NGHỊ QUYẾT SỐ 04/2017/NQ-HĐTP NGÀY 05 THÁNG 5 NĂM 2017 HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ SỐ 92/2015/QH13 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN, QUYỀN NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN LẠI VỤ ÁN

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Điều 2. Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;

Continue reading

Advertisements

XÁC ĐỊNH NỘI DUNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ QUỐC TẾ BỞI TÒA ÁN

Kết quả hình ảnh cho RESOLVING INTERNATIONAL CIVIL DISPUTES BY COURTS ĐỖ MINH TUẤN

Việc xác định nội dung luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp dân sự quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với tòa án. Cho đến nay trên thế giới tồn tại ba học thuyết chủ yếu về xác định nội dung của pháp luật nước ngoài. Học thuyết chứng cứ được áp dụng ở Anh, Australia và nhiều nước thuộc khối thịnh vượng chung. Học thuyết pháp luật được áp dụng ở các nước thuộc hệ thống pháp luật dân sự như Đức, Pháp, Ý, Nhật Bản. Học thuyết Hoa Kỳ được áp dụng ở các tòa án liên bang Hoa Kỳ và các tòa án ở nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ. Trong khi đó, vấn đề này chưa được định hình rõ ràng trong luật thực định và thực tiễn tòa án ở Việt Nam. Vì vậy bài viết dưới đây nghiên cứu ba học thuyết về xác định nội dung luật nước ngoài và thực tiễn vấn đề này tại Việt Nam.

1. Các học thuyết xác định nội dung luật nước ngoài trên thế giới:

a. Học thuyết chứng cứ (fact doctrine)[2]

Trong thời kỳ Trung cổ (Middle Ages), nước Anh là nhà nước trung ương tập quyền, với hệ thống tư pháp tập trung có sự tham gia xét xử của bồi thẩm đoàn. Bồi thẩm đoàn được coi là tập hợp những người làm chứng. Bản án được đưa ra trên cơ sở sự hiểu biết về sự thật của vụ việc của bồi thẩm đoàn. Hội thẩm không thể biết được sự kiện xảy ra ngoài cộng đồng của họ. Vì vậy, tòa án không có thẩm quyền xét xử đối với vụ việc xảy ra một phần hoặc toàn bộ ở nước ngoài.[3] Án lệ được phát triển trong xã hội phong kiến Anh thiếu vắng những qui phạm điều chỉnh các hoạt động của thương nhân. Do đó, để giải quyết các tranh chấp thương mại, tòa án đặc thù ở Anh (không phải là tòa án common law[4]) phải áp dụng một hệ thống pháp luật không quen thuộc, đó chính là luật của thương nhân. Trong thế kỷ thứ 14, ở Anh đã xuất hiện tòa án hàng hải áp dụng pháp luật của các quốc gia, pháp luật về hàng hải và pháp luật của thương nhân có nguồn gốc từ bên ngoài, để chuyên giải quyết các tranh chấp về hàng hải. Đến thế kỷ 16, sự phát triển mạnh mẽ của tòa án hàng hải đã có tác động đến vị thế của tòa án common law. Điều này đỏi hỏi phải mở rộng thẩm quyền của tòa án common law. Bước đầu tiên của sự mở rộng thẩm quyền là thay đổi bồi thẩm đoàn từ chức năng người làm chứng sang chức năng người xét xử. Và như vậy thẩm quyền của tòa án common law được mở rộng đến việc xét xử các vụ việc vốn chỉ thuộc thẩm quyền của tòa án hàng hải. Tòa án common law thống nhất áp dụng luật của thương nhân để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, luật thương nhân không quen thuộc với tòa án. Do đó, tòa án coi luật của thương nhân là chứng cứ, các đương sự phải nêu ra và chứng minh về nội dung của luật của thương nhân.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hand writing Procedure list  HỒ NGUYỄN QUÂN

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang có những bước tiến vượt bậc. Đời sống Nhân dân ngày được nâng cao, các quan hệ kinh tế – quốc tế phát triển mạnh mẽ, giao lưu kinh tế, dân sự, thương mại… ngày một gia tăng. Theo quy luật chung, quan hệ xã hội nhiều sẽ dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều. Hàng năm, ngành Toà án nhân dân đã thụ lý giải quyết một khối lượng rất lớn các vụ án tranh chấp liên quan đến dân sự, kinh tế, thương mại… Điều này đã tạo ra một áp lực lớn về công việc cho ngành.

Trong số các vụ án được Toà án nhân dân các cấp thụ lý, giải quyết hàng năm có không ít vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn không phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc các tranh chấp về tài sản có giá ngạch thấp. Tuy nhiên, những vụ việc này vẫn phải tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng thông thường. Hệ quả là thời gian giải quyết vụ kiện sẽ bị kéo dài hoặc phải trải qua nhiều cấp xét xử một cách không cần thiết gây mất thời gian, tổn phí cho các đương sự và Nhà nước.
Nhận thức được thực trạng này, thể chế hóa đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013. Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã dành hai chương quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại vụ án khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Đây là một chế định hoàn toàn mới.
I. KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN
1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.1. Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 91/TANDTC-PC NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC XỬ LÝ TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, BUÔN BÁN PHÁO NỔ TRONG NỘI ĐỊA

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của nhiều Tòa án nhân dân về vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật để xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa. Về vấn đề này, sau khi xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12-06-2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07-5-2009) thì “các loại pháo” thuộc Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh. Tuy nhiên, theo quy định của Luật đầu tư số 67/2014/QH13 (Luật đầu tư năm 2014) thì “kinh doanh các loại pháo” thuộc Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục 4 Luật đầu tư năm 2014). Luật này có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2015.

Ngày 22-11-2016, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư năm 2014 (Luật sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư năm 2014), trong đó có bổ sung quy định “kinh doanh pháo nổ” vào ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh (Điều 6). Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2017.

Để áp dụng đúng và thống nhất quy định của pháp luật trong việc xử lý các hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao khi giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển buôn bán pháo nổ trong nội địa cần lưu ý:

Continue reading

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ TÌNH CẢNH TÒA ÁN ĐANG “MẤT KHÁCH”

35615443_m NGUYỄN MINH ĐỨC

Nếu như năm 2013 có đến 58% doanh nghiệp được hỏi cho biết sẽ khởi kiện ra tòa khi có tranh chấp với đối tác thì đến năm 2016, con số này chỉ còn 37%. Nói cách khác, nếu coi tòa án là nhà cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp cho doanh nghiệp, thì nhà cung cấp này hiện đang "mất khách".

Tinh thần “Nhà nước phục vụ” do Thủ tướng phát động, dường như chưa lan tỏa đến ngành tòa án khi nhiều doanh nghiệp không thể tìm được sự bảo vệ từ tòa mà phải tìm kiếm các giải pháp khác cho các vấn đề của mình.

Doanh nghiệp ngày càng kém mặn mà với tòa án

Giữa tháng 3/2017, Ban Nội chính Trung ương tổ chức Hội thảo về phòng chống tham nhũng trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm lợi ích cho hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Hầu hết những người tham dự (chủ yếu là cán bộ ngành nội chính, tư pháp) đều cảm thấy cái tiêu đề Hội thảo rất lạ. Việc chống tham nhũng trong ngành Tòa án là chuyện hoàn toàn bình thường, vì sao lại gắn nó với hoạt động kinh doanh?

Gần đây, trong công việc, tôi có cơ hội được ngồi nói chuyện với nhiều thẩm phán, thư ký tòa án, luật sư, doanh nghiệp, ngân hàng về chủ đề doanh nghiệp sử dụng tòa án để giải quyết tranh chấp hay còn gọi là án kinh doanh, thương mại. Tôi có hỏi họ về vai trò của tòa án trong nền kinh tế và tòa án cần phải làm gì để thực hiện vai trò này tốt hơn. Điều khiến tôi ngạc nhiên là sự đối lập trong câu trả lời giữa bên tòa án và bên doanh nghiệp.

Hầu hết thư ký tòa và thẩm phán mà tôi nói chuyện thì đều không hình dung được vai trò của tòa án trong nền kinh tế. Họ nói rất chung chung về bảo vệ công lý, hay niềm tin của người dân vào pháp luật. Và giải pháp chủ yếu mà họ đưa ra là nâng cao trình độ hay chế độ đãi ngộ dành cho cán bộ.

Continue reading

THU HỒI TÀI SẢN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC VÀ YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN NƯỚC TA

Kết quả hình ảnh cho Stolen Asset Recovery ĐINH TRƯƠNG ANH PHƯƠNG – Đại học Luật TP.HCM

Để phòng, chống tội phạm, ngoài việc ban hành các hình phạt có tính răn đe đối tượng có ý định phạm tội, pháp luật các quốc gia còn quy định một biện pháp khác nữa là thu hồi tài sản do hành vi phạm tội mà có. Hiện nay, pháp luật quốc tế tồn tại hai biện pháp chủ yếu về việc thu hồi tài sản, đó là thu hồi tài sản hình sự và thu hồi tài sản dân sự [1] (hay còn gọi là thu hồi tài sản không dựa vào bản án hình sự). Bài viết đề cập đến việc thu hồi tài sản dân sự trong pháp luật quốc tế và pháp luật nước ta.

1. Khái niệm và đặc điểm về thu hồi tài sản dân sự

Theo chúng tôi, thu hồi tài sản dân sự (THTSDS) có cách hiểu phổ biến là một quá trình tố tụng dân sự (TTDS) đặc biệt của cơ quan nhà nước nhằm thu hồi những tài sản được tạo nên hoặc có liên quan đến hành vi của tội phạm, ví dụ như trong bản án United States v. James Daniel Good Real Property (1993)[2].

Là quá trình TTDS đặc biệt của cơ quan nhà nước, nên các vấn đề như chứng cứ, trình tự tố tụng, các biện pháp bảo đảm, nghĩa vụ chứng minh… đều phải tuân theo trình tự pháp luật nhất định. Ví dụ về nghĩa vụ chứng minh trong THTSDS thì nghiêng về phía bị đơn hay nói cách khác, bị đơn có nghĩa vụ chứng minh tài sản của mình là không có nguồn gốc hoặc có liên quan đối với hành vi phạm tội (HVPT)[3], hay như các quyết định về thu hồi tài sản (THTS), đóng băng tài sản, giải thích nguồn gốc tài sản đều phải tuân theo trình tự. Và vì là TTDS nên Nhà nước có thể sẽ đóng vai trò là nguyên đơn trong vụ kiện dân sự (như trong bản án United States V. Ursery, 518 U.S. 267 (1996)[4]hay đóng vai trò là bị đơn (như trong bản án Degen V. United States, 517 U.S. 820 (1996)[5].

Continue reading

VẤN ĐỀ “CÔNG NHẬN KÉP” PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NƯỚC NGOÀI – NHÌN TỪ THỰC TIỄN TẠI ĐỨC

Kết quả hình ảnh cho Foreign arbitrationTHS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

“Công nhận kép” phán quyết của trọng tài nước ngoài là một vấn đề phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn. Trên thế giới, tuy vẫn có nền pháp chế ủng hộ vấn đề này (như Hoa Kỳ và Đức trước đây), nhưng cũng có nhiều nước đã hoàn toàn thoát ly khỏi chúng (như Đức hiện nay). Bài viết tìm hiểu các vấn đề cơ bản của việc “công nhận kép” phán quyết trọng tài nước ngoài, đồng thời nêu lên thực trạng vấn đề này tại Tòa Tư pháp Liên bang của Đức (Bundesgerichtshof). Cùng một vấn đề pháp lý nhưng qua hai bản án khác nhau, Tòa Tư pháp Liên bang của Đức đã có hai quyết định hoàn toàn khác biệt, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của bên muốn công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

1. Những vấn đề cơ bản về “công nhận kép” phán quyết của trọng tài nước ngoài

Chìa khóa cho việc một phán quyết của trọng tài nước ngoài có thể được công nhận tại một quốc gia chính là sự hiện diện và hiệu quả hoạt động của Công ước New York 1958. Đây là một trong những Công ước nhận được sự tham gia đông đảo nhất của các quốc gia trên thế giới (tính đến đầu năm 2015, đã có tất cả 154 quốc gia tham gia Công ước này)[1]. Đối với hai thành viên của Công ước New York, tòa án của một quốc gia không được quyền từ chối các phán quyết trọng tài được ban hành bởi trọng tài của một quốc gia khác nếu không có các căn cứ xác đáng được quy định tại Điều V Công ước New York 1958. Tuy nhiên, thực tế của hoạt động trọng tài thương mại quốc tế chứng minh rằng, cũng có trường hợp bên thắng kiện đã nhận được một quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài lại không thể thi hành phán quyết này vì nhiều lý do. Lý do cơ bản nhất là việc bên thua kiện không còn tài sản tại quốc gia có tòa án đã tiến hành việc công nhận. Bên thắng kiện trong trường hợp này có thể thực hiện hai giải pháp độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình. Ở giải pháp thứ nhất, bên thắng kiện có quyền yêu cầu tòa án của một quốc gia khác (đa phần là nơi có liên quan đến hoạt động kinh doanh của bên thua kiện hoặc nơi bên thua kiện có tài sản) công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, như họ đã tiến hành trong lần thứ nhất. Còn trong giải pháp thứ hai, bên thắng kiện có quyền yêu cầu tòa án của một quốc gia khác công nhận và cho thi hành quyết định của một tòa án về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. Vấn đề này trong thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế được gọi là “công nhận kép”[2] phán quyết trọng tài nước ngoài.

Continue reading

SỐ LƯỢNG TRỌNG TÀI TRONG HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT HỌC SO SÁNH

Kết quả hình ảnh cho arbitration LÊ NGUYỄN GIA THIỆNGiảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM.

Hội đồng trọng tài (HĐTT) đóng vai trò quyết định trong cả quá trình tố tụng trọng tài, bởi lẽ, đây là các thẩm phán tư nhân[1], những người sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp phát sinh giữa bên các đương sự. Số lượng thành viên của HĐTT (gọi tắt là số lượng trọng tài viên – TTV) là vấn đề rất quan trọng, vì số lượng TTV trong các trường hợp khác nhau sẽ mang đến những hệ quả pháp lý khác nhau, và ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của các bên khi tham gia tố tụng. Tố tụng trọng tài thượng tôn nguyên tắc thỏa thuận, nên các bên có toàn quyền trong việc thỏa thuận về số TTV sẽ tham gia HĐTT. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận, pháp luật các nước cũng như quy chế các tổ chứ c trọng tài uy tín đều có quy định về việc sẽ áp dụng một số lượng TTV bắt buộc để đảm bảo cho quá trình tố tụng vẫn được tiếp diễn.

1. Số lượng Trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận

Pháp luật trọng tài Việt Nam có đề cập cụ thể về số lượng TTV trong Hội đồng tại khoản 1 Điều 39 Luật Trọng tài Thương mại 2010 (Luật TTTM 2010) có hiệu lực từ 1/1/2011, nhưng lại đặt dưới tiêu đề là Thành phần HĐTT[2]: Thành phần HĐTT có thể bao gồm một hoặc nhiều TTV theo sự thỏa thuận của các bên.

Trong tố tụng trọng tài, sự thỏa thuận của các bên luôn được tôn trọng, các bên có quyền thỏa thuận có sử dụng trọng tài làm cơ quan tài phán để giải quyết hay không, có quyền thỏa thuận chọn trọng tài quy chế hay trọng tài vụ việc… và tất nhiên, các bên cũng có quyền chọn số lượng TTV sẽ tham gia giải quyết tranh chấp. Luật TTTM 2010 cũng quy định theo hướng này, theo đó, luật cho phép các bên tự do lựa chọn số lượng TTV khi thành lập HĐTT. Các bên có thể thỏa thuận về việc HĐTT được cấu thành bởi một hay nhiều TTV. Trường hợp HĐTT chỉ bao gồm một TTV duy nhất rất cụ thể và tương đối đơn giản nên chúng tôi xin phép không bàn sâu. Tuy nhiên, vấn đề rắc rối lại phát sinh khi HĐTT được thành lập từ nhiều TTV. Theo ngôn ngữ phổ thông, thì nhiều TTV có thể được hiểu là hai, ba, bốn, năm thậm chí sáu, bảy… TTV. Cách quy định không rõ như vậy của Luật TTTM 2010 trên thực tế sẽ phát sinh nhiều điều bất cập.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 663/QĐ-TANDTC NGÀY 12 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ SỐ LƯỢNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP PHÓ ĐỐI VỚI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN, QUẬN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG

CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;

Để thống nhất thực hiện các quy định của Nhà nước về cơ cấu lãnh đạo, quản lý cấp phó của các cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước và bảo đảm tính đồng bộ trong tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức – Cán bộ Tòa án nhân dân tối cao,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Số lượng lãnh đạo, quản lý cấp phó đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

1. Đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Số lượng Phó Chánh án không quá 03 người;

b) Số lượng cấp phó của Tòa chuyên trách, Văn phòng và các Phòng chức năng không quá 02 người.

2. Đối với Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

a) Số lượng Phó Chánh án không quá 04 người;

b) Số lượng cấp phó của Tòa chuyên trách, Văn phòng và các Phòng chức năng không quá 03 người.

3. Đối với Tòa án nhân dân tỉnh có số lượng biên chế dưới 50 người:

a) Số lượng Phó Chánh án không quá 02 người;

b) Số lượng cấp phó của Tòa chuyên trách, Văn phòng và các Phòng chức năng có 01 người.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 72/TANDTC-PC NGÀY 11 THÁNG 4 NĂM 2017 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ ÁP DỤNG THỐNG NHẤT VỀ ÁN ÁN PHÍ TRONG VỤ ÁN LY HÔN

Kính gửi:

                  – Các Tòa án nhân dân cấp cao;
                  – Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
                  – Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày 30-12-2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Trong quá trình triển khai thực hiện, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh vướng mắc về việc xác định án phí trong trường hợp các đương sự thuận tình ly hôn khi giải quyết vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm”.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu 50% mức án phí”.

Continue reading

GIẢI ĐÁP CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI VĂN BẢN SỐ 01/2017/GĐ-TANDTC NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2017 VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (TRÍCH DẪN)

Kính gửi:

– Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;
– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Trong thời gian chuẩn bị và tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2017 (từ ngày 12 đến ngày 14-01-2017) các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đề nghị Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề vướng mắc về nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao:

VỀ DÂN SỰ

1. Trường hợp Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp dân sự mà các bên viện dẫn các tập quán khác nhau thì giải quyết như thế nào?

Khi xem xét, quyết định áp dụng tập quán thì Tòa án căn cứ Điều 3, Điều 5 và các quy định khác của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tùy từng trường hợp cụ thể giải quyết như sau:

Tập quán có giá trị áp dụng là tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp có nhiều tập quán thì áp dụng tập quán do các bên thỏa thuận; nếu các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

2. Tòa án giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Trường hợp này, Tòa án có phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu không?

Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Continue reading

%d bloggers like this: