THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Hình ảnh có liên quan   NGUYỄN GIA NAM

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu giao lưu thương mại quốc tế được mở rộng, song song cũng xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển có yếu tố nước ngoài. Trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp được Tòa án Việt Nam thụ lý gia tăng cả về số lượng và ngày càng có tính chất phức tạp.

Quy định chung

Liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, pháp luật quy định: “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam” thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác. Như vậy, với quy định này, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển mà một bên có trụ sở hoặc chi nhánh tại VN thì chỉ có Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết. Hệ quả pháp lý có thể phát sinh là:

– Các bên trong hợp đồng không được quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài giải quyết.
– Trong trường hợp, vụ việc được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài quốc gia khác thì bản án, quyết định đó không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Đây là quy định được một số nước trên thế giới áp dụng để xác định thẩm quyền riêng biệt của Tòa án quốc gia mình. Ví dụ theo khoản 1 Điều 403 Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga thì “Những vụ việc sau đây thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Liên bang Nga: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, nếu người vận chuyển có địa chỉ trên lãnh thổ Liên bang Nga”.

Tiếp tục đọc

Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN CƠ SỞ RÀ SOÁT BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Kết quả hình ảnh cho AMENDING AND SUPPLEMENTING THE LAW ON CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN NHÀN – Vụ Nghiệp vụ 1- Tổng cục Thi hành án dân sự

Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2015 (BLDS) đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII ngày 24-11-2015, gồm 27 chương, 689 điều. Trong điều kiện hiện nay, khi bên cạnh BLDS đã và đang tồn tại ngày càng nhiều các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động đặc thù như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, Luật hôn nhân và gia đình, Luật Thi hành án dân sự… Như vậy, trong mối quan hệ với các luật chuyên ngành, BLDS đứng ở vị trí trung tâm với tư cách là luật gốc. Trên cơ sở đạo luật gốc này, qua quá trình rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong thi hành án dân sự, có một số vấn đề trong pháp luật thi hành án dân sự cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Qua rà soát sơ bộ cho thấy có 16 vấn đề liên quan tại 91 điều của BLDS 2015 so với các văn bản về thi hành án dân sự (THADS). Trong số 16 vấn đề được rà soát cho thấy có 11/16 vấn đề quy định của pháp luật THADS phù hợp với quy định của BLDS 2015 được đề nghị giữ nguyên và tiếp tục thực hiện, nhưng cũng có 05 vấn đề chưa phù hợp với quy định của BLDS 2015 cần sửa đổi, bổ sung. Cụ thể:

1. Các quy định của pháp luật THADS phù hợp với BLDS 2015

(1) Quy định về thỏa thuận thi hành án: Điều 3 BLDS 2015; Điều 6 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 ( Luật THADS); Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự ( Nghị định 62);

(2) Quy định về hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân: Điều 88, Điều 89, Điều 90, Điều 91, Điều 92, Điều 93 BLDS 2015; Khoản 1 Điều 54 Luật THADS;

(3) Quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án: Điều 365, Điều 366, Điều 367, Điều 368, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 615 BLDS 2015; Điều 54 Luật THADS; Điều 15 Nghị định số 62;

Tiếp tục đọc

ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ƯU TIÊN THANH TOÁN TIỀN THI HÀNH ÁN

Kết quả hình ảnh cho PRIORITY PAYMENT FOR CIVIL JUDGMENT EXECUTION NGUYỄN HẰNG 

Tại Điểm b Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự (THADS) quy định trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau: “Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó”. Đồng thời, Khoản 3 Điều 47 Luật THADS quy định: Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm”. Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc cụ thể cần xác định thanh toán tiền thi hành án cho đúng với quy định nêu trên còn có một số ý kiến và quan điểm khác nhau.

Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập đến một vụ việc cụ thể cần có quan điểm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự.

1. Nội dung vụ việc:

Bà bà Huỳnh Thị L phải thi hành 02 quyết định của Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh K, cụ thể:

* Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 79/QĐST-DS ngày 12/6/2012 xét xử, quyết định: … Bà Nguyễn Thị M và bà Huỳnh Thị L phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị Hồng N số tiền nợ gốc là 596.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 04/6/2012 là 22.000.000 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 618.000.000 đồng (Sáu trăm mười tám triệu đồng). Hai bên thống nhất cách trả nợ như sau:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Dương Thị H thỏa thuận đồng ý cho bà M và bà L cùng chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ gốc và lãi là 618.000.000 đồng trong thời gian 05 tháng, kể từ ngày 04/6/2012 đến ngày 04/11/2012.
Hai bên tự giao nhận tiền hoặc giao nhận do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá thực hiện.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Tiếp tục đọc

NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Kết quả hình ảnh cho FARMERS IN VIETNAMPGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright

Bối cảnh nghiên cứu: Người nông dân và tranh chấp trong thu hồi đất đai

Công nghiệp hóa, đô thị hóa đã và sẽ diễn ra ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới với tốc độ ngày càng nhanh. Trong quá trình đó, nông dân có thể sẽ là lực lượng xã hội chịu thiệt thòi nếu phúc lợi tạo ra từ công nghiệp hóa không được san sẻ cho họ một cách công bằng. Khi lợi ích giữa Nhà nước, các chủ đầu tư phát triển quỹ đất và người nông dân bị thu hồi đất không được phân bổ hài hòa, có nguy cơ xuất hiện nhiều tranh chấp liên quan đến thu hồi đất đai. Bài viết dưới đây bàn về các phương thức giải quyết tranh chấp đất đai khi nông dân bị thu hồi đất. Những tranh chấp này cần được nhận diện và giải quyết một cách thỏa đáng từ góc độ chính sách và pháp luật.

Để công nghiệp hóa và đô thị hóa, tất yếu cần thu hồi đất nông thôn và đất nông nghiệp để chuyển thành đất công nghiệp, đất đô thị, với hy vọng hiệu quả sử dụng đất sẽ nâng cao, đất sẽ có giá hơn. Về kinh tế, theo một đánh giá của Ngân hàng thế giới và Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, khoảng một nửa tới 2/3 của cải của các dân tộc được gắn liền với đất đai [2]. Muốn trở thành quốc gia công nghiệp, hàng triệu nông dân phải mất nghề để chuyển sang khu vực công nghiệp hoặc dịch vụ, 60% dân số Việt Nam sống bằng nghề nông trong khu vực nông thôn chắc chắn sẽ tiếp tục giảm xuống 10-15%, hàng chục triệu nông dân sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức to lớn về sinh kế trong các thập niên tới đây. Tiếp tục đọc

VAI TRÒ CỦA ÁN LỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ VÀO NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY LUẬT QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hình ảnh có liên quanTS. TRẦN THĂNG LONG – Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật TPHCM

Đặt vấn đề

Án lệ trong hệ thống thông luật (common law) có vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở chỗ chúng được coi là nguồn luật không thành văn áp dụng để giải quyết các vấn đề tương tự và là cơ sở để đảm bảo sự nhất quán trong hoạt động xét xử. Việc nghiên cứu án lệ là một yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên và những người làm công tác pháp luật. Trong hệ thống các giáo trình và tài liệu nghiên cứu của nhiều nước, các án lệ luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể và sự thành công trong việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào việc tìm hiểu và vận dụng các án lệ. Trong khoa học luật quốc tế, án lệ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, chúng không những là sự tổng kết của quá trình vận dụng pháp luật vào hoạt động xét xử của các thẩm phán quốc tế mà còn là phương tiện quan trọng để xác định các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế và là cơ sở vật chất cho quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật quốc tế. Mặc dù vậy, ở Việt Nam, án lệ thường được tiếp cận như một loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế và việc vận dụng án lệ vào hoạt động nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế còn tương đối hạn chế.

Bài viết này nhằm tìm hiểu vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật quốc tế, qua đó tìm hiểu ý nghĩa và sự cần thiết của việc vận dụng án lệ quốc tế trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn học luật quốc tế tại Việt Nam.

1.Vai trò của án lệ trong luật quốc tế

1.1. Khái niệm án lệ

Án lệ hay những bản án, quyết định xét xử của Tòa án quốc tế (judicial decisions) được xác định là một phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế hay đầy đủ hơn là “những phương tiện bổ trợ để xác định các quy tắc pháp luật” (subsidiary means for the determination of rules of law)[1]. Thuật ngữ “án lệ” được đề cập đến tại điều 38(1) Quy chế Tòa án quốc tế[2]. (Thuật ngữ “án lệ” trong bài viết này chỉ liên quan đến vấn đề vai trò của các án lệ quốc tế đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế). Tiếp tục đọc

KHÁI NIỆM PHÁ SẢN, THỦ TỤC PHÁP SẢN VÀ NHỮNG LIÊN HỆ ĐẾN LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2014

Kết quả hình ảnh cho Bankruptcy LawTS. DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP.HCM
1. Khái niệm phá sản

Cũng giống như một thực thể sống “có sinh, có tử”, doanh nghiệp cũng có chu kỳ sống của nó. Theo các nhà kinh tế, chu kỳ sống của doanh nghiệp trải qua bốn giai đoạn tiêu biểu là: khởi nghiệp, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái. Nếu bước qua giai đoạn tăng trưởng, nhà quản trị không biết “nhìn xa trông rộng” và dự liệu những tình huống xấu xảy ra để kịp thời đối phó thì doanh nghiệp sẽ bước vào thời kỳ suy thoái. Tính chu kỳ này cũng cho thấy sự suy vong và phá sản có thể là một giai đoạn sẽ xảy ra với bất cứ một doanh nghiệp nào[1].

Về nguồn gốc, thuật ngữ phá sản được diễn đạt bằng từ "bankruptcy" hoặc "banqueroute" mà nhiều người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ "Banca Rotta" trong tiếng La Mã cổ, trong đó banca có nghĩa là chiếc ghế dài, còn rotta có nghĩa là bị gãy. Banca rotta có nghĩa là "băng ghế bị gãy"[2]. Cũng có ý kiến cho rằng, từ phá sản bắt nguồn từ chữ ruin trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự “khánh tận”[3].

Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: phá sản, vỡ nợ, khánh tận… Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ[4]. Như vậy, trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản là để chỉ cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ”.

Từ điển Luật học định nghĩa phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn [5]. Theo quan điểm này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nói cách khác, “phá sản” được hiểu tương đương với “mất khả năng thanh toán”.

Trong Bộ luật Thương mại năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa có hai khái niệm được sử dụng là khánh tận và phá sản. Theo Điều 864 của Bộ luật này “Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị toà tuyên án khánh tận”. Điều 1008 Bộ luật Thương mại năm 1972 quy định “những thương gia ở trong tình trạng khánh tận hay thanh toán tư pháp sẽ bị truy tố về tội phá sản đơn thường hay phá sản gian trá tùy theo các trường hợp được dự liệu tại các điều kế tiếp”. Như vậy “khánh tận là tình trạng một thương gia đã ngưng trả nợ” hay nói cách khác, khái niệm “khánh tận” trong Bộ luật Thương mại năm 1972 được hiểu tương đương như khái niệm “mất khả năng thanh toán”. Trong khi đó, khái niệm “phá sản” được dùng “cho những trường hợp thương gia phạm vào những hình tội được luật dự liệu trong sự diễn tiến thủ tục khánh tận” và từ này (phá sản) là để chỉ cho một loại tội phạm.

Tiếp tục đọc

ÁN LỆ VÀ VIỆC ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG XÉT XỬ

Kết quả hình ảnh cho case studyTHS. LÊ MẠNH HÙNG – Vụ Hợp tác quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao

Bên cạnh ban hành Nghị quyết, thì công bố án lệ là một phương thức mới để Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thực hiện nhiệm vụ bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật là một trong những nhiệm vụ của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao được quy định tại khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, điểm b khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 giao nhiệm vụ này cho Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thực hiện thông qua việc ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Bên cạnh đó, điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 còn quy định Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có nhiệm vụ “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.

Như vậy, bên cạnh ban hành Nghị quyết, thì công bố án lệ là một phương thức mới để Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thực hiện nhiệm vụ bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014, ngày 28/10/2015 Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP “Về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 03/2015). Nghị quyết số 03/2015 gồm 10 điều, quy định về các vấn đề cơ bản sau đây: (1) Án lệ và giá trị pháp lý của án lệ; (2) Lựa chọn án lệ (tiêu chí lựa chọn án lệ; rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ; lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ; (3) Hội đồng tư vấn án lệ; thông qua án lệ; công bố án lệ); (4) Nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử; (5) Hủy bỏ, thay thế án lệ.

Như vậy, Nghị quyết số 03/2015 quy định nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm: Lựa chọn, công bố, áp dụng án lệ và hủy bỏ, thay thế án lệ trong xét xử, giải quyết các vụ việc dân sự (theo nghĩa rộng), phá sản, vụ án hình sự và vụ án hành chính. Đây là những vấn đề mới cần được phân tích, đánh giá làm sáng tỏ để có nhận thức thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích, đánh giá các vấn đề sau: Khái niệm án lệ; áp dụng án lệ dưới góc độ xét xử, giải quyết vụ việc dân sự. Đối với việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án hình sự, hành chính, phá sản, tác giả sẽ đề cập ở những bài khác.

Tiếp tục đọc

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Kết quả hình ảnh cho FOREIGN JUDGMENT ARBITRATIONNCS. LÊ NGUYỄN GIA THIỆN – Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Trong Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015[1], các quy định liên quan đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài (TTNN) ở Việt Nam đã được thiết kế, kiện toàn theo hướng hội nhập quốc tế, khuyến khích việc công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại Việt Nam[2]’[3]. Bài viết phân tích những điểm mới của Bộ luật TTDS năm 2015 về chế định công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN, đặt trong mối tương quan so sánh với Bộ luật TTDS năm 2004 và Công ước New York[4]. Các điểm mới này bao gồm[5]: (1) thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành; (2) việc gửi tài liệu của bên yêu cầu[6]; (3) các tài liệu cần gửi khi yêu cầu công nhận và cho thi hành; (4) sự tham gia của Viện kiểm sát (VKS); (5) nghĩa vụ chứng minh của các bên.

1. Tính mở của Công ước New York

Công ước New York (Công ước), vốn được xem là điều ước quốc tế (ĐƯQT) có nhiều thành viên tham gia nhất, cũng như có tầm bao phủ rộng nhất trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế (TMQT)[7], thiết lập một "mức sàn" tối thiểu mang tính nền tảng mà mọi quốc gia thành viên đều phải tuân thủ khi đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn. Tinh thần xuyên suốt của Công ước là ủng hộ trọng tài (pro-arbitration)[8], đồng thời khuyến khích các nước thành viên tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng để việc công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN tại nước thành viên đó được dễ dàng, nhanh chóng. Điều III Công ước nhấn mạnh: "Các quốc gia thành viên sẽ công nhận các phán quyết trọng tài (nước ngoài) là có hiệu lực ràng buộc và cho thi hành các phán quyết này theo những nguyên tắc tố tụng của nơi mà phán quyết được xem xét công nhận và cho thi hành, theo các điều kiện nằm trong những điều khoản tiếp theo của Công ước New York. Pháp luật quốc gia không được áp đặt những điều kiện phức tạp hơn, hoặc phí/chi phí liên quan đến việc công nhận và cho thi hành phán quyết của TTNN chịu sự điều chỉnh của Công ước New York cao hơn việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài trong nước".

Tiếp tục đọc

KỸ NĂNG ĐIỀU TRA CỦA LUẬT SƯ

Kết quả hình ảnh cho lawyerTHS.LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng luật sư Hàn Sĩ Huy

Hiện nay, hoạt động điều tra, đặc biệt là trong vụ án hình sự, thường do các cơ quan điều tra Nhà nước (hệ thống cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao và trong Quân đội nhân dân) thực hiện. Theo đó, các chứng cứ, bằng chứng do các cơ quan này thu thập theo trình tự tố tụng có giá trị là chứng cứ, chứng minh trong quá trình tố tụng. Việc tự điều tra của luật sư (LS)nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án/việc, tuy không bị pháp luật hiện hành cấm, nhưng không có giá trị chứng cứ, chứng minh và chưa được nghiên cứu thấu đáo trong quá trình hành nghề của LS.

1. Điều tra là gì?

Xét về từ nguyên, học giả Đào Duy Anh nhìn nhận “Điều tra” có nghĩa là “Khảo sát sự thực (enquêter, examiner)”[1]. Xét về lý luận luật học, “Điều tra” là “công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Bộ luật Tố tụng hình sự dành cả Chương VIII để quy định về điều tra”[2] (Theo Bộ luật Tố tụng hình sự mới năm 2015 là Chương X Những quy định chung về điều tra trong vụ án hình sự). Theo nhóm tác giả này, hoạt động điều tra cần làm rõ các nội dung sau[3]:

+ Có hành vi phạm tội hay không? Nếu có thì theo khoản nào của Bộ luật Hình sự?

+ Ai là người phạm tội? Cố ý hay vô ý? Ai là đồng phạm, vv… Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm của bị can và mọi tình tiết cần thiết khác.

+ Thiệt hại thực tế do tội phạm gây ra.

+ Điều tra xong phải có kết luận. Tùy theo kết luận mà có biện pháp xử lý thích đáng.

Sâu hơn nữa, xét về chuyên môn điều tra, theo Nguyễn Ngọc Anh, “Điều tra” là “hoạt động thu thập thông tin tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự. Điều tra được tiến hành bằng nhiều hình thức, như: điều tra công khai, điều tra bí mật, điều tra trực tiếp hoặc điều tra gián tiếp…Điều tra trong tố tụng hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện (trong một số trường hợp do các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện), trong đó Cơ quan điều tra có nhiệm vụ điều tr ở giai đoạn đầu để làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án của Cơ quan điều tra và khi cần thiết cũng có thể trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, Tòa án thực hiện nhiệm vụ điều tra thông qua việc thẩm vấn công khai các tài liệu, chứng cứ và những tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Điều tra vụ án hình sự được cơ quan điều tra tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tổ chức, bộ máy, thẩm quyền cụ thể của các cơ quan điều tra được quy định tại Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành”[4]. Trong khi đó, nhóm tác giả Học viện Cảnh sát nhân dân định nghĩa “Điều tra vụ án hình sự là hoạt động điều tra của những cơ quan điều tra và những cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự, nhằm chứng minh sự thật của vụ án theo yêu cầu của pháp luật”[5] và “là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự, phục vụ cho việc thực hiện mục đích chung của quá trình tố tụng hình sự”[6].

Tiếp tục đọc

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG NGOÀI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM

 NGUYỄN TRUNG THẮNG, HOÀNG HỒNG HẠNH & DƯƠNG THỊ PHƯƠNG ANH – Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

Trong thời gian qua, ở Việt Nam đã phát sinh nhiều vụ khiếu nại, tranh chấp về môi trường, điển hình như các vụ Vê-đan, Mi-won, Tung Kuang, Sonadezi, Nicotex Thanh Thái… Tuy nhiên, việc giải quyết, xử lý các tranh chấp môi trường (TCMT) còn mang nặng tính hành chính, dẫn đến trình trạng khiếu nại kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân và khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên thế giới, do những bất cập về thủ tục xử lý như thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại nên nhiều nước đã sử dụng phương thức thương lượng, hòa giải để xử lý các TCMT thay cho giải quyết bằng Tòa án. Các hình thức xử lý này thường được gọi là “giải quyết tranh chấp lựa chọn” (ADR) hay là giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án.

Trong khuôn khổ nghiên cứu của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (ISPONRE) thực hiện năm 2013 với sự hỗ trợ của Quỹ châu Á, bài viết đề xuất cơ chế giải quyết TCMT ngoài Tòa án ở Việt Nam.

1. Một số kinh nghiệm quốc tế về giải quyết TCMT ngoài Tòa án

Trên thế giới, phương thức giải quyết TCMT ngoài tòa án có thể triển khai thông qua các hình thức: Thương lượng (có luật sư hay không có luật sư); Hòa giải; Trung gian (trợ giúp định hướng tố tụng); Trọng tài hoặc tham vấn Tòa án.

Cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án thường tồn tại dưới 2 dạng: Thông qua một cơ quan độc lập (ví dụ, trung tâm giải quyết tranh chấp hay các tổ chức luật sư); Thông qua hội nghị tiền xét xử với sự tham gia của Hội đồng thẩm phán và Tòa án, với mục đích là thu hẹp vấn đề trong tranh chấp giữa các bên và tìm kiếm khả năng giải quyết vấn đề trong giai đoạn tiền xét xử.

Tại một số quốc gia, việc thương lượng, hòa giải các TCMT thường được thực hiện bởi 2 loại hình cơ quan/tổ chức: Cơ quan chức năng do Chính phủ thành lập và cơ quan/tổ chức tư vấn độc lập.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: