HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH, KỸ NĂNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG (Ban hành kèm theo Chỉ thị số 04/CT-CA ngày 03-10-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao)

Phần I

CHUẨN BỊ HÒA GIẢI

Bước 1. Lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án

1. Việc lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án thực hiện theo quy định tại Chương VII về chứng minh và chứng cứ, Chương XIII về thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Trong quá trình lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có trách nhiệm xác định đúng, làm rõ các nội dung sau:

– Quan hệ pháp luật tranh chấp;

– Yêu cầu cụ thể của các đương sự;

– Nguyên nhân phát sinh tranh chấp;

– Tính chất, mức độ tranh chấp;

– Vấn đề mấu chốt của tranh chấp;

– Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người tham gia tố tụng khác;

– Quan hệ giữa các đương sự (quan hệ tình cảm, quan hệ làng xóm, láng giềng, quan hệ hợp tác kinh doanh,…);

– Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của đương sự;

– Quy định pháp luật là căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu của đương sự;

– Các nội dung khác (nếu có). Continue reading

Advertisements

ÁN LỆ VỚI NGUYÊN TẮC CÔNG LÝ KHÔNG THỂ BỊ CHỐI TỪ, TRÌ HOÃN

LS. LÊ ĐỨC TIẾT

Các nước khác nhau thì có nền văn hóa pháp lý khác nhau và đều có nét tương đồng. Nhưng nhìn chung có hai dạng: nền pháp luật theo án lệ và nền pháp luật thành văn.

Trải qua nhiều cuộc hội thảo, chế định về án lệ nay đã được chấp nhận trong hoạt động xét xử của Việt Nam. Tại điểm c, khoản 2, Điều 22 của Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014 quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Cho đến nay, chế định án lệ vẫn chưa được áp dụng nhiều vào hoạt động thực tiễn. Ngày 28/10/2015, Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ đã được công bố và đã có một số án lệ được đưa ra. Tuy vậy vẫn còn nhiều vấn đề thuộc quan điểm, tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận, cách làm… đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn để khi áp dụng có thể phát huy được tối đa tác dụng tích cực, đồng thời ngăn ngừa được những khiếm khuyết của việc vận dụng án lệ phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ công bằng, công lý xã hội.

Về nguồn gốc ra đời của án lệ

Trước khi trở thành những điều luật bắt buộc phải tuân theo, pháp luật bất thành văn hay pháp luật thành văn đã manh nha và tồn tại từ lâu trong xã hội, dưới dạng những quy tắc xử sự nhất định. Những điều luật cấm như: “không săn bắt chim cá, muông thú trong thời kỳ chúng sinh đẻ; cấm hôn nhân cận huyết…” là kết quả của sự trải nghiệm nhiều ngàn năm của nhiều thế hệ con người mới có. Các học giả thời La Mã (thế kỷ thứ VII trước Công nguyên) đã khẳng định rằng nội dung các quy phạm pháp luật La Mã là những điều kiện vật chất của đời sống xã hội La Mã tạo nên. Làm luật không phải là sáng tác ra luật theo đúng nghĩa đen của từ này. Làm luật là nghiên cứu, tìm tòi để phát hiện ra những quy tắc giao tiếp, xử sự tiến bộ đã hình thành trong xã hội rồi biến chúng thành điều luật làm chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người. Theo ý nghĩa đó, hoàn thiện pháp luật là một quá trình không ngừng và dài lâu. Nó gắn liền với sự hưng thịnh của xã hội, với nền văn minh của đất nước. Công lao to lớn của nhà làm luật gói gọn ở chỗ họ đã tìm ra được những quy tắc xử sự tiến bộ của xã hội, phù hợp với quy luật khách quan rồi xây dựng chúng thành những điều luật, bộ luật, làm bà đỡ mát tay cho xã hội văn minh tiến bộ mới ra đời. Vì lẽ đó, sống có pháp luật trở thành một đòi hỏi bức thiết của xã hội loài người. Để mọi người có thể hành động theo pháp luật thì trước hết phải có pháp luật để tuân theo. Sống có pháp luật và hành động theo pháp luật là hai đòi hỏi của xã hội văn minh. Không thể có cái này mà không có cái kia. Hai đòi hỏi đó luôn phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề phát triển cho nhau. Con người ngày càng tiến bộ, văn minh hơn là do đã từ bỏ dần cuộc sống không có quy tắc xử sự, hoặc theo quy tắc xử sự lạc hậu, lỗi thời, hoặc tệ hơn cả là hành động theo “luật rừng”.

Continue reading

TÒA ÁN PHONG TỤC CỦA NGƯỜI STIÊNG

LS. TẠ QUANG TÒNG

Dân tộc Stiêng hiện có khoảng hơn 70.000 người, cư trú tập trung ở 5 huyện thuộc tỉnh Bình Phước gồm Phước Long, Bù Đăng, Bình Long, Lộc Ninh và Đồng Phú. Do cư trú ở những địa hình đa dạng và khô cằn với các điều kiện khắc nghiệt về thời tiết, địa hình, địa mạo… nên cuộc sống của người Stiêng còn nhiều khó khăn. Dân tộc Stiêng có 2 nhóm: Stiêng Bùdek (Stiêng vùng thấp) và Stiêng Bùlơ (Stiêng vùng cao). Người Stiêng Bùdek biết canh tác lúa nước và theo chế độ phụ hệ, còn người Stiêng Bùlơ trồng lúa rẫy, săn bắt thú rừng, hái lượm và theo chế độ mẫu hệ.

Làng của người Stiêng là một khoảnh đất rừng được giới hạn bằng những ranh giới cụ thể như các lối mòn, các cây cổ thụ, những tảng đá lớn, con suối, dòng sông…, ranh giới này được truyền từ đời này sang đời khác và được các làng lân cận chấp nhận. Vùng đất thuộc địa phận của làng là đất rừng thuộc quyền sở hữu của cộng đồng làng Stiêng, các thành viên của cộng đồng có quyền sử dụng phần đất rừng đã được làng phân chia theo những điều kiện nhất định.

Làng của người Stiêng được gọi là Poh hoặc Wang có từ 3 đến 5 nóc nhà với khoảng từ 40 đến 80 người sinh sống. Các Poh (Wang) của người Stiêng Bùdek có quy mô lớn hơn, với khoảng hơn 10 nóc nhà và nhiều hơn 100 người cư trú. Làng của người Stiêng là đơn vị xã hội truyền thống và duy nhất, trên làng không có một thiết chế xã hội nào khác.

Chủ làng Stiêng

Chủ làng Stiêng là người đàn ông đứng tuổi, mạnh khỏe, từng trải, có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, sản xuất, là người có khả năng trong việc trình bày những vấn đề quan trọng, biết cách tranh biện để bảo vệ dân làng mỗi khi có sự tranh chấp giữa dân làng khác với dân làng mình,đặc biệt là phải có hiểu biết tốt về Luật tục Stiêng. Continue reading

KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG ÁN LỆ

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNĐại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

1. Khái niệm và tính chất của án lệ

Ở các nước tiên tiến, án lệ được coi là một loại chuẩn mực đặc thù hình thành từ sự lặp đi lặp lại một giải pháp cho một vấn đề giống nhau được đặt ra trong nhiều bản án khác nhau. Sự lặp đi lặp lại ấy thể hiện sự trùng hợp trong suy nghĩ của các quan toà về cách hiểu và áp dụng luật trong những trường hợp tương tự[1].

Các nước theo luật thành văn, như Pháp, không coi án lệ là luật, mà chỉ là cách áp dụng luật của thẩm phán và có thể được các thẩm phán khác tham khảo khi xét xử vụ án có nội dung, tính chất tình tiết tương tự[2]. Người dân cũng có thể dựa vào án lệ để chấn chỉnh hành vi của mình trong giao tiếp, nhằm tránh rơi vào thế bất lợi trong trường hợp có tranh chấp. Án lệ không được đảm bảo thực hiện bằng chế tài của nhà chức trách, như luật. Thẩm phán cũng không bị buộc phải xử theo một tiền lệ nào đó, dù tiền lệ đó đã được nhất trí chấp nhận trong giới quan toà. Vả lại, dù không có quy tắc nào ràng buộc, án lệ ở Pháp chỉ hình thành từ các vụ tranh chấp (contentieux) chứ không từ các việc dân sự (affaire grâcieuse).

Theo quan niệm của người Anh, án lệ có tính ràng buộc[3]. Một khi được ghi nhận trong một bản án được tuyên bởi một toà án có thẩm quyền, một cách giải quyết vấn đề pháp lý nào đó trở thành một tiền lệ (precedent) mà bất kỳ ai cũng có thể viện dẫn để đòi hỏi thẩm phán cùng cấp hoặc cấp dưới phải xử vụ việc tương tự theo cùng một cách. Quyền viện dẫn án lệ được cho là xuất phát từ Lẽ công bằng (Equity) ràng buộc người cầm cân nảy mực theo quy tắc “tiền lệ phải được tôn trọng” – stare decisis: một người đã được hưởng cách xét xử như thế, thì không lý do gì người khác không được hưởng cùng một cách xét xử trong trường hợp tương tự.

Continue reading

KỸ NĂNG ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CỤ THỂ

THS.LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Trong bối cảnh toàn cầu hóa dẫn tới xu hướng giao thoa giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó các quốc gia có truyền thống dân luật (Civil Law) ngày càng coi trọng vai trò của án lệ trong việc xét xử tại Tòa án. Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó, án lệ từ chỗ chỉ là chủ để nghiên cứu trao đổi của các nhà luật học trong nước thì nay đã trở thành vấn đề mới trong cải cách hệ thống pháp luật ở nước ta.

Thuật ngữ “án lệ” lần đầu tiên xuất hiện trong chính sách của Đảng tại Nghị quyết số 48/2005/-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, theo đó một trong những giải pháp về xây dựng pháp luật Việt Nam là “Nghiên cứu về khả năng khai thác và sử dụng án lệ, tập quán, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Sau hơn mười năm, đến năm 2016 thì lần đầu tiên mười án lệ được công bố, theo đó: các quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về một vụ việc cụ thể có chứa đựng các lập luận để giải thích về các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra các nguyên tắc hoặc quy phạm pháp luật cần áp dụng trong việc giải quyết vụ việc đó sẽ được áp dụng nhằm bảo đảm các vụ án giống nhau phải được xét xử và phán quyết như nhau. Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ trong các quan hệ dân sự cụ thể hiện còn quá mới mẻ đối với thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, luật sư và những người tham gia tố tụng khác nên việc nghiên cứu, phổ biến, đào tạo, hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng áp dụng án lệ là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Nguyên tác áp dụng án lệ theo pháp luật Việt Nam

Liên quan đến án lệ hiện nay được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, do vậy để áp dụng án lệ một cách chính xác, hiệu quả cần phải hệ thống hóa và hiểu rõ nguyên tắc chung khi áp dụng án lệ, cụ thể:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 3022/TCTHADS-NV1 NGÀY 15 THÁNG 8 NĂM 2017 CỦA TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, BỘ TƯ PHÁP VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NGHỊ QUYẾT SỐ 42/2017/QH14 VỀ THÍ ĐIỂM XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

                                                                                                                                                                      Kính gửi: Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Ngày 21/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (gọi tắt là Nghị quyết số 42/2017/QH14) và Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14. Để thống nhất nguyên tắc áp dụng các quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14, trên cơ sở trao đổi ý kiến với Vụ 11 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ Pháp chế – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Vụ Chính sách Thuế – Bộ Tài chính, Tổng cục Thi hành án dân sự (THADS) hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng) như sau:

1. Nguyên tắc áp dụng

Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017 và được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có hiệu lực. Do đó, từ ngày 15/8/2017 đến khi Nghị quyết này hết hiệu lực, cơ quan THADS áp dụng quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 để thực hiện việc xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Đối với những việc thi hành án liên quan đến xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng đã được cơ quan THADS tổ chức thi hành xong một phần hoặc chưa thi hành xong trước ngày 15/8/2017 nhưng đã thực hiện các thủ tục về thi hành án theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì trình tự, thủ tục và kết quả thi hành án được công nhận. Các thủ tục thi hành án tiếp theo mà Nghị quyết số 42/2017/QH14 điều chỉnh thì được thực hiện theo Nghị quyết này.

Continue reading

TỔNG HỢP NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

VỤ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ – VKSNDTC

Trên cơ sở Báo cáo tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Thi hành án dân sự và Kiểm sát thi hành án dân sự của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Công văn số 1784/VKSTC-V11 ngày 22/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nội dung các câu hỏi, Vụ kiểm sát thi hành án dân sự (Vụ 11) đã biên tập lại các dạng câu hỏi khó khăn, vướng mắc, từ gần 200 câu hỏi thành 112 câu hỏi của các đơn vị để tham luận tại Hội nghị tập huấn Công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính năm 2017 tại Nghệ An vào ngày 24, 25/7/2017, cụ thể như sau:

Câu 1: Điểm a khoản 1 Điều 2 Luật THADS năm 2014 quy định về những bản án, quyết định được đưa ra thi hành “Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm”. Như vậy, được hiểu là đối với phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm sẽ được đưa ra thi hành. Trên thực tế, có những phần của bản án, quyết định tuy không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng nếu đưa ra thi hành sẽ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án cũng như sẽ gây khó khăn trong quá trình thi hành án như việc tiêu hủy vật chứng. Do vậy, cần xem xét, sửa đổi bổ sung theo hướng: Đối với vật chứng của vụ án chỉ đến khi toàn bộ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mới đưa ra thi hành?

Câu 2: Điểm a, khoản 2 Điều 2 Luật THADS năm 2014 thì: “Những bản án bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng, trả lương được đưa ra thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị, theo thủ tục phúc thẩm”. Như vậy những bản án này được đưa ra thi hành ngay khi chưa có hiệu lực, nhưng theo nội dung bản án thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án mới phải thi hành phần lãi suất do chậm thi hành án. Do đó trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án ngay khi bản án chưa có hiệu lực thì phần lãi suất có được đưa ra thi hành án ngay không? Nếu có thì thời điểm tính lãi suất từ thời điểm chậm thi hành án hay thời điểm án có hiệu lực pháp luật ?

Continue reading

QUY CHẾ TỔ CHỨC PHIÊN TÒA–BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 02/2017/TT-TANDTC NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Quy chế tổ chức phiên tòa này quy định về nguyên tắc tổ chức phiên tòa, nội quy phòng xử án, việc bảo vệ phiên tòa và thực hiện các quyết định của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.

2. Quy chế tổ chức phiên tòa này được áp dụng đối với các phiên tòa, phiên họp trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, phá sản; xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức phiên tòa

1. Phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm và thành phần những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp hoãn phiên tòa thì thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa phải ghi rõ trong giấy báo mở lại phiên tòa.

2. Phiên tòa được tổ chức công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự, bị cáo thì Tòa án có thể xét xử kín.

3. Việc tổ chức phiên tòa phải bảo đảm các yêu cầu về an ninh, trật tự, sự tôn nghiêm của Tòa án; bảo đảm cho việc xét xử được tiến hành bình đẳng, dân chủ, nghiêm minh, khách quan, đúng pháp luật; góp phần tuyên truyền, giáo dục công dân chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của đời sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Continue reading

%d bloggers like this: