QUY CHẾ TỔ CHỨC PHIÊN TÒA–BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 02/2017/TT-TANDTC NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Quy chế tổ chức phiên tòa này quy định về nguyên tắc tổ chức phiên tòa, nội quy phòng xử án, việc bảo vệ phiên tòa và thực hiện các quyết định của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.

2. Quy chế tổ chức phiên tòa này được áp dụng đối với các phiên tòa, phiên họp trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, phá sản; xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức phiên tòa

1. Phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm và thành phần những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp hoãn phiên tòa thì thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa phải ghi rõ trong giấy báo mở lại phiên tòa.

2. Phiên tòa được tổ chức công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự, bị cáo thì Tòa án có thể xét xử kín.

3. Việc tổ chức phiên tòa phải bảo đảm các yêu cầu về an ninh, trật tự, sự tôn nghiêm của Tòa án; bảo đảm cho việc xét xử được tiến hành bình đẳng, dân chủ, nghiêm minh, khách quan, đúng pháp luật; góp phần tuyên truyền, giáo dục công dân chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của đời sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Continue reading

Advertisements

QUY ĐỊNH XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 120/QĐ-TANDTC NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TOÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.

2. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và người giữ chức danh tư pháp trong các Tòa án quân sự.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án (sau đây gọi là người giữ chức danh tư pháp).

2. Người đứng đầu là người giữ chức vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân bao gồm: Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện.

3. Bản án, quyết định do Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán là những bản án, quyết định bị hủy, sửa nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do phát sinh tình tiết mới của vụ, việc mà quá trình giải quyết, xét xử Thẩm phán không thể biết;

Continue reading

VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

TS. NGÔ QUỐC CHIẾN & ĐỖ VIẾT ANH THÁI

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên thống nhất trao cho một hoặc một số trọng tài viên giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của mình. Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên trao cho các nước thành viên quy định thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định/phán quyết trọng tài ở nước mình. Một nghiên cứu cho thấy “các quốc gia thành viên quy định rất khác nhau về thủ tục thi hành một quyết định trọng tài thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Sự thống nhất về vấn đề này dường như chỉ là mong muốn chứ không khả thi”[1].

Tại Việt Nam, tỷ lệ các phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành trong thời gian vừa qua là rất thấp[2] do các bất cập trong các quy định của BLTTDS 2004. Nếu so với các nước là thành viên của công ước thì tỷ lệ không công nhận ở Việt Nam là cao một cách bất thường[3]. Để khắc phục tình trạng này, BLTTDS 2015[4] đã có những thay đổi quan trọng theo hướng tạo thuận lợi hơn cho việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều quy định trong BLTTDS đã gần gũi hơn với Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng Bộ luật vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những điểm bất cập của liên quan đến các quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT SỐ 04/2017/NQ-HĐTP NGÀY 05 THÁNG 5 NĂM 2017 HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 1 VÀ KHOẢN 3 ĐIỀU 192 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ SỐ 92/2015/QH13 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN, QUYỀN NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN LẠI VỤ ÁN

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Để áp dụng đúng và thống nhất một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn một số quy định về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Điều 2. Về người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015

Hand writing Procedure list  HỒ NGUYỄN QUÂN

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang có những bước tiến vượt bậc. Đời sống Nhân dân ngày được nâng cao, các quan hệ kinh tế – quốc tế phát triển mạnh mẽ, giao lưu kinh tế, dân sự, thương mại… ngày một gia tăng. Theo quy luật chung, quan hệ xã hội nhiều sẽ dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều. Hàng năm, ngành Toà án nhân dân đã thụ lý giải quyết một khối lượng rất lớn các vụ án tranh chấp liên quan đến dân sự, kinh tế, thương mại… Điều này đã tạo ra một áp lực lớn về công việc cho ngành.

Trong số các vụ án được Toà án nhân dân các cấp thụ lý, giải quyết hàng năm có không ít vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn không phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc các tranh chấp về tài sản có giá ngạch thấp. Tuy nhiên, những vụ việc này vẫn phải tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng thông thường. Hệ quả là thời gian giải quyết vụ kiện sẽ bị kéo dài hoặc phải trải qua nhiều cấp xét xử một cách không cần thiết gây mất thời gian, tổn phí cho các đương sự và Nhà nước.
Nhận thức được thực trạng này, thể chế hóa đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013. Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã dành hai chương quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại vụ án khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Đây là một chế định hoàn toàn mới.
I. KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN
1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.1. Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Continue reading

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Hình ảnh có liên quan   NGUYỄN GIA NAM

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu giao lưu thương mại quốc tế được mở rộng, song song cũng xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển có yếu tố nước ngoài. Trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp được Tòa án Việt Nam thụ lý gia tăng cả về số lượng và ngày càng có tính chất phức tạp.

Quy định chung

Liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, pháp luật quy định: “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam” thì sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác. Như vậy, với quy định này, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển mà một bên có trụ sở hoặc chi nhánh tại VN thì chỉ có Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết. Hệ quả pháp lý có thể phát sinh là:

– Các bên trong hợp đồng không được quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài giải quyết.
– Trong trường hợp, vụ việc được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài quốc gia khác thì bản án, quyết định đó không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Đây là quy định được một số nước trên thế giới áp dụng để xác định thẩm quyền riêng biệt của Tòa án quốc gia mình. Ví dụ theo khoản 1 Điều 403 Bộ luật tố tụng dân sự Liên bang Nga thì “Những vụ việc sau đây thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Liên bang Nga: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, nếu người vận chuyển có địa chỉ trên lãnh thổ Liên bang Nga”.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH QUAN HỆ TRANH CHẤP

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trong tố tụng dân sự, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, cần phải dựa vào yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia. Trên thực tế, do quan hệ pháp luật đa dạng, tồn tại đan xen nhau nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dựa vào yêu cầu của người khởi kiện không hề dễ dàng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin nêu lên vướng mắc trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ sau khi hợp đồng chấm dứt qua một số trường hợp cụ thể.

Bên cạnh hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự, tùy từng lĩnh vực, các luật chuyên ngành còn quy định hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể như: hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động, hợp đồng kinh doanh thương mại trong Luật Thương mại… Theo Điều 281 Bộ luật dân sự, một trong những căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp đồng dân sự; vì vậy, khi hợp đồng dân sự  kết thúc thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận khi chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành không quy định cụ thể việc các bên trong hợp đồng phải tuân thủ nghĩa vụ sau khi thỏa thuận chấm dứt hợp đồng như trong Bộ luật dân sự. Cho nên, sau khi các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, một trong các bên khởi kiện yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chúng tôi đơn cử 02 trường hợp cụ thể sau:

Trường hợp thứ nhất: Nhân viên Công ty Cổ phần dược phẩm P (Công ty P) có thỏa thuận miệng với ông N.V.T (chủ Nhà thuốc D.T, có đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể) là Công ty P sẽ bán thuốc tân dược cho Nhà thuốc D.T theo yêu cầu của ông T. Phương thức giao nhận thuốc và thanh toán tiền theo từng đợt. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2008 đến ngày 14/7/2012, ông T đã nhận thuốc của Công ty P nhiều đợt và nợ lại một số tiền. Sau đó, ông T ngưng mua thuốc của Công ty P. Theo biên bản làm việc ngày 14/8/2012 giữa ông T với đại diện Công ty P, ông T thừa nhận còn nợ lại Công ty số tiền mua thuốc 100 triệu đồng và 02 bên thỏa thuận ông T sẽ trả cho Công ty P mỗi tháng 10 triệu đồng cho đến khi dứt nợ. Sau đó, vào ngày 26/8/2012, ông T đã trả được 10.000.000 đồng và ngưng không thanh toán tiếp mặc dù Công ty đã nhiều lần yêu cầu. Vì vậy, Công ty P khởi kiện yêu cầu ông T phải cho Công ty P số nợ còn lại là 90 triệu đồng.

Continue reading

TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

THS. THÁI CHÍ BÌNH – Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang

Để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh thương mại nói riêng, Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện để xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) để xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự.

Tuy nhiên, thực tiễn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại không hề dễ dàng bởi các lý do sau: (1) Tùy từng thời kỳ phát triển khác nhau mà cơ quan lập pháp quy định một số quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bằng quy phạm kinh doanh thương mại; một số quan hệ xã hội khác thì chưa nên không phải cứ có tranh chấp sẽ dễ dàng xác định được quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại; (2) Cùng một quan hệ xã hội nhưng lại thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Mặc dù, mỗi ngành luật đều có những quy định để phân biệt quan hệ pháp luật nào thuộc ngành luật nào điều chỉnh như về chủ thể tham gia quan hệ, mục đích chủ thể, đối tượng của giao dịch… nhưng việc phân biệt cũng không hề dễ dàng; (3) Một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về kinh doanh thương mại có quy định phạm vi các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh nhưng lại quy định một cách chung chung, mang tính mở nên khi có tranh chấp xảy ra để xác định chúng có thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật này hay không cũng gây ra những khó khăn, vướng mắc nhất định; (4) Một số trường hợp do văn bản quy phạm pháp luật nội dung về kinh doanh thương mại không xác định rõ giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của mình nên để xác định cần dựa vào luật tố tụng (BLTTDS). Bên cạnh việc quy định thẩm quyền theo vụ việc, BLTTDS còn quy định thẩm quyền theo lãnh thổ để phân chia việc giải quyết án giữa Tòa án các cấp, giữa các Tòa chuyên trách với nhau được tương xướng nhưng trong nội dung hướng dẫn thẩm quyền theo lãnh thổ lại giải thích thêm thẩm quyền theo vụ việc.

Để xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, Tòa án phải xác định cho được yêu cầu của đương sự thuộc nhóm quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại trong quan hệ tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng) để từ đó có sự phân định thẩm quyền giữa Tòa án với cơ quan tài phán khác (Trọng tài), với cơ quan hành chính (Ủy ban nhân dân) hay giữa các Tòa án với nhau. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ làm rõ một số vấn đề có liên quan đến quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp kinh doanh thương mại và thẩm quyền của Tòa án đối với loại tranh chấp này, nêu lên một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện.

Continue reading

%d bloggers like this: