BẠN SINH RA LÀ MỘT NGUYÊN BẢN, ĐỪNG CHẾT ĐI NHƯ MỘT BẢN SAO. (Khuyết danh)
Advertisements

XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH TỐ TỤNG CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN TỪ ĐỦ 7 TUỎI TRỞ LÊN TRONG VỤ ÁN LY HÔN

 TRẦN THANH BÌNH – TAND huyện Chợ Mới, Tỉnh An Giang

Qua đọc bài nghiên cứu của tác giả Trương Minh Tấn đăng trên Tạp chí TAND điện tử ngày 24 /6 /2020 về “Xem xét nguyện vọng của người con khi cha mẹ ly hôn”, chúng tôi thống nhất với tác giả bài viết về những nguyên nhân, hạn chế và bất cập khi giải quyết vụ án ly hôn phổ biến và rất đặc thù này.

1. Thủ tục tố tụng bắt buộc

Bài viết đưa ra tình huống “việc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên có được xem là thủ tục bắt buộc hay không” và đưa ra hai quan điểm khác nhau và đặt ra vấn đề cần trao đổi ý kiến là “việc xem xét nguyện vọng của con khi Tòa án giải quyết vụ việc ly hôn là điều cần thiết để giải quyết vụ án được toàn diện, hợp tình và hợp lý nhưng việc quy định xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên như tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 là còn bất cập, chưa có quy định hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong thực tế không thống nhất”.

Về vấn đề này, chúng tôi có ý kiến trao đổi như sau: Tại đoạn 2 khoản 3 Điều 208 BLTTDS năm 2015 quy định “Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên …” và khoản 26 Mục IV giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 7/4/2017 “về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ” của TANDTC cũng đã hướng dẫn “… để bảo đảm quyền lợi của người con, Tòa án phải lấy ý kiến của người con, xem xét nguyện vọng của người con từ đủ 07 tuổi trở lên…”.

Continue reading

Advertisements

XEM XÉT NGUYỆN VỌNG CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN

THS. TRƯƠNG MINH TẤN – TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 thì khi giải quyết việc ly hôn giữa vợ với chồng mà còn con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người con là mong muốn sống với cha hay sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy định việc xem xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn lại vướng mắc một số bất cập.

Trong vụ án hôn nhân gia đình thì bên cạnh việc xem xét, giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ (chung hoặc riêng) thì Tòa án còn xem xét, giải quyết vấn đề về nhân thân. Việc xem xét vấn đề nhân thân ở đây không chỉ là mối quan hệ giữa vợ với chồng mà còn xem xét quan hệ giữa cha, mẹ với người con. Thực tế cho thấy, khi Tòa án xem xét, giải quyết vấn đề về nhân thân không phải lúc nào cũng đơn giản mà đòi hỏi người tiến hành tố tụng ngoài việc nắm vững các quy định của pháp luật mà còn phải có thái độ, niềm tin và kinh nghiệm trong việc giải quyết án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 thì khi giải quyết việc ly hôn giữa vợ với chồng mà còn con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người con là mong muốn sống với cha hay sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy định việc xem xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn lại vướng mắc một số bất cập, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về hình thức thể hiện nguyện vọng của con

Pháp luật ghi nhận khi giải quyết việc ly hôn mà có con từ đủ 7 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con, nhưng không có quy định về hình thức lấy lời khai nguyện vọng của con. Do đó, thực tế cho thấy việc lấy lời khai nguyện vọng của con bằng nhiều hình thức khác nhau, dẫn đến không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật của người tiến hành tố tụng.

Continue reading

RÚT KINH NGHIỆM CÁC SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU

 TS. NGUYỄN THÚY HIỀN – Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao

I. Những điểm mới về tài sản, quyền sở hữu và các biện pháp bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Bộ luật dân sự là một trong những đạo luật quan trọng, là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

1. Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật dân sự năm 2015

Việc ban hành Bộ luật lần này là nhằm xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

Bộ luật dân sự là một đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát triển kinh tế – xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật này đã được thực hiện trên cơ sở quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:

Continue reading

KHOẢN NỢ DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC LỰA CHỌN HÌNH THỨC ĐÒI NỢ PHÙ HỢP, HIỆU QUẢ

 THS. LS. NGUYỄN TIẾN MẠNH – Giám đốc Công ty luật Hồng Long, đoàn Luật sư Tp.HCM

Trong quá trình hoạt động, hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp đa phần phải đối diện với các khoản nợ chậm thanh toán của đối tác. Nếu giải quyết không ổn thỏa, sẽ phát sinh tình trạng doanh nghiệp nợ dây dưa, hoặc thực sự mất khả năng thanh toán. Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp mắc nợ và chủ nợ, giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là các bên thiện chí thương lượng giải quyết với nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp không giải quyết được thì chủ nợ có quyền áp dụng biện pháp pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tùy theo điều kiện và khả năng thanh toán của doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ có thể nộp đơn khởi kiện đòi nợ (vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại) theo thủ tục tố tụng dân sự, hoặc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc lựa chọn áp dụng biện pháp nào để đòi nợ một cách hợp pháp và hiệu quả là một vấn đề mà chủ nợ cần phải cân nhắc, lựa chọn cho phù hợp.

Sau đây, chúng tôi xin phân tích một số nội dung về những thuận lợi và hạn chế của từng biện pháp pháp lý để quý doanh nghiệp tham khảo.

1. Về điều kiện áp dụng của từng biện pháp

Continue reading

CÁC QUYỀN THỦ TỤC CÔNG BẰNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

 NGUYỄN VĂN QUÂN & NGUYỄN BÍCH THẢO – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Các quyền thủ tục công bằng trong tố tụng dân sự Hoa Kì

Mặc dù nước Anh là quê hương của học thuyết về trình tự công bằng, học thuyết này lại được tiếp nhận một cách chính thức và phát triển mạnh mẽ trong lí luận và thực tiễn pháp lí ở Hoa Kì, đặc biệt thông qua các án lệ giải thích Hiến pháp của Tòa án tối cao. Hiến pháp Hoa Kì long trọng ghi nhận “due process of law” với tư cách là một nguyên tắc cốt lõi. Tu chính án thứ 5 của Hiến pháp Hoa Kì tuyên bố: “Không ai bị… tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”1. Tu chính án thứ 14 một lần nữa khẳng định: “không bang nào tước bỏ tính mạng, tự do và tài sản của bất kì ai mà không dựa trên trình tự pháp luật công bằng”2.

Hiện nay, các học giả trên thế giới đều thống nhất rằng trình tự pháp luật công bằng bao gồm hai khía cạnh: trình tự công bằng thủ tục (procedural due process) và trình tự công bằng nội dung (substantive due process). Các quyền về thủ tục là những yếu tố cấu thành nên quan niệm về trình tự công bằng thủ tục. Hai yếu tố cốt lõi của trình tự công bằng thủ tục trong tố tụng dân sự là chủ thể có quyền được thông báo và quyền được lắng nghe bởi một tòa án vô tư, không thiên vị trước khi chủ thể đó bị tước đoạt tự do hoặc tài sản.

Continue reading

QUY CHẾ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN CÔNG TỐ TẠI CỘNG HÒA PHÁP

Li m đầu

Tại Pháp, các công tố viên (còn được gọi là thẩm phán công tố, thẩm phán đứng) cùng thuộc ngạch “thẩm phán” như các thẩm phán xét xử (thẩm phán ngồi), có cùng quá trình phát triển chức nghiệp, cùng mức tiền lương và có khả năng chuyển từ thẩm phán trở thành công tố viên và ngược lại nhiều lần trong sự nghiệp.

Trong khi Pháp công nhận nguyên tắc độc lập của thẩm phán, như sự thể hiện thể chế của nguyên tắc tam quyền phân lập nhưng sự độc lập này chỉ được đảm bảo cho các thẩm phán xét xử chứ không phải cho các công tố viên. François Hollande, Tổng thống mới đắc cử của Cộng hòa Pháp, đã cam kết từ nay thủ tục bổ nhiệm công tố viên cũng giống như thủ tục bổ nhiệm thẩm phán, điều này góp phần tăng cường sự độc lập của Viện Công tố so với quyền lực chính trị mà vẫn duy trì mối liên hệ thứ bậc giữa Viện Công tố và Bộ Tư pháp.

Phn 1. Quy chế ca các thm phán thuc ngch tư pháp

Thẩm phán thuộc ngạch tư pháp gồm hai loại:các thẩm phán xét xử và các thẩm phán công tố, có quy chế thẩm phán ngạch tư pháp khác nhau.

Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI BỞI COVID-19

LS. HOÀNG THỊ HOÀI THULS. HỒ THỊ TRÂMChuyên gia LƯƠNG VĂN LÝ – CÔNG TY TNHH LUẬT GLOBAL VIỆT NAM LAWYERS

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại khi hòa cảnh thay đổi bởi Covid-19

Tình hình dịch bệnh do Covid-19 gây ra ngày càng diễn biến phức tạp. Tính đến ngày 05/4/2020, tổng số ca nhiễm Covid-19 trên toàn thế giới đã lên tới 1.199.583 người, với 64.662 ca tử vong.

Khi hoàn cảnh thay đổi và khó khăn phải gánh chịu

Dịch bệnh đã kéo theo hậu quả là kinh tế hầu hết các nước đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), các chuyên gia thậm chí còn cảnh báo chủng virus corona mới có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại khoảng 1.000 tỷ USD trong năm nay.

Trước bối cảnh nêu trên, các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng không tránh khỏi những thiệt hại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc duy trì hoạt động bình thường là không thể, dẫn đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên theo những hợp đồng đã giao kết cũng bị ảnh hưởng.

Để hạn chế phần nào khó khăn, hẳn nhiên, bên bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi tình hình dịch bệnh luôn mong muốn điều chỉnh hoặc chấm dứt hợp đồng đã giao kết.

Câu chuyện sẽ thuận lợi nếu bên còn lại “cảm thông” và thiện chí chịu cùng nhau ngồi lại, cùng nhau cân nhắc nhằm đạt được sự đồng thuận trong việc điều chỉnh hay thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, nếu bên còn lại không đồng ý chia sẻ khó khăn, sự bất đồng quan điểm sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các bên.

Continue reading

GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU

 CHU XUÂN MINH – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Bài nghiên cứu này bàn về việc xác định vụ việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, phân biệt loại vụ việc này với yêu cầu tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu; bàn về một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử về tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; và cả về một lĩnh vực tranh chấp gần gũi là yêu cầu hủy chứng thực trái pháp luật.

Giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu bao gồm cả giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) và giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại khoản 6 Điều 27 BLTTDS. Đây là những loại vụ việc dân sự mới nên nhận thức và áp dụng pháp luật còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Chỉ riêng việc xác định thế nào là “văn bản công chứng” cũng đã khác nhau. Một số trường hợp sau khi kiện về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không được chấp nhận (bị bác yêu cầu) lại chuyển sang kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và vẫn được Tòa án thụ lý giải quyết. Cùng là vụ án có yêu cầu tuyên bố một hợp đồng đã được công chứng vô hiệu, có Tòa án xác định tổ chức hành nghề công chứng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có Tòa án chỉ xác định công chứng viên là nhân chứng, có trường hợp không đưa tổ chức hành nghề công chứng vào tham gia tố tụng.

Continue reading

QUYỀN KHỞI KIỆN CỦA CỔ ĐÔNG HOẶC CÔNG TY ĐỐI VỚI NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

LS. NGUYỄN DUY ANH – Công ty Luật Trí Minh

1. Đặt vấn đề

Kể từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã khai sinh ra loại hình công ty cổ phần, một pháp nhân hoàn toàn xa lạ với thương nhân Việt Nam, vốn quen với loại hình hộ gia đình. Vốn công ty cổ phần vốn được chia thành các phần bằng nhau, và việc huy động vốn là không giới hạn. Trong đó những quyền hạn của các cổ đông với mức sở hữu cổ phần khác nhau là khác nhau, đương nhiên là cổ đông lớn có nhiều đặc quyền hơn cổ đông nhỏ. Để bảo vê cổ đông thì Luật Doanh nghiệp quy định nhiều thể chế, trong đó có thể chế khởi kiện người quản lý công ty của cổ đông. Bài luận này tập trung trả lời các câu hỏi chính sách khởi kiện người quản lý quy định trong luật có thực thi được không? Các kiến nghị và giải pháp để quyền khởi kiện người quản lý được thực thi hiệu quả hơn.

2. Nội dung

2.1. Quyền khởi kiện quản lý công ty của cổ đông

Điều 161 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN) quy định về khởi kiện người quản lý trong công ty cổ phần như sau:

“1. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm nghĩa vụ người quản lý công ty theo quy định tại Điều 160 của Luật này;

b) Không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời nghị quyết của Hội đồng quản trị;

Continue reading

HỌC LUẬT ĐỂ BIẾT LUẬT, HIỂU LUẬT, VẬN DỤNG LUẬT VÀ HOÀN THIỆN LUẬT
%d bloggers like this: