Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)
Advertisements

CHẾ ĐỊNH MỚI VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

 TS. NGUYỄN THỊ THU THỦY – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện HLKHXH Việt Nam

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, đã dành riêng Phần thứ 4 từ Điều 316 đến Điều 324 quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Bài viết này phân tích cơ sở xây dựng chế định thủ tục rút gọn, từ đó đánh giá tính hợp lý trong các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

1. Cơ sở xây dựng chế định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015 ra đời xuất phát từ nhu cầu nội tại của các điều kiện kinh tế – xã hội.

Trước hết, việc xây dựng thủ tục rút gọn xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống tư pháp.

Hoạt động của hệ thống tư pháp, cũng giống như hoạt động của bất kỳ một tổ chức nào trong xã hội, đều cần có tính hiệu quả. Tính hiệu quả của pháp luật nói chung và hoạt động của hệ thống tư pháp nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của triết lý kinh tế luật từ những năm 60 của thế kỷ trước[1].

Continue reading

Advertisements

KHẢ NĂNG ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ THU THỦY – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Sự tồn tại của hệ thống tư pháp nói chung và các hình thức tố tụng nói riêng dựa trên cơ sở các nhu cầu của các quan hệ xã hội. Giữa các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự nhằm thiết lập, thay đổi hoặc hủy bỏ các quyền lợi hay nghĩa vụ của mình luôn tồn tại khả năng phát sinh những bất đồng và tranh chấp và tư pháp có nhiệm vụ giải quyết các mâu thuẫn đó. Việc phân định ra các loại thủ tục tố tụng khác nhau là dựa trên bản chất của quan hệ pháp luật cần điều chỉnh. Bản án, quyết định của tòa án về dân sự là căn cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ pháp luật dân sự về tài sản và nhân thân. Vì thế, các thủ tục tố tụng phải được xây dựng một cách logic để đảm bảo rằng quy trình đó sẽ cho ra được những bản án, quyết định hợp pháp và công bằng. Quy trình này bao gồm một chuỗi các hoạt động như thụ lý vụ án, thu thập, xác minh, nghiên cứu chứng cứ, mở phiên tòa sơ thẩm, mở phiên tòa phúc thẩm… Tất cả các hoạt động trên đều nhằm mục tiêu đi tìm sự thật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Với những vụ án dân sự cần giải quyết có đặc điểm là tất cả các chứng cứ chứng minh sự thật đều rõ ràng, sự thật của vụ án dễ dàng được nhận biết hoặc chỉ sau một số hoạt động xác minh đơn giản thì nhu cầu đi tìm sự thật trên không còn đặt ra nữa mà vấn đề duy nhất còn lại là có sự phán xét nhân danh Nhà nước nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên mà thôi. Đó chính là nhu cầu để xây dựng thủ tục rút gọn.

1. Khái niệm thủ tục tố tụng rút gọn

Thủ tục rút gọn, với chức năng là một quy trình tố tụng đảm bảo giải quyết nhanh gọn vụ án dân sự hơn so với quy trình tố tụng thông thường, có những đặc điểm đặc trưng sau:

Continue reading

THỪA PHÁT LẠI – THÔNG TIN PHÁP LÝ ĐẢM BẢO

Thời gian qua, trong thi hành án dân sự, đã có những việc không xác định được hoặc còn hiểu không thống nhất về sự kiện, thời điểm người có nghĩa vụ thi hành nhận hay chưa nhận được bản án, quyết định của Tòa án; có hay không có đơn yêu cầu thi hành án… Civillawinfor trân trọng giới thiệu tham luận này để tìm hiểu thêm một trong các phương thức hạn chế bất cập nêu trên.

BERNARD MENUT – Chủ tịch Hội đồng Thừa phát lại Quốc gia Cộng Hòa Pháp

Phương thức bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện

Trong buổi làm việc hôm nay, trước hết tôi sẽ trình bày với các quý vị các phương thức được áp dụng ở Pháp để bảo đảm an toàn thông tin cho các bên khiếu kiện. Trên thực tế việc bảo đảm an toàn các thông tin là rất cần thiết vì hai lý do: (i) Tôn trọng quyền được bào chữa và (ii) Tôn tọng quyền được bảo đảm an toàn thông tin. Sau đó chúng ta sẽ xem xét đến các trường hợp cụ thể về các phương thức mà chúng tôi sẽ áp dụng ở Pháp để cung cấp thông tin cho các ben đương sự.

Việc cung cấp thông tin cho các bên đương sự do Thừa phát lại đảm nhận. Chúng tôi gọi việc cung cấp thông tin này của Thừa phát lại là việc tống đạt. Đôi khi tống đạt có thể thực hiện bằng thư bảo đảm, nhưng để đạt được hiệu quả, các bên khiếu kiện cần có sự hỗ trợ của Thừa phát lại, vì thư bảo đảm cũng có nhiều bất lợi.

Trước hết, bên bị thi hành án cần phải được thông tin về quyết định của Tòa. Chính vì thế bản án của Tòa phải được trao cho đương sự sớm nhất có thể, đặc biệt trong việc xét xử vắng mặt. Việc tống đạt sớm tạo điều kiện cho người bị thi hành án có thể thực hiện được quyền kháng án của mình. Việc tống đạt nhanh chóng có thể tránh được hiện tượng bên thắng kiện có thể lợi dụng thời gian để cho bên bị thua kiện không đủ thời gian thu thập bằng chứng để kháng án. Tóm lại, người được tống đạt phải được cung cấp thông tin đầy đủ và nhanh chóng.

Continue reading

TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN KHI CÓ THỎA THUẬN THỦ TỤNG THƯƠNG LƯỢNG, HÒA GIẢI BẮT BUỘC TIỀN TỐ TỤNG

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Trưởng Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật TP. HCM

Dẫn nhập

Khi có tranh chấp, các chủ thể được yêu cầu cơ quan tài phán là Tòa án hay Trọng tài giải quyết và quyền này đã được ghi trong văn bản pháp luật Việt Nam. Chẳng hạn, theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS), “trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài”. Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS) cũng theo hướng vừa nêu với nội dung “cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”.

Thừa nhận quyền yêu cầu cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp và thực hiện quyền đó là hai vấn đề khác nhau. Từ lâu đời, ngạn ngữ Việt Nam đã có câu “vô phúc đáo tụng đình” và câu đó cho thấy, người dân không phải lúc nào cũng muốn giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán. Thực tế, các bên tranh chấp thường tìm cách giải quyết bất đồng giữa họ bằng phương thức khác. Từ đó, hình thành khá phổ biến hình thức thỏa thuận, theo đó, các bên thống nhất cần thương lượng, hòa giải trước và chỉ khi nào thỏa thuận này bất thành, các bên mới yêu cầu cơ quan tài phán giải quyết.

Continue reading

CÁC NGHỀ TƯ PHÁP TRONG CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐƯƠNG ĐẠI

GS. JAUFFRET SPINOSI – Đại học Paris II, Cộng hòa Pháp

Trên thế giới, các nghề luật, nghề tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp được tổ chức theo những mô hình rất đa dạng, xuất phát từ những đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ của người dân cũng như hệ thống pháp luật và các nguyên tắc tố tụng của mỗi quốc gia.

Có nhiều hoạt động yêu cầu phải có một đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp vụ. Ví dụ như trong một vụ kiện, đương sự phải có người đại diện trước Tòa, đồng thời quyền lợi của anh ta cũng phải được bảo vệ. Khi đã có bản án thì các quyết định của Tòa án phải được thi hành. Trong một thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải được đảm bảo an toàn cho đến khi Tòa đưa ra quyết định cuối cùng. Còn bên ngoài Tòa án, mọi người vẫn sinh sống, cưới xin, làm giàu và chết đi bình thường. Dấu vết của tất cả các sự kiện này cũng phải được thiết lập vì khi cần thiết, chúng ta phải có những bằng chứng để chứng minh và cần có những bằng chứng xác thực nhất.

Một luật gia duy nhất liệu có thể đảm nhận tất cả các công việc này không? Liệu có nên lập ra nhiều nghề khác nhau để chia xẻ những công việc này không?.

……

TRA CỨU NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY

SOURCE: Tham luận Hội thảo “Vai trò của các nghề bổ trợ tư pháp trong Nhà nước pháp quyền”, Nhà Pháp luật Việt – Pháp. TP. HCM. 1999

CHỈ THỊ SỐ 04/CT-VKSTC NGÀY 22/3/2018 CỦA VKSNDTC VỀ TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ VIỆC DÂN SỰ

Kết quả hình ảnh cho LOGO Vien kiem sat nhan dan toi caoTrong những năm qua, công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ án hành chính, vụ việc dân sự) trong ngành Kiểm sát nhân dân đạt được những kết quả tích cực, đã kịp thời phát hiện nhiều vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự và đã ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm, bảo đảm việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự của Tòa án kịp thời, đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh kết quả đạt được nêu trên, công tác này vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: Một số vi phạm của Tòa án chưa được Viện kiểm sát phát hiện để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; ở một số Viện kiểm sát địa phương, số lượng kháng nghị phúc thẩm có xu hướng giảm và thấp hơn nhiều so với số bản án, quyết định bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy án, sửa án; số lượng kháng nghị giám đốc thẩm cũng giảm; chất lượng kháng nghị của một số Viện kiểm sát chưa đạt yêu cầu; số văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự còn ít; một số Viện kiểm sát trong thời gian dài không phát hiện được vi phạm của Tòa án để kháng nghị.

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự trước hết cần thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tố tụng hành chính năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân 2 cấp địa phương tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:

Continue reading

BÀN VỀ NGHĨA VỤ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG CỦA LUẬT SƯ

THS. HOÀNG THỊ THANH HOA – Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và Luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, Luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh .Với tính chất riêng của mình, nghề Luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.

Nghề Luật sư là một nghề cao quý và Luật sư là những người được xã hội tôn vinh, tin cậy. Thông qua hoạt động của mình, Luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả đó là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh[1].Với tính chất riêng của mình, nghề Luật sư có những quy tắc ứng xử riêng mà một trong số những quy tắc đó là quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”.

Nghĩa vụ bảo mật thông tin của Luật sư được quy định tại Luật Luật sư năm 2012, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của Luật sư Việt Nam (Ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ Ngày 20/7/2001 của Hội đồng Luật sư toàn quốc ). Trong khuôn khổ bài viết tác giả đi sâu phân tích một số vấn đề về nghĩa vụ bảo mật bảo mật thông tin khách hàng của luật sư.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG ÁN LỆ CỦA TÒA ÁN: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

THS.NCS. ĐỖ THANH TRUNG – Giảng viên Đại học Luật TP.HCM

Đặt vấn đề

Đến nay, pháp luật Việt Nam quy định về cơ sở pháp lý cho hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án một cách rõ ràng không chỉ trong Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP mà còn quy định trong các lĩnh vực pháp luật nội dung lẫn pháp luật hình thức (tố tụng). Cụ thể tại khoản 2 Điều 8 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau”. Tại khoản 2 Điều 6 của BLDS năm 2015 cũng quy định: “Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng”. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 45 của BLTTDS năm 2015 quy định: “Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như sau: Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và Khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Dân sự, khoản 1 và khoản 2 điều này”. Nhằm cụ thể khoản 3 Điều 45, BLTTDS năm 2015 còn quy định chi tiết hoạt động áp dụng án lệ của tòa án ở cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại điểm b, khoản 2, Điều 266[1] và khoản 4, Điều 313[2] của Bộ luật này. Ngoài ra, Luật Tố tụng hành chính (TTHC) cũng quy định cơ sở pháp lý cho hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án ở cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại điểm b, khoản 2, Điều 194[3] và khoản 4, Điều 242[4] của Luật TTHC năm 2015. Hoạt động áp dụng án lệ của tòa án cũng còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên vẫn còn nhiều khó khăn đặt ra cần giải quyết. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích những bất cập còn tồn tại trong hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra những kiến nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án.

1. Một số hạn chế, bất cập về hoạt động áp dụng án lệ 

Thứ nhất, pháp luật quy định Tòa án tuân theo án lệ xuất phát từ hiệu lực pháp lý của án lệ[5] sẽ dẫn đến nguy cơ Tòa án dụng án lệ một cách cứng nhắc. Mặc dù Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP cũng dự liệu trường hợp án lệ không còn phù hợp nên cho phép Tòa án có quyền năng bác bỏ án lệ nhưng Tòa án khó có thể thực hiện quyền năng này. Tại khoản 3 Điều 9 Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP quy định cho phép Tòa án không áp dụng án lệ: “Trường hợp Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ và có phân tích, lập luận nêu rõ lý do trong bản án, quyết định thì ngay sau khi tuyên án phải gửi kiến nghị thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao”. Như vậy, nếu không áp dụng án lệ thì Tòa án phải gửi kiến nghị thay thế án lệ đến TANDTC.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: