Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

MÔT SỐ BÂT CẬP TRONG THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG – Tòa kinh tế, TAND TP.HCM

Việc xem xét, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước ngoài tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam và quốc gia khác là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại giữa Việt nam với các quốc gia khác là một trong những hoạt động tư pháp thể hiện thiện chí của Nhà nước Việt Nam trong xu thế hội nhập với thế giới.

Pháp luật của Việt Nam quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được quy định tại chương XXXV của Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 (BLTTDS 2015), có hiệu lực ngày 01/7/2016. Trong phạm vi bài viết này, người viết muốn đề cập đến các nội dung: Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; thực tế giải quyết các yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và một số đề xuất kiến nghị, đề xuất.

I. Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài

1.1 Các loại quyết định của Tòa án nước ngoài được xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

– Bản án, quyết định của Toà án nước ngoài

Theo điểm a và b khoản 1 Điều 423 BLTTDS 2015 thì các bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài gồm :“Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” hay “quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài”.

Continue reading

Advertisements

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN BẤT ĐỘNG SẢN

 ĐỖ KHẮC TUẤN – Tòa án nhân dân TP.HCM

Bất động sản là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai hoặc các tài sản khác do pháp luật quy định.

Do tính chất đặc thù của bất động sản là vật luôn cố định tại một vị trí địa lý nhất định cho nên để thuận tiện cho việc giải quyết tranh chấp về bất động sản, pháp luật đã quy định tranh chấp về bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết[1]. Do đó, khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến bất động sản, Tòa án cần phải phân biệt được tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản với tranh chấp về các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan đến bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo các tiêu chí khác của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015( Bộ luật TTDS 2015)[2].

1. Tiêu chí xác định một tranh chấp liên quan đến bất động sản là tranh chấp về bất động sản

Tranh chấp về bất động sản là tranh chấp về quyền của các bên đối với bất động sản như: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với bất động sản, có thể đơn cử một số tranh chấp về bất động sản như: Tranh chấp về quyền sử dụng đất; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt nhà ở, công trình xây dựng trên đất…

Continue reading

ÁN LỆ VỚI NGUYÊN TẮC CÔNG LÝ KHÔNG THỂ BỊ CHỐI TỪ, TRÌ HOÃN

LS. LÊ ĐỨC TIẾT

Các nước khác nhau thì có nền văn hóa pháp lý khác nhau và đều có nét tương đồng. Nhưng nhìn chung có hai dạng: nền pháp luật theo án lệ và nền pháp luật thành văn.

Trải qua nhiều cuộc hội thảo, chế định về án lệ nay đã được chấp nhận trong hoạt động xét xử của Việt Nam. Tại điểm c, khoản 2, Điều 22 của Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014 quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Cho đến nay, chế định án lệ vẫn chưa được áp dụng nhiều vào hoạt động thực tiễn. Ngày 28/10/2015, Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao về Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ đã được công bố và đã có một số án lệ được đưa ra. Tuy vậy vẫn còn nhiều vấn đề thuộc quan điểm, tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận, cách làm… đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn để khi áp dụng có thể phát huy được tối đa tác dụng tích cực, đồng thời ngăn ngừa được những khiếm khuyết của việc vận dụng án lệ phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ công bằng, công lý xã hội.

Về nguồn gốc ra đời của án lệ

Trước khi trở thành những điều luật bắt buộc phải tuân theo, pháp luật bất thành văn hay pháp luật thành văn đã manh nha và tồn tại từ lâu trong xã hội, dưới dạng những quy tắc xử sự nhất định. Những điều luật cấm như: “không săn bắt chim cá, muông thú trong thời kỳ chúng sinh đẻ; cấm hôn nhân cận huyết…” là kết quả của sự trải nghiệm nhiều ngàn năm của nhiều thế hệ con người mới có. Các học giả thời La Mã (thế kỷ thứ VII trước Công nguyên) đã khẳng định rằng nội dung các quy phạm pháp luật La Mã là những điều kiện vật chất của đời sống xã hội La Mã tạo nên. Làm luật không phải là sáng tác ra luật theo đúng nghĩa đen của từ này. Làm luật là nghiên cứu, tìm tòi để phát hiện ra những quy tắc giao tiếp, xử sự tiến bộ đã hình thành trong xã hội rồi biến chúng thành điều luật làm chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người. Theo ý nghĩa đó, hoàn thiện pháp luật là một quá trình không ngừng và dài lâu. Nó gắn liền với sự hưng thịnh của xã hội, với nền văn minh của đất nước. Công lao to lớn của nhà làm luật gói gọn ở chỗ họ đã tìm ra được những quy tắc xử sự tiến bộ của xã hội, phù hợp với quy luật khách quan rồi xây dựng chúng thành những điều luật, bộ luật, làm bà đỡ mát tay cho xã hội văn minh tiến bộ mới ra đời. Vì lẽ đó, sống có pháp luật trở thành một đòi hỏi bức thiết của xã hội loài người. Để mọi người có thể hành động theo pháp luật thì trước hết phải có pháp luật để tuân theo. Sống có pháp luật và hành động theo pháp luật là hai đòi hỏi của xã hội văn minh. Không thể có cái này mà không có cái kia. Hai đòi hỏi đó luôn phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề phát triển cho nhau. Con người ngày càng tiến bộ, văn minh hơn là do đã từ bỏ dần cuộc sống không có quy tắc xử sự, hoặc theo quy tắc xử sự lạc hậu, lỗi thời, hoặc tệ hơn cả là hành động theo “luật rừng”.

Continue reading

KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG ÁN LỆ

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆNĐại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

1. Khái niệm và tính chất của án lệ

Ở các nước tiên tiến, án lệ được coi là một loại chuẩn mực đặc thù hình thành từ sự lặp đi lặp lại một giải pháp cho một vấn đề giống nhau được đặt ra trong nhiều bản án khác nhau. Sự lặp đi lặp lại ấy thể hiện sự trùng hợp trong suy nghĩ của các quan toà về cách hiểu và áp dụng luật trong những trường hợp tương tự[1].

Các nước theo luật thành văn, như Pháp, không coi án lệ là luật, mà chỉ là cách áp dụng luật của thẩm phán và có thể được các thẩm phán khác tham khảo khi xét xử vụ án có nội dung, tính chất tình tiết tương tự[2]. Người dân cũng có thể dựa vào án lệ để chấn chỉnh hành vi của mình trong giao tiếp, nhằm tránh rơi vào thế bất lợi trong trường hợp có tranh chấp. Án lệ không được đảm bảo thực hiện bằng chế tài của nhà chức trách, như luật. Thẩm phán cũng không bị buộc phải xử theo một tiền lệ nào đó, dù tiền lệ đó đã được nhất trí chấp nhận trong giới quan toà. Vả lại, dù không có quy tắc nào ràng buộc, án lệ ở Pháp chỉ hình thành từ các vụ tranh chấp (contentieux) chứ không từ các việc dân sự (affaire grâcieuse).

Theo quan niệm của người Anh, án lệ có tính ràng buộc[3]. Một khi được ghi nhận trong một bản án được tuyên bởi một toà án có thẩm quyền, một cách giải quyết vấn đề pháp lý nào đó trở thành một tiền lệ (precedent) mà bất kỳ ai cũng có thể viện dẫn để đòi hỏi thẩm phán cùng cấp hoặc cấp dưới phải xử vụ việc tương tự theo cùng một cách. Quyền viện dẫn án lệ được cho là xuất phát từ Lẽ công bằng (Equity) ràng buộc người cầm cân nảy mực theo quy tắc “tiền lệ phải được tôn trọng” – stare decisis: một người đã được hưởng cách xét xử như thế, thì không lý do gì người khác không được hưởng cùng một cách xét xử trong trường hợp tương tự.

Continue reading

KỸ NĂNG ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CỤ THỂ

THS.LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Trong bối cảnh toàn cầu hóa dẫn tới xu hướng giao thoa giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới, trong đó các quốc gia có truyền thống dân luật (Civil Law) ngày càng coi trọng vai trò của án lệ trong việc xét xử tại Tòa án. Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó, án lệ từ chỗ chỉ là chủ để nghiên cứu trao đổi của các nhà luật học trong nước thì nay đã trở thành vấn đề mới trong cải cách hệ thống pháp luật ở nước ta.

Thuật ngữ “án lệ” lần đầu tiên xuất hiện trong chính sách của Đảng tại Nghị quyết số 48/2005/-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, theo đó một trong những giải pháp về xây dựng pháp luật Việt Nam là “Nghiên cứu về khả năng khai thác và sử dụng án lệ, tập quán, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Sau hơn mười năm, đến năm 2016 thì lần đầu tiên mười án lệ được công bố, theo đó: các quyết định, bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về một vụ việc cụ thể có chứa đựng các lập luận để giải thích về các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra các nguyên tắc hoặc quy phạm pháp luật cần áp dụng trong việc giải quyết vụ việc đó sẽ được áp dụng nhằm bảo đảm các vụ án giống nhau phải được xét xử và phán quyết như nhau. Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ trong các quan hệ dân sự cụ thể hiện còn quá mới mẻ đối với thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, luật sư và những người tham gia tố tụng khác nên việc nghiên cứu, phổ biến, đào tạo, hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng áp dụng án lệ là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Nguyên tác áp dụng án lệ theo pháp luật Việt Nam

Liên quan đến án lệ hiện nay được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, do vậy để áp dụng án lệ một cách chính xác, hiệu quả cần phải hệ thống hóa và hiểu rõ nguyên tắc chung khi áp dụng án lệ, cụ thể:

Continue reading

QUY CHẾ TỔ CHỨC PHIÊN TÒA–BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ SỐ 02/2017/TT-TANDTC NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

1. Quy chế tổ chức phiên tòa này quy định về nguyên tắc tổ chức phiên tòa, nội quy phòng xử án, việc bảo vệ phiên tòa và thực hiện các quyết định của Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.

2. Quy chế tổ chức phiên tòa này được áp dụng đối với các phiên tòa, phiên họp trong quá trình Tòa án xét xử vụ án hình sự, hành chính; xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, phá sản; xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức phiên tòa

1. Phiên tòa phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm và thành phần những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp hoãn phiên tòa thì thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa phải ghi rõ trong giấy báo mở lại phiên tòa.

2. Phiên tòa được tổ chức công khai, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự, bị cáo thì Tòa án có thể xét xử kín.

3. Việc tổ chức phiên tòa phải bảo đảm các yêu cầu về an ninh, trật tự, sự tôn nghiêm của Tòa án; bảo đảm cho việc xét xử được tiến hành bình đẳng, dân chủ, nghiêm minh, khách quan, đúng pháp luật; góp phần tuyên truyền, giáo dục công dân chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của đời sống xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.

Continue reading

QUY ĐỊNH XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 120/QĐ-TANDTC NGÀY 19 THÁNG 6 NĂM 2017 CỦA CHÁNH ÁN TOÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật.

2. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và người giữ chức danh tư pháp trong các Tòa án quân sự.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án (sau đây gọi là người giữ chức danh tư pháp).

2. Người đứng đầu là người giữ chức vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân bao gồm: Vụ trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện.

3. Bản án, quyết định do Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán là những bản án, quyết định bị hủy, sửa nhưng không thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do phát sinh tình tiết mới của vụ, việc mà quá trình giải quyết, xét xử Thẩm phán không thể biết;

Continue reading

VỀ TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

TS. NGÔ QUỐC CHIẾN & ĐỖ VIẾT ANH THÁI

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, trong đó, các bên thống nhất trao cho một hoặc một số trọng tài viên giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại của mình. Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên trao cho các nước thành viên quy định thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định/phán quyết trọng tài ở nước mình. Một nghiên cứu cho thấy “các quốc gia thành viên quy định rất khác nhau về thủ tục thi hành một quyết định trọng tài thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Sự thống nhất về vấn đề này dường như chỉ là mong muốn chứ không khả thi”[1].

Tại Việt Nam, tỷ lệ các phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành trong thời gian vừa qua là rất thấp[2] do các bất cập trong các quy định của BLTTDS 2004. Nếu so với các nước là thành viên của công ước thì tỷ lệ không công nhận ở Việt Nam là cao một cách bất thường[3]. Để khắc phục tình trạng này, BLTTDS 2015[4] đã có những thay đổi quan trọng theo hướng tạo thuận lợi hơn cho việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Nhiều quy định trong BLTTDS đã gần gũi hơn với Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng Bộ luật vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những điểm bất cập của liên quan đến các quy định về tạm đình chỉ và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: