Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

CÔNG VĂN SỐ 01/2018/GĐ-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 1 NĂM 2018 GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ

Kính gửi: – Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự;

– Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Qua thực tiễn công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao nhận được phản ánh của các Tòa án về một số vướng mắc về nghiệp vụ. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

I. VỀ DÂN SỰ

Trường hợp người để lại di sản thừa kế chết trước năm 1987 mà hiện nay Tòa án mới thụ lý, giải quyết tranh chấp thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được xác định như thế nào?

Kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30-6-2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính thì từ ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.

Continue reading

Advertisements

HÌNH THỨC ỦY QUYỀN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC ĐỂ THỰC HIỆN VIỆC KHÁNG CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

LÊ XUÂN CẢNH – Công ty Luật TNHH Danalaw

Kháng cáo là việc những người tham gia tố tụng đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp, xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang trong thời hạn kháng cáo nhằm đảm bảo cho họ có điều kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi Tòa án giải quyết vụ án [1].

BLTTDS 2015 có 05 điều luật quy định về việc thực hiện quyền kháng cáo của đương sự đối với bản án/quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, cụ thể:     

     – Điều 271. Người có quyền kháng cáo

     – Điều 272. Đơn kháng cáo

     – Điều 273. Thời hạn kháng cáo

     – Điều 274. Kiểm tra đơn kháng cáo

     – Điều 275. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng cáo quá hạn

Đối với trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức ủy quyền cho người khác kháng cáo thì quy định như sau :

– Khoản 4 Điều 272 BLTTDS 2015: “Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó, trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Continue reading

HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH, KỸ NĂNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG (Ban hành kèm theo Chỉ thị số 04/CT-CA ngày 03-10-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao)

Phần I

CHUẨN BỊ HÒA GIẢI

Bước 1. Lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án

1. Việc lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án thực hiện theo quy định tại Chương VII về chứng minh và chứng cứ, Chương XIII về thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Trong quá trình lập, nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có trách nhiệm xác định đúng, làm rõ các nội dung sau:

– Quan hệ pháp luật tranh chấp;

– Yêu cầu cụ thể của các đương sự;

– Nguyên nhân phát sinh tranh chấp;

– Tính chất, mức độ tranh chấp;

– Vấn đề mấu chốt của tranh chấp;

– Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người tham gia tố tụng khác;

– Quan hệ giữa các đương sự (quan hệ tình cảm, quan hệ làng xóm, láng giềng, quan hệ hợp tác kinh doanh,…);

– Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của đương sự;

– Quy định pháp luật là căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu của đương sự;

– Các nội dung khác (nếu có). Continue reading

CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hình ảnh có liên quanTS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Đại học Luật Hà Nội

1. Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Thủ tục rút gọn (TTRG) là thủ tục TTDS được tòa án áp dụng để giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động có đủ các điều kiện do pháp luật quy định trong một thời hạn ngắn do một thẩm phán tiến hành với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng và đúng pháp luật. Do đó, nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án dân sự theo TTRG là: (i) áp dụng các quy định tại Chương XVIII để giải quyết vụ án theo TTRG; (ii) nếu Chương XVIII không có quy định thì áp dụng các quy định khác của Bộ luật TTDS để giải quyết. Ngoài ra, nếu các văn bản pháp luật khác quy định tranh chấp dân sự được giải quyết theo TTRG thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo TTRG quy định trong Bộ luật TTDS năm 2015.

2. Điều kiện áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Loại việc được tòa án áp dụng để giải quyết theo thủ tục TTDS rút gọn là những tranh chấp dân sự nhưng đó là các tranh chấp có tính chất đơn giản, rõ ràng về sự việc, áp dụng pháp luật và không có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật TTDS năm 2015, các vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục tố tụng rút gọn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

– Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

– Các đương sự đều có địa chỉ cư trú, trụ sở rõ ràng;

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hand writing Procedure list  HỒ NGUYỄN QUÂN

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang có những bước tiến vượt bậc. Đời sống Nhân dân ngày được nâng cao, các quan hệ kinh tế – quốc tế phát triển mạnh mẽ, giao lưu kinh tế, dân sự, thương mại… ngày một gia tăng. Theo quy luật chung, quan hệ xã hội nhiều sẽ dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều. Hàng năm, ngành Toà án nhân dân đã thụ lý giải quyết một khối lượng rất lớn các vụ án tranh chấp liên quan đến dân sự, kinh tế, thương mại… Điều này đã tạo ra một áp lực lớn về công việc cho ngành.

Trong số các vụ án được Toà án nhân dân các cấp thụ lý, giải quyết hàng năm có không ít vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn không phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc các tranh chấp về tài sản có giá ngạch thấp. Tuy nhiên, những vụ việc này vẫn phải tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng thông thường. Hệ quả là thời gian giải quyết vụ kiện sẽ bị kéo dài hoặc phải trải qua nhiều cấp xét xử một cách không cần thiết gây mất thời gian, tổn phí cho các đương sự và Nhà nước.
Nhận thức được thực trạng này, thể chế hóa đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013. Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã dành hai chương quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại vụ án khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Đây là một chế định hoàn toàn mới.
I. KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN
1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.1. Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Continue reading

BÀN VỀ VẤN ĐỀ VƯỢT QUÁ PHẠM VI YÊU CẦU KHỞI KIỆN BAN ĐẦU TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

TRẦN ĐỨC LONG – Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

I. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự:

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc mang tính bắt buộc và rất quan trọng, được áp dụng xuyên suốt từ khi Tòa án thụ lý đến khi giải quyết xong vụ án. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 5 BLTTDS: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự… Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.

Xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định cụ thể tại Điều 58, 59 60,61 BLTTDS, trong đó quy định: Đương sự có quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS : "Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu". Như vậy, hiểu như thế nào là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu? đây là vướng mắc hiện nay còn nhiều quan điểm, chưa thống nhất.

Tại điểm 6 mục III Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai thủ tục giải quyết các vụ án tại tòa cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự “Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Continue reading

THỦ TỤC XÉT XỬ NHANH TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ PHÁP VÀ DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Bài được viết tại thời điểm Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đang được dự thảo

THS. TRẦN ANH TUẤN  – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà nội

Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng dân sự hiện nay, việc tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài nhằm rút ra những nhân tố hợp lý cho việc hoàn thiện Dự thảo Bộ luật tố tụng dân (BLTTDS) sự phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta và xu hướng hội nhập quốc tế là một nhu cầu khách quan. Trong Liên minh Châu Âu, hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Pháp được coi là một điển hình mẫu mực. Trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc truyền thống, sự mềm dẻo, linh hoạt trong việc xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường các nhà lập pháp của Pháp đã xây dựng được những thủ tục xét xử nhanh áp dụng đối với những tranh chấp mang tính đặc thù riêng. So sánh các quy định về thủ tục tố tụng nhanh trong BLTTDS Pháp 1807 và các quy định về thủ tục này trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng trong hệ thống pháp luật của hai nước có những điểm tương đồng và những đặc thù riêng.

Theo BLTTDS Pháp 1807 thủ tục xét xử nhanh được quy định để áp dụng giải quyết đối với những tranh chấp mà việc giải quyết mang tính khẩn cấp và những loại tranh chấp đơn giản mà việc giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường là quá chậm chạp và tốn kém. Thủ tục tố tụng nhanh được thiết lập để áp dụng giải quyết những loại việc mang tính khẩn cấp là thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu. Bên cạnh đó một loại thủ tục tố tụng đặc biệt được thiết lập để áp dụng giải quyết đối với những loại tranh chấp đơn giản ,rõ ràng là thủ tục ra lệnh.

1.Thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong BLTTDS Pháp và thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Dự thảo BLTTDS Việt Nam.

Trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử cấp thẩm và thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu đều là những quyết định mang tính chất tạm thời và không có hiệu lực quyết tụng như một bản án xử sơ thẩm về nội dung của vụ tranh chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là vấn đề có triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng hay không(1). Theo thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu trong tố tụng dân sự Pháp không cần thiết phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng, ngược lại thủ tục xét xử cấp thẩm tuân theo trình tự tranh tụng, việc triệu tập bị đơn đến tham gia phiên xét xử là bắt buộc.Thủ tục xét xử theo đơn yêu cầu không đòi hỏi Thẩm phán phải triệu tập bị đơn đến tham gia tố tụng,bởi lẽ thủ tục này được áp dụng đối với các loại việc có nhiều bị đơn mà Toà án không thể triệu tập các đương sự đến tham gia tố tụng hoặc các vụ việc mà việc triệu tập bị đơn là khó khăn. Ví dụ: buộc những người đình công chiếm giữ công sở phải rời nơi họ chiếm giữ, sở hữu chủ yêu cầu trục xuất những người chiếm hữu nhà của họ một cách bất hợp pháp mà không có hợp đồng thuê nhà, lập bằng chứng về việc ngoại tình(2)

Continue reading

CHẾ ĐỊNH BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

THS. TRẦN ANH TUẤN – Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng hiện nay, việc xây dựng thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự, phải đáp ứng được hai đòi hỏi cơ bản của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Chế định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Dự thảo 11 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam (BLTTDSVN), bao gồm 28 điều luật (từ điều 98-125). Tuy nhiên các quy định tại Dự thảo này cũng đặt ra nhiều vấn đề mà chúng ta cần giải quyết:

1. Về phạm vi áp dụng

– Điểm tiến bộ của Dự thảo 11 BLTTDS Việt Nam là đã mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trước khi khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (K2 Điều 98 DTBLTTDSVN ). Tuy nhiên nếu so sánh với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) Pháp 1807 thì có hạn chế là các quy định này chỉ áp dụng đối với những yêu cầu khẩn cấp nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ kiện chính, ngược lại theo BLTTDS Pháp 1807 thủ tục xét xử cấp thẩm cũng có thể áp dụng một cách độc lập mà không phụ thuộc vào vụ kiện chính. Hiện nay các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong DTBLTTDSVN thì hầu hết là những biện pháp nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án trong vụ kiện chính. Tuy nhiên Khoản12, Khoản13 Điều 101 Dự thảo cho phép Thẩm phán “ Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định” và áp dụng “ Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định”. Chúng tôi cho rằng để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, trên cơ sở các quy định này các nhà lập pháp Việt Nam có thể phát triển, bổ sung theo hướng cho phép Thẩm phán trong trường hợp khẩn cấp có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của đương sự ngay cả khi giữa các đương sự không có tranh chấp về vụ kiện chính hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng các bên không có yêu cầu khởi kiện giải quyết tranh chấp này.

Trong thực tiễn tố tụng của Việt Nam cũng xuất hiện không ít những trường hợp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra đương sự chỉ yêu cầu Toà án áp dụng ngay lập tức các biện pháp cần thiết mà không khởi kiện về vụ kiện chính bởi giữa họ không có tranh chấp nào khác hoặc có tranh chấp về vụ kiện chính nhưng sau khi Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp các bên đã tự giải quyết được.Chẳng hạn:

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: