Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

 DƯƠNG TẤN THANH – TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Theo quy định của BLDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định của BLDS năm 2015.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến những quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện và thời hiệu khởi kiện trong một số vụ án dân sự cụ thể.

1. Một số quy định chung về thời hiệu khởi kiện

1.1. Áp dụng quy định về thời hiệu

Tại Điều 149 BLDS và Điều 181 BLTTDS đều quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.1

Vấn đề này, thực tiễn tại Tòa án vẫn còn quan điểm khác nhau, một bên là Thẩm phán phải giải thích và một bên là Thẩm phán không được giải thích cho đương sự biết việc đương sự được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu nếu biết thời hiệu khởi kiện đã hết. Vì hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau. Nếu Thẩm phán giải thích mà đương sự yêu cầu thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu Thẩm phán không giải thích và đương sự không biết được quyền yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án sẽ giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Continue reading

Advertisements

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ MỘT VÀI QUY ĐỊNH QUỐC TẾ CÓ LIÊN QUAN

 

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA & THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định. Vấn đề thu phí thi hành án dân sự được quy định tại Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, (sau đây gọi tắt là Luật THADS), Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 26/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí (gọi tắt là Nghị định số 120/2016/NĐ-CP); Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí THADS (Thông tư số 216/2016/TT-BTC).

Trước đây vấn đề thu phí được quy định tại Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự (Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP). Trong quá trình thực hiện cùng với những thay đổi của pháp luật thi hành án dân sự và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan, Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định. Ví dụ như việc thu phí thi hành án trong trường hợp cơ quan thi hành án đã thực hiện các thủ tục thi hành án như xác minh, thông báo và tốn nhiều công sức để vận động đương sự, nhưng sau đó các đương sự tự nguyện thi hành án cho nhau không thông qua cơ quan thi hành án dẫn đến không thu được phí; thậm chí có trường hợp cơ quan thi hành án đã tổ chức cưỡng chế xong, chuẩn bị giao tiền cho đương sự nhưng người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật Thi hành án dân sự) và họ từ bỏ nhận tiền, tài sản đã thu được. Trong trường hợp này theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 2 của Thông tư số 144/2010/TTLT- BTC- BTP, cơ quan thi hành án không thể thu phí thi hành án. Lợi dụng hạn chế của quy định này, đã có những trường hợp các bên đương sự bắt tay nhau trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án. Bên cạnh đó, về thời hạn thu phí thi hành án đối với trường hợp giao tài sản của Thông tư số 144/2010/TTLT-BTC-BTP cũng có những bất cập, theo khoản 4 Điều 3 của Thông tư trên quy định: “Nếu giao tài sản mà người được thi hành chưa nộp phí thi hành án, cơ quan thu phí có thể kê biên, phong tỏa tài sản được thi hành án và ấn định thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày giao trả tài sản để người được thi hành án nộp phí thi hành án” dẫn đến nhiều trường hợp cơ quan thi hành án đã giao tài sản nhưng người được nhận tài sản không nộp phí. Ngoài ra, còn có những quy định về thủ tục xét miễn giảm phí thi hành án chưa thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan cần được giải quyết.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN ĐƯỢC KHỞI KIỆN?

THANH VÂN – Báo Pháp luật TP.HCM

Một người được ủy quyền để giao dịch các quyền về tài sản nhưng lại đứng đơn khởi kiện tranh chấp tài sản, khiến mỗi tòa hiểu một kiểu.

Có ủy quyền thì mới được kiện

Theo luật sư (LS) Nguyễn Văn Nhàn, Đoàn LS TP.HCM, Điều 134 BLDS 2015 quy định đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Về phạm vi đại diện, Điều 141 BLDS 2015 quy định người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Theo hợp đồng ủy quyền, bà Linh chỉ ủy quyền cho bà Trinh thực hiện các quyền của chủ sở hữu tài sản chủ yếu mua bán, tặng cho, cho thuê tài sản… Nội dung ủy quyền này không có quyền khởi kiện hoặc tham gia giải quyết tranh chấp tại tòa án. Tòa án cấp phúc thẩm không thể tự suy luận là có ủy quyền chuyển nhượng thì khi xảy ra tranh chấp được quyền khởi kiện, như vậy là quá phạm vi ủy quyền của đương sự. Việc tòa hủy quyết định đình chỉ vụ án là sai về pháp luật tố tụng và cả luật nội dung.

Đồng tình, LS Chu Văn Hưng, Đoàn LS TP.HCM, cũng cho rằng bà Trinh không có quyền khởi kiện vì khi có tranh chấp là đã nằm ngoài nội dung ủy quyền. Các đương sự trong vụ án nên khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm để tòa án cấp trên xem xét lại quyết định của TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Continue reading

ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

 KIM LOAN 

Thực tiễn công tác xét xử hiện nay đang có sự không thống nhất trong nhận thức về một số quy định của pháp luật, trong đó có việc ủy quyền khởi kiện vụ án dân sự. Do vậy, để tránh việc áp dụng không đúng quy định của BLTTDS theo hướng bắt buộc người có quyền và lợi ích bị xâm hại phải ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện và để bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật rất cần có hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Điều 186 BLTTDS 2015 về quyền khởi kiện quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Khoản 2 Điều 189 BLTTDS 2015 về việc làm đơn khởi kiện của cá nhân tại các điểm a và b quy định:

a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;”.

Continue reading

PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI THEO CÔNG ƯỚC NEW YORK 1958, THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

LÊ NGUYỄN GIA THIỆN NCS, Giảng viên Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

1. Phán quyết trọng tài nước ngoài theo Công ước New York 1958 và thực tiễn áp dụng tại một số quốc gia

Khái niệm “phán quyết trọng tài nước ngoài” là khái niệm trung tâm, đóng vai trò cốt yếu cho toàn bộ quy trình công nhận và cho thi hành. Khi và chỉ khi xác định chính xác thế nào là một phán quyết trọng tài nước ngoài thì quy trình công nhận và cho thi hành mới có thể diễn ra đúng đắn. Chính vì lẽ đó, mà ngay từ những câu từ đầu tiên Công ước New York 1958 (Công ước) đã dự liệu về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài (foreign arbitral award). Điều I(1) Công ước có nêu ra hai yếu tố để xác nhận một phán quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không, đó là yếu tố chính yếu và yếu tố thứ yếu.

1.1 Yếu tố chính yếu: phán quyết được xem là phán quyết trọng tài nước ngoài nếu phán quyết này được tuyên tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi mà việc yêu cầu công nhận và cho thi hành phán được tiến hành. (This Convention shall apply to the recognition and enforcement of arbitral awards made in the territory of a State other than the State where the recognition and enforcement of such awards are sought).

Gọi là yếu tố chính yếu vì đây là yếu tố có tính căn bản, nền tảng mà các quốc gia thành viên khi xây dựng những quy định pháp luật nội địa của mình phải tuyệt đối tuân thủ. Có thể thấy rằng, yếu tố chính yếu để Công ước New York xem một phán quyết trọng tài nước có thể thuộc đối tượng điều chỉnh của mình hay không chính là nguyên tắc lãnh thổ (principle of territory hay territorial approach). Nói khác đi, yếu tố lãnh thổ có vai trò quyết định lên tính nước ngoài của một phán quyết trọng tài[1]. Bất kỳ phán quyết nào được tuyên tại một quốc gia khác với quốc gia của tòa án công nhận và cho thi hành đều có thể thuộc phạm vi của Công ước, nghĩa là “phán quyết trọng tài nước ngoài”, bất kể là nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên có phải là thành viên công ước hay không[2]. Vì vậy, quốc tịch, nơi thường trú hoặc nơi cư trú, trụ sở của các bên không liên quan đến việc xác định liệu một phán quyết có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không[3]. Ví dụ, trọng tài ICC tuyên phán quyết tại Paris nhằm giải quyết tranh chấp giữa hai doanh nghiệp của Anh thì phán quyết này là phán quyết trọng tài nước ngoài[4].

Continue reading

THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI – MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA

Với những ưu việt của thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài Thương mại, ngày càng có nhiều chủ thể lựa chọn giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường Trọng tài. Theo số liệu của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam(VIAC)[1], từ năm 2010 đến năm 2016, chỉ tính riêng số lượng vụ việc tranh chấp tại VIAC là 734 việc, tăng 487 việc so với giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2009[2],  số vụ việc năm sau tăng cao hơn năm trước. Theo đó ngày càng nhiều phán quyết Trọng tài được đưa ra thi hành.

Vấn đề thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại Chương X (từ Điều 65 đến Điều 67) Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm 2010); Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014(Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014) và Điều 67 Luật TTTM năm 2010 thì Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và trách nhiệm thi hành phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS.

Theo báo cáo số 74/BC-BTP ngày 08/4/2016 của Bộ Tư pháp sơ kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010, số phán quyết trọng tài được thi hành mới đạt 60% trong tổng số đơn yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành phán quyết trọng tài. Số vụ việc phán quyết trọng tài được thi hành chưa cao do còn khó khăn trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành tại nhiều địa phương đặc biệt khi các tổ chức cá nhân là người nước ngoài; một số phán quyết trọng tài tuyên không cụ thể, rõ ràng cũng gây vướng mắc trong quá trình thi hành án; hiện tượng bên phải thi hành lợi dụng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại tòa án để có thời gian tẩu tán tài sản vẫn khá phổ biến khiến cho số vụ thi hành phán quyết trọng tài còn khiêm tốn[3] . Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về việc thi hành phán quyết trọng tài vẫn còn có nhiều điểm bất cập, có thể kể đến một số bất cập như sau:

Continue reading

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOÃN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ – NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ

 NGÔ XUÂN BÁCH & NGUYỄN THANH TÚ – Thẩm tra viên, Vụ GĐKT 2, TANDTC

Khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì tổ chức, cá nhân được thi hành án có thể làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành án. Tuy nhiên, để đảm bảo vụ việc được xem xét cẩn trọng, đảm bảo quyền và lợi ích của nhà nước, của công dân thì trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, Cơ quan thi hành án dân sự được quyền ra quyết định hoãn thi hành án dân sự. Bài viết giới thiệu các quy định của pháp luật về hoãn thi hành án dân sự, những bất cập và đề xuất kiến nghị.

1. Bản án, quyết định được thi hành

Theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số số 64/2014/QH13 (Luật THADS), những bản án, quyết định sau được thi hành:a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 01/2018/GĐ-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 1 NĂM 2018 GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về một số vướng mắc về nghiệp vụ. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

I. VỀ DÂN SỰ

Trường hợp người để lại di sản thừa kế chết trước năm 1987 mà hiện nay Tòa án mới thụ lý, giải quyết tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được xác định như thế nào?

Kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính thì từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: