĩ chúng ta tìm hiểu sự áp dụng của nguyên tắc này qua hai mô hình tố tụng là mô hình tranh tụng thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và mô hình thẩm xét ở các nước châu Âu lục địa, trong đó điển hình là Pháp.

Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm.89

Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại. Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm.90 Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm.91 Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định.92

Trái lại, các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng nguyên tắc này là: thứ nhất, với quan niệm rằng thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử và được sự bổ trợ những kinh nghiệm thực tế cuộc sống của hội thẩm hay phụ thẩm khi xét xử nhưng dầu sao vẫn là những con người bình thường, tức là cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa áp cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm).93 Toà án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan.94 Thứ hai, nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán sơ thẩm. Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn. Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm.95

Continue reading

Advertisements

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN TRAO ĐỔI THÊM VỀ ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Công ty Luật Hợp Danh Luật Việt

Tham luận của Toà Dân sự Toà án nhân dân Tối cao (TDSTANTC) tại Hội nghị tổng kết ngành Toà án năm 2008 có nêu những quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Qua nghiên cứu tham luận của TDSTATC về điều luật này, chúng tôi thấy có những điểm cần trao đổi thêm.

Để minh hoạ các quan điểm khác nhau về việc hiểu và áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS, TDSTANTC đã đưa ra ví dụ:

Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý, có một đương sự chết, nhưng nguyên đơn không biết được địa chỉ những người thừa kế của đương sự đã chết, để Toà án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là trường hợp “chưa đủ điều kiện khởi kiện” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS, nên áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với việc đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, với lý do theo Điều 193 BLTTDS họ không được khởi kiện lại.

Với ví dụ trên Toà án cấp phúc thẩm có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: khoản 1 Điều 192 BLTTDS đã quy định cụ thể các căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong đó có quy định cả căn cứ dự phồng là điểm h (Các trường hợp khác mà pháp luật đã quy định), nên không còn căn cứ đình chỉ nào khác ngoài Khoản 1, Khoản 2 Điều 192 không phải là loại căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Việc áp dụng khoản 2 Điều 192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự khi có những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Còn các căn cứ khác quy định tại Khoản 1 Điều 168 BLTTDS nhưng không trùng với các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 192 BLTTDS thì Toà án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự, không phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Continue reading

HÒA GIẢI DÂN SỰ

LS. VÕ THÀNH VỊ

Trong vụ án dân sự , luật sư chúng ta tùy điều kiện và tình tiết vụ án, cố gắng thực hiện các thủ tục hòa giải vừa có lợi cho hai bên đương sự, đồng thời có lợi cho luật sư chúng ta.

Căn cứ các qui định của Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự: Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt bên nào. Các thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, khi có tranh chấp dân sự việc hòa giải của các bên được pháp luật khuyến khích.

Điều 10 của Bộ luật Tố tụng dân sự qui định: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự theo qui định của bộ luật này”. Các đương sự gồm có: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do tòa án tiến hành.

Về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải phải được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

1. Trường hợp thứ nhất: Hòa giải và chuẩn bị xét xử (hòa giải lần 1)

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; Trừ trường hợp vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.

Continue reading

TÌM HIỂU VỀ “ĐÌNH CHỈ” THEO QUI ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

LS. ĐIỀN ĐỨC THÀNH

Điều 39, 50 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Điều 41, 53 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các các tranh chấp lao động chỉ qui định một loại đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.

BLTTDS năm 2004 thì có nhiều loại đình chỉ khác nhau như: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử theo yêu cầu của đương sự; nhưng trong quá trình thực hiện thì tính chất, căn cứ, hình thức vẫn chưa được cụ thể, chưa thực sự rõ ràng, đã dẫn tới sự lầm lẫn hay xem xét các căn cứ vẫn còn mù mờ theo cách hiểu của mỗi tòa án hay của mỗi vị thẩm phán…

Theo khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2004 qui định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự bằng cách xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo qui định tại Điều 168 BLTTDS năm 2004. Những căn cứ, qui định tại điều này bao gồm: Thời hiệu khởi kiện đã hết; người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; hết thời hạn thông báo nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp hoặc không đến tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án.

Continue reading

GIÁM ĐỐC THẨM – “XÉT” CHỨ KHÔNG “XỬ”

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG – Trung tâm Luật So sánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Sau khi đăng bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” của tác giả Mai Ngọc Dương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 – tháng 6/2009), Tạp chí đã nhận được một số ý kiến phản hồi, trao đổi về bài viết này. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Thị Phượng và mong muốn sẽ tiếp tục nhận được các ý kiến trao đổi khác.

1. Luận điểm chủ đạo của tác giả Mai Ngọc Dương trong bài “Tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm dân sự” là phiên tòa giám đốc thẩm dân sự thiếu tính công khai. Tác giả đưa ra ba lý do cho luận điểm này như sau:.

Thứ nhất, tác giả cho rằng phiên tòa giám đốc thẩm được tổ chức như một phiên họp, không giống như một phiên tòa.

Thứ hai, tác giả nhận xét rằng sự tham gia của nguyên đơn, bị đơn dân sự còn hạn chế bởi sự tham gia của những người này, theo luật, là không bắt buộc.

Thứ ba, sự tham gia của người bào chữa trong phiên tòa giám đốc thẩm còn hạn chế bởi những người này cũng như các nguyên đơn, bị đơn, thuộc nhóm “những người tham gia tố tụng” chỉ được Tòa án triệu tập khi thấy cần thiết.

Cuối cùng, tác giả đề xuất bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về hình thức của phiên tòa giám đốc thẩm như sau: “Phiên tòa giám đốc thẩm được mở công khai với sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa” (1).

2. Chúng tôi xin trao đổi lại với tác giả Mai Ngọc Dương về luận điểm nêu trên. Theo chúng tôi, phiên tòa giám đốc thẩm dân sự không cần mở công khai, không cần quy định bắt buộc phải có sự tham gia của các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa. Lý do căn bản của điều này là giám đốc thẩm không phải là một hoạt động xét xử mà là một hoạt động tự kiểm tra trong nội bộ hệ thống tư pháp, nên không cần phải tiến hành công khai. Điều này được chứng minh bởi những lý do sau đây:

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỜI GIAN TRIỆU TẬP ĐƯƠNG SỰ

VĂN LUẬN – TAND Quận Tân Phú, TPHCM

Đối với các tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động thì thời gian ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của đương sự, ví dụ: hai công ty tranh chấp về chất lượng của hàng hóa nên bên mua không đồng ý nhận hàng, vì vậy không cho bên bán nhập hàng vào kho của mình, buộc nên bán phải thuê kho để gửi hàng. Đối với số lượng hàng hóa lớn thì số tiền lưu kho là rất lớn và tăng lên từng ngày. Ngòai ra đối với một số hàng hóa thì nếu để lâu ngày có thể gây hư hỏng hoặc không sử dụng được.

Vì vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự nên tại điểm b khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sư 2005 qui định “Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án”. Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 qui định những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại khỏan 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 có quy định “ Đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khỏan 1 Điều này”. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa của các tranh chấp quy định tại Điều 29 và Điều 31 Bộ luật này là 03 tháng.

Tuy nhiên khoản 3 Điều 154 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 qui định “Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết”.

Continue reading

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

Continue reading

KHỞI KIỆN ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VI PHẠM LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI TÒA ÁN

LÊ QUYẾT THẮNG – Trưởng ban Kiểm tra, BHXH Việt Nam

Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 01/01/2007. Theo quy định của Luật BHXH, các hành vi vi phạm trong thực hiện chính sách BHXH đă rõ ràng, cụ thể tại Điều 134, Điều 135 gồm các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, các hành vi vi phạm về thủ tục thực hiện BHXH như: không đóng, đóng không đúng thời gian quy định, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH; cố tì́nh gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ BHXH của người lao động …

Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Theo đó đă phân loại, quy định cụ thể mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi trên là 20.000.000 đồng. Ngày 18/2/2008, Bộ Lao động-Thương binh và Xă hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đă có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lăi phát sinh.

Như vậy, chế tài xử lý vi phạm pháp luật BHXH nói chung và về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH bắt buộc nói riêng đă tương đối đầy đủ nhưng với những quy định như hiện nay cho thấy: mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tính khả thi của biện pháp buộc trích tiền nộp chậm và tiền lăi phát sinh không cao. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn tránh và nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp không có dấu hiệu giảm.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: