QUY ĐỊNH XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 120/QĐ-TANDTC NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TOÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.

2. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và người giữ chức danh tư pháp trong các Tòa án quân sự.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án (sau đây gọi là người giữ chức danh tư pháp).

2. Người đứng đầu là người giữ chức vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân bao gồm: Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện.

3. Bản án, quyết định do Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán là những bản án, quyết định bị hủy, sửa nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do phát sinh tình tiết mới của vụ, việc mà quá trình giải quyết, xét xử Thẩm phán không thể biết;

Continue reading

Advertisements

NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. MAI BỘ – Phó Chánh án Tòa án quân sự trung ương

1. Một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong tố tụng dân sự

Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Còn tranh luận được hiểu là: “bàn cãi tìm ra lẽ phải”[1]; là một phần tố tụng của phiên tòa, được tiến hành sau khi kết thúc phần xét hỏi.[2] Tương ứng với các loại tố tụng có tranh tụng trong tố tụng hình sự, tranh tụng trong tố tụng hành chính và tranh tụng trong tố tụng dân sự. Tương ứng với các loại phiên tòa có tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm. Như vậy, tranh tụng trong tố tụng dân sự là một loại tranh tụng trong tố tụng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giả quyết vụ án dân sự. Vì tố tụng dân sự là quá trình giải quyết vụ án dân sự cho nên tranh tụng trong tố tụng dân sự là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có thời điểm bắt và thời điểm kết thúc. Theo đó, có thể hiểu giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.

– Theo nghĩa rộng, giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự bắt đầu từ khi có tranh chấp dân sự và đương sự thể hiện nhu cầu giải quyết tranh chấp đó, kết thúc khi giải quyết xong tranh chấp dân sự bao gồm cả giai đoạn thi hành án dân sự. Nếu có tranh chấp dân sự nhưng đương sự không muốn giải quyết tranh chấp thì không xuất hiện nhu cầu tranh tụng để giải quyết tranh chấp. Việc đương sự là người thắng kiện trong vụ việc dân sự từ chối (không làm đơn) yêu cầu thi hành án dân sự trong thời hạn do pháp luật quy định có thể được hiểu là nội dung quyền tự định đoạt của đương sự và thể hiện quan điểm tranh tụng của đương sự. Bởi lẽ, trong thực tiễn có vụ tranh chấp dân sự, đương sự chỉ cần Tòa án ra phán quyết là mình thắng kiện mà không cần buộc bên thua kiện thi hành quyết định của Tòa án. Mặt khác, hiểu giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự theo nghĩa rộng có ý nghĩa rất lớn đối với việc Tòa án ghi nhận và cho thi hành kết quả hòa giải thành những tranh chấp dân sự trong nhân dân do Ban tư pháp và các đoàn thể chính trị cấp xã thực hiện. Việc giải quyết tranh chấp dân sự theo cơ chế pháp lý này sẽ hạn chế được rất nhiều vụ kiện dân sự mà Tòa án phải giải quyết, xét xử và đương nhiên sẽ giảm chi phí xã hội rất lớn cho việc giải quyết tranh chấp dân sự.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH QUAN HỆ TRANH CHẤP

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trong tố tụng dân sự, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, cần phải dựa vào yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia. Trên thực tế, do quan hệ pháp luật đa dạng, tồn tại đan xen nhau nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dựa vào yêu cầu của người khởi kiện không hề dễ dàng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin nêu lên vướng mắc trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sau khi hợp đồng chấm dứt qua một số trường hợp cụ thể.

Bên cạnh hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự, tùy từng lĩnh vực, các luật chuyên ngành còn quy định hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể như: hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động, hợp đồng kinh doanh thương mại trong Luật Thương mại… Theo Điều 281 Bộ luật dân sự, một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp đồng dân sự; vì vậy, khi hợp đồng dân sự  kết thúc thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận khi chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành không quy định cụ thể việc các bên trong hợp đồng phải tuân thủ nghĩa vụ sau khi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng như trong Bộ luật dân sự. Cho nên, sau khi các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, một trong các bên khởi kiện yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chúng tôi đơn cử 02 trường hợp cụ thể sau:

Trường hợp thứ nhất: Nhân viên Công ty Cổ phần dược phẩm P (Công ty P) có thỏa thuận miệng với ông N.V.T (chủ Nhà thuốc D.T, có đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể) là Công ty P sẽ bán thuốc tân dược cho Nhà thuốc D.T theo yêu cầu của ông T. Phương thức giao nhận thuốc và thanh toán tiền theo từng đợt. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2008 đến ngày 14/7/2012, ông T đã nhận thuốc của Công ty P nhiều đợt và nợ lại một số tiền. Sau đó, ông T ngưng mua thuốc của Công ty P. Theo biên bản làm việc ngày 14/8/2012 giữa ông T với đại diện Công ty P, ông T thừa nhận còn nợ lại Công ty số tiền mua thuốc 100 triệu đồng và 02 bên thỏa thuận ông T sẽ trả cho Công ty P mỗi tháng 10 triệu đồng cho đến khi dứt nợ. Sau đó, vào ngày 26/8/2012, ông T đã trả được 10.000.000 đồng và ngưng không thanh toán tiếp mặc dù Công ty đã nhiều lần yêu cầu. Vì vậy, Công ty P khởi kiện yêu cầu ông T phải cho Công ty P số nợ còn lại là 90 triệu đồng.

Continue reading

TÒA ÁN ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN CÓ PHÙ HỢP QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT?

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân Thị xã Châu Đốc, An Giang

Ông N.V.T. và bà L.T.C đang xây nhà tại số 10, đường Nguyễn Hữu Cảnh, khóm A, phường L, thị xã T, tỉnh B (theo Giấy phép xây dựng số 322/2012/GPXD ngày 30/7/2012 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp) nhưng bị phần mái hiên, máng xối, rèm cửa của nhà ông T.H.A tại số 12, đường Nguyễn Hữu Cảnh (cạnh nhà ông T., bà C.) lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C. nên ảnh hưởng đến việc xây nhà của ông T., bà C. Mặc dù, đã được ông T., bà C. yêu cầu khắc phục nhiều lần nhưng ông A. không thực hiện. Phần đất mà ông T., bà C. được cấp phép xây dựng đã được Ủy ban nhân dân thị xã T. cấp quyền sử dụng cho ông T., bà C. vào năm 2006. Do đó, vào ngày 10/11/2012, ông T., bà C. khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T buộc ông A phải cắt bớt phần máng xối, mái hiên, rèm cửa lấn sang phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T., bà C.

Ông A. không chấp nhận yêu cầu của ông T., bà C. vì cho rằng giữa nhà của ông T., bà C. với nhà ông A có 01 con hẻm sử dụng chung với chiều ngang 0,6m, chiều dài chạy dọc theo phần đất thuộc quyền sử dụng của 02 nhà (mỗi nhà sử dụng chiều ngang 0,3m). Khi ông T., bà C. làm thủ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 đã xin cấp quyền sử dụng đối với phần con hẻm chung này. Nhà của ông A đã cất trước thời điểm ông T., bà C. được cấp quyền sử dụng và khi ông T., bà C. làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất ông A. không biết, không ký tứ cận cho ông T., bà C. cho nên ông A. không chấp nhận yêu cầu kiện của ông T., bà C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do ông A. yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông T., bà C. vào năm 2006 nên Tòa án đã ra Thông báo yêu cầu Ủy ban nhân dân thị xã T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, do đã thuê nhân công và không thể chờ Tòa án giải quyết nên ông T., bà C. đã xây dựng hoàn thành căn nhà của mình. Sau khi xây dựng nhà xong, ông T., bà C. đến Tòa án rút lại đơn khởi kiện vì ông A. không còn cản trở việc ông T., bà C. xây dựng nhà.

Do ông A không có yêu cầu phản tố nên Tòa án đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 193, Điều 194 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà không đề cập gì đến yêu cầu của ông A. đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T., bà C.

Continue reading

BÀN VỀ ĐIỀU 92 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

PHAN THANH TÙNG – Tòa án nhân dân tỉnh khánh Hòa

Nghiên cứu Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011), chúng tôi nhận thấy một số điểm mới được nhà làm luật sửa đổi, bổ sung vào Điều 92 cũng như một số vấn đề còn vướng mắc cần trao đổi, giải quyết như sau:

A. Về một số điểm mới đã được sửa đổi, bổ sung:

Thứ nhất: Bổ sung vào khoản 1 Điều 92 nội dung “Các bên có quyền tự thoả thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản”. Một trong những nguyên tắc tôn trọng tự định đoạt của các đương sự mà Bộ luật tố tụng dân sự đã ghi nhận tại Điều 5 [1], đã được nhà làm luật bổ sung vào khoản 1 của Điều 92 của BLTTDS. Theo đó, khi có tranh chấp về giá trị tài sản, nếu các bên tự quyết định về giá trị khối tài sản đang tranh chấp hoặc thuê tổ chức dịch vụ có chức năng thẩm định giá tài sản, để thẩm định giá tài sản, thì Tòa án tôn trọng sự quyết định của các đương sự trong việc định giá tài sản.

Thứ hai: Trước đây luật không quy định Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, nên việc sửa đổi, bổ sung lần này, nhà làm luật đã quy định cụ thể Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, điều này là hoàn toàn phù hợp với cả lý luận và thực tiễn trong việc định giá tài sản. Thực tế trước đây, mặc dù pháp luật không ghi cụ thể Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là thuộc cơ quan nào, song trong thực tế các Tòa án khi ban hành quyết định định giá tài sản đều ghi Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là đại diện của cơ quan tài chính [2].

Thứ ba: Để bảo đảm sự vô tư, khách quan của các thành viên trong quá trình định giá tài sản, nhà làm luật đã bổ sung các trường hợp thành viên Hội đồng định giá tài sản phải từ chối tham gia thành viên Hội đồng định giá nếu họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó và trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 [3] Bộ luật TTDS, mà trước đây chưa quy định.

Thứ tư: Bổ sung vấn đề chế tài đối với “Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá; người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật”. Việc quy định này là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo sự phối hợp và tôn trọng Tòa án trong việc giải quyết nhanh vụ án, tránh trường hợp các cơ quan này từ chối cử người tham gia Hội đồng định giá tài sản cũng như cá nhân người được cử làm thành viên Hội đồng định giá tài sản nhưng không tham gia, gây khó khăn, tốn kém tiền bạc cũng như thời gian của các đương sự và Tòa án mà trước đây không có bất cứ một chế tài nào đối với cơ quan, cá nhân đó [4].

Continue reading

MỘT VÀI TRAO ĐỔI XUNG QUANH BÀI VIẾT “TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG”

CHU HIỀN – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong bài viết “Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên có được phát biểu quan điểm giải quyết về nội dung vụ án hay không?”, tác giả Vũ Thắng có nêu hai quan điểm về giới hạn nội dung phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm. Do không quy định rõ như ở giai đoạn sơ thẩm là kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên tại phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án, tức là phát biểu cả về phần nội dung vụ án.

Tại bài viết của mình, tác giả Vũ Thắng đồng tình với quan điểm thứ nhất,  với lập luận: Mặc dù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự mà thôi.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, quan điểm thứ hai là có cơ sở. Nghĩa là, tại phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án, tức là phát biểu cả về phần nội dung vụ án, với những lý do sau:

Continue reading

TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

VŨ THẮNG – Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012.Kể từ khi có hiệu lực pháp luật, thực tế việc xét xử các loại vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự ở cấp phúc thẩmnảy sinh nhiều quan điểm chưa thống nhất liên quan đến giới hạn phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, khoản 1 Điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm2011 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án”. Như vậy nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên chỉ tập trung vào việc tuân theo pháp luậttố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2011 quy định việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm như sau:“Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm”.

Với quy định như vậy, nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm chưa rõ ràng, cụ thểnhư tại phiên toà sơ thẩm. Điều này dẫn đến các quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuântheo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tác giả bài viết này đồng ý với quan điểm này, bởi lẽ: Mặcdù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Kiểm sát viênphát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạnphúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tốtụng dân sự năm 2011 thì: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM CÓ ĐƯỢC GHI VÀO TRONG BẢN ÁN KHÔNG?

PHAN VŨ LINH – Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ

Tại khoản 2 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người  có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát mà cụ thể là của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm được thể hiện tại bài phát biểu sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong. Nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên phải tập trung vào việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án (Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự).

Như vậy, pháp luật đã xác định rất rõ ràng nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm. Nếu như Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử vi phạm tố tụng, chẳng hạn còn thiếu người tham gia tố tụng, cần xác minh thu thập thêm chứng cứ,v.v…thì có quyền đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục những thiếu sót đó. Ví dụ: Ngày 01 tháng 01 năm 2008, ông A cho ông B vay số tiền là 100.000.000đ với lãi suất là 1%/tháng để kinh doanh với thời hạn vay là một năm. Đến thời hạn trả nợ, ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên vào năm 2010, ông A khởi kiện ông B đòi số tiền nợ gốc và lãi trên. Sau khi hoà giải không thành, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên toà cho rằng Hội đồng xét xử cần phải đưa vợ của ông B là bà C vào tham gia tố tụng mới đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự và đúng quy định pháp luật. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để khắc phục thiếu sót này.

Vấn đề đặt ra là ý kiến phát biểu trên của Kiểm sát viên có được ghi nhận vào trong bản án hay không? Đối với vấn đề này trên hiện nay có hai luồng ý kiến khác nhau và có cách làm chưa thống nhất.

Continue reading

%d bloggers like this: