Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

TỐ TỤNG TRANH TỤNG VÀ TỐ TỤNG XÉT HỎI

 NGÔ CƯỜNG

Trên thế giới hiện nay, hoạt động xét xử của Tòa án thường áp dụng một trong hai thủ tục là tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn (xét hỏi). Mỗi loại hình tố tụng này có những đặc điểm, nguyên tắc, trình tự riêng.

I. TỐ TỤNG TRANH TỤNG

1. Những đặc điểm căn bản trong tố tụng tranh tụng

Tố tụng tranh tụng là mô hình tố tụng ở những quốc gia theo truyền thống thông luật, như: Anh, Mỹ, Úc…Mô hình này dựa trên nguyên tắc “các bên trình bày”. Điều đó có nghĩa là, hai bên trong vụ án hình sự và dân sự sẽ quyết định phạm vi những vấn đề đưa ra cho Thẩm phán xem xét, quyết định. Thẩm phán chỉ thực hiện việc xét xử, đóng vai trò là người trọng tài trung lập xem xét các vấn đề các bên trình bày. Theo đó, hai bên trong vụ án có trách nhiệm đưa ra các nhân chứng, chứng cứ để bảo vệ cho quan điểm của họ. Thẩm phán phải bảo đảm cho hai bên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong việc làm sáng tỏ vụ án.

Ở những quốc gia theo truyền thống thông luật, không có các Bộ luật tố tụng do Quốc hội thông qua, mà chỉ có bộ quy tắc về tố tụng do Tòa án tối cao ban hành. Trên cơ sở quy định của bộ quy tắc này, các Tòa án cấp dưới có thể có những quy định bổ sung phù hợp với điều kiện hoạt động của Tòa án mình. Điều đó cho thấy, tố tụng tranh tụng là một mô hình tố tụng rất linh hoạt. Thông qua việc xét xử các vụ án, nếu nhận thấy Tòa án cấp dưới đi “chệch hướng” với quy định tại bộ quy tắc, Tòa án tối cao sẽ “uốn nắn” thông qua án lệ của mình.

2. Thủ tục tố tụng hình sự trong mô hình tố tụng tranh tụng

2.1. Những nguyên tắc chung Continue reading

Advertisements

TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN KHI CÓ THỎA THUẬN THỦ TỤNG THƯƠNG LƯỢNG, HÒA GIẢI BẮT BUỘC TIỀN TỐ TỤNG

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật TP. HCM

Dẫn nhập

Khi có tranh chấp, các chủ thể được yêu cầu cơ quan tài phán là Tòa án hay Trọng tài giải quyết và quyền này đã được ghi trong văn bản pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), “trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài”. Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS) cũng theo hướng vừa nêu với nội dung “cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”.

Thừa nhận quyền yêu cầu cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp và thực hiện quyền đó là hai vấn đề khác nhau. Từ lâu đời, ngạn ngữ Việt Nam đã có câu “vô phúc đáo tụng đình” và câu đó cho thấy, người dân không phải lúc nào cũng muốn giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán. Thực tế, các bên tranh chấp thường tìm cách giải quyết bất đồng giữa họ bằng phương thức khác. Từ đó, hình thành khá phổ biến hình thức thỏa thuận, theo đó, các bên thống nhất cần thương lượng, hòa giải trước và chỉ khi nào thỏa thuận này bất thành, các bên mới yêu cầu cơ quan tài phán giải quyết.

Continue reading

BÀN VỀ NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA LUẬT SƯ

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và Luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, Luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh .Với tính chất riêng của mình, nghề Luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và Luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, Luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh[1].Với tính chất riêng của mình, nghề Luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.

Nghĩa vụ bảo mật thông tin của Luật sư được quy định tại Luật Luật sư năm 2012, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam (Ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ Ngày 20/7/2001 của Hội đồng Luật sư toàn quốc ). Trong khuôn khổ bài viết tác giả đi sâu phân tích một số vấn đề về nghĩa vụ bảo mật bảo mật thông tin khách hàng của luật sư.

Continue reading

VỀ TÍNH HỢP LÝ CỦA KHOẢN 3 ĐIỀU 7 NGHỊ QUYẾT SỐ 04/2017/NQ-HĐTP NGÀY 05/5/2017 CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TANDTC

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Nguyên Phó Chánh án TANDTC

1. Về các trường hợp được khởi kiện lại, không được khởi kiện lại

Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS 2015) quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Khi đương sự khởi kiện, Tòa án phải tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện, nếu đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật TTDS và loại việc thuộc thẩm quyền Tòa án thì Tòa án phải thụ lý, giải quyết. Khi giải quyết, tùy diễn biến cụ thể trong mỗi vụ việc dân sự mà Tòa án ban hành “phán quyết” dưới hình thức như: bản án do Hội đồng xét xử ban hành, hoặc dưới hình thức quyết định do Hội đồng xét xử, do Thẩm phán ban hành. Khi vụ việc đã được giải quyết và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc, Tòa án không thụ lý, giải quyết lại. Do đó, điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật TTDS 2015 đã quy định: “c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” mà đương sự khởi kiện lại thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện, không thụ lý giải quyết.

Một trong những hình thức được coi là giải quyết vụ việc dân sự, đó là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 192 Bộ luật TTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (Bộ luật TTDS 2004) và quy định tại Điều 217 Bộ luật TTDS 2015.

Điều 217 Bộ luật TTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung so với Điều 192 Bộ luật TTDS 2004 và được thiết kế thành 4 khoản, trong đó quy định các căn cứ pháp luật cho phép Tòa án có thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều này.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 01/2018/GĐ-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 1 NĂM 2018 GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về một số vướng mắc về nghiệp vụ. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

I. VỀ DÂN SỰ

Trường hợp người để lại di sản thừa kế chết trước năm 1987 mà hiện nay Tòa án mới thụ lý, giải quyết tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được xác định như thế nào?

Kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính thì từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

Continue reading

HÌNH THỨC ỦY QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC ĐỂ THỰC HIỆN VIỆC KHÁNG CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

LÊ XUÂN CẢNH – Công ty Luật TNHH Danalaw

Kháng cáo là việc những người tham gia tố tụng đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp, xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang trong thời hạn kháng cáo nhằm đảm bảo cho họ có điều kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi Tòa án giải quyết vụ án [1].

BLTTDS 2015 có 05 điều luật quy định về việc thực hiện quyền kháng cáo của đương sự đối với bản án/quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, cụ thể:     

     – Điều 271. Người có quyền kháng cáo

     – Điều 272. Đơn kháng cáo

     – Điều 273. Thời hạn kháng cáo

     – Điều 274. Kiểm tra đơn kháng cáo

     – Điều 275. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng cáo quá hạn

Đối với trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức ủy quyền cho người khác kháng cáo thì quy định như sau :

– Khoản 4 Điều 272 BLTTDS 2015: “Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó, trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Continue reading

HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH, KỸ NĂNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG (Ban hành kèm theo Chỉ thị số 04/CT-CA ngày 03-10-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao)

Phần I

CHUẨN BỊ HÒA GIẢI

Bước 1. Lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án

1. Việc lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án thực hiện theo quy định tại Chương VII về chứng minh và chứng cứ, Chương XIII về thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Trong quá trình lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có trách nhiệm xác định đúng, làm rõ các nội dung sau:

– Quan hệ pháp luật tranh chấp;

– Yêu cầu cụ thể của các đương sự;

– Nguyên nhân phát sinh tranh chấp;

– Tính chất, mức độ tranh chấp;

– Vấn đề mấu chốt của tranh chấp;

– Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người tham gia tố tụng khác;

– Quan hệ giữa các đương sự (quan hệ tình cảm, quan hệ làng xóm, láng giềng, quan hệ hợp tác kinh doanh,…);

– Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của đương sự;

– Quy định pháp luật là căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu của đương sự;

– Các nội dung khác (nếu có). Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hình ảnh có liên quanTS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Đại học Luật Hà Nội

1. Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Thủ tục rút gọn (TTRG) là thủ tục TTDS được tòa án áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động có đủ các điều kiện do pháp luật quy định trong một thời hạn ngắn do một thẩm phán tiến hành với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng pháp luật. Do đó, nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án dân sự theo TTRG là: (i) áp dụng các quy định tại Chương XVIII để giải quyết vụ án theo TTRG; (ii) nếu Chương XVIII không có quy định thì áp dụng các quy định khác của Bộ luật TTDS để giải quyết. Ngoài ra, nếu các văn bản pháp luật khác quy định tranh chấp dân sự được giải quyết theo TTRG thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo TTRG quy định trong Bộ luật TTDS năm 2015.

2. Điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Loại việc được tòa án áp dụng để giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn là những tranh chấp dân sự nhưng đó là các tranh chấp có tính chất đơn giản, rõ ràng về sự việc, áp dụng pháp luật và không có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật TTDS năm 2015, các vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục tố tụng rút gọn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

– Các đương sự đều có địa chỉ cư trú, trụ sở rõ ràng;

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: